Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân - Pdf 37

BÀI THẢO LUẬN

ề Tài: NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂ
DÂN



LỜI MỞ ĐẦU
      
Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới đối với nước ta- kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Cách mạng tháng Tám thành công đã xóa bỏ chính quyền thực dân phong kiến, lập ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, là
Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Những ngày đầu thành lập nước, Đảng và nhân dân ta đứng trước bao khó khăn chồng chất, phải chiến thắng giặc đói, giặc
dốt và nhất là giặc ngoại xâm. Để xây dựng và củng cố bộ máy Nhà nước, bảo vệ thành quả cách mạng, chỉ 11 ngày sau khi Hồ Chủ
Tịch đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - ngày 13/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký và ban
hành sắc lệnh số 33c/SL thiết lập các Tòa án quân sự trên toàn lãnh thổ Việt Nam với nhiệm vụ “xét xử tất cả những người nào
phạm vào một việc gì đó có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Đó là mốc son đánh dấu sự ra đời
của ngành Tòa án Việt Nam.


Hệ thống Tòa án Việt Nam ra đời ngay sau khi Nhà nước ta ra đời và từng bước hoàn thiện trong
thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và trong thời kỳ
đổi mới hiện nay. Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống Tòa án Việt Nam gắn liền với lịch sử
xây dựng, củng cố và hoàn thiện bộ máy Nhà nước ta nói chung, các cơ quan tư pháp nói riêng. Cho
đến nay, ngành Tòa án Việt Nam bao gồm hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức từ Trung ương
đến cấp huyện và hệ thống Tòa án quân sự từ Tòa án quân sự Trung ương đến các Tòa án quân sự
khu vực.


NỘI DUNG
CHƯƠNG I: QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH TOÀ ÁN NHÂN DÂN

theo đề nghị của hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Tòa án quân sự cấp quân khu, Thẩm phán Tòa án quân sự khu vực.
Với quy định này của Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân đã quy định tại khoản 3, điều 40 là: “Thẩm phán các Tòa án nhân dân địa phương,
Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực do Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề
nghị của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán”. Như vậy theo quy định trên thì Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao chỉ có thẩm quyền bổ nhiệm Thẩm
phán Tòa án nhân dân địa phương.


Điều 31
1. Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Chánh án, Phó Chánh án Toà án quân sự trung ương do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn
nhiệm, cách chức theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
2. Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân địa phương do Chánh án Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân địa phương cùng cấp.
3. Chánh án, Phó Chánh án Toà án quân sự cấp quân khu, Toà án quân sự khu vực do Chánh án Toà án nhân dân tối cao bổ
nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
4. Trước khi đề nghị Chủ tịch nước, Chánh án Toà án nhân dân tối cao cách chức các chức vụ Chánh án, Phó Chánh án theo quy
định tại khoản 1, khoản 2 hoặc khoản 3 của Điều này, nếu người đó thuộc một trong các trường hợp có thể bị cách chức chức danh
Thẩm phán thì phải có ý kiến của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán có thẩm quyền tuyển chọn Thẩm phán đó.
5. Nhiệm kỳ của Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân địa phương, Toà án quân sự là
năm năm, kể từ ngày được bổ nhiệm.
Nhiệm kì của Thẩm phán là 5 năm, kể từ ngày được bổ nhiệm


4.1.2 Thực hiện, chế độ bầu Hội thẩm nhân dân và cử Hội thẩm
quân nhân

Điều 38 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân
1. Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và do Hội
đồng nhân dân cùng cấp miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân cùng cấp sau khi thống nhất với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
2. Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự cấp quân khu do Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị quân
khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương và do Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của

gốcluật
4.3. Khi
Thẩm
phán
và Hội
chỉ tuân
theolàm
pháp

Thời
nàotắc
cũng
gia hưng
thịnh,chế
cácxãnhà
đạo phải
dựađảm
vàobảo
nhân
lấy quan
dân làm
gốc,
Nguyên
nàyvậy,
bắt muốn
nguồn quốc
từ nguyên
tắc pháp
hội lãnh
chủ nghĩa,

phán
thẩm
trên
cở sở
nghiên
cứu hồdân.
sơ vụ án để xác định chứng cứ, quy phạm pháp luật cần áp dụng để có quyết định cụ
Mạnh
đãhợp,
có câu
nói lịch
“Dân
đếncủa
xã bất
tắc,cứ
vua
xemtổnhẹ”.
cũng nào.
có câu nói
thể
choTử
phù
không
phụ sử:
thuộc
vàolàý quý,
muốnsau
chủmới
quan
cơthì

được
điểm hết sức quan trọng là: “Dân là gốc nước, gốc vững, nước yên” . Chủ tịch Hồ Chí Minh của
để
áp một
dụng.
chúng
ta cũng
có cũng
quanđộc
điểm
tự như
gia,theo
khi các
Người
“Trong
trời
không
có đốc
gì quý
hơnhoặc
bằngtái thẩm. Các Hội đồng xét xử phải tự
Giữa các
Tòa án
lậptương
với nhau
khiNho
xét xử
thủnói:
tục sơ
thẩm,bầu

trước
đó.gốc của Người đã vượt qua những hạn chế còn tồn tai trong tư tưởng Nho giáo phong kiến.
Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm phải tuân thủ pháp luật, phải dựa vào các quy định của pháp luật để giải quyết các vụ án chứ không được tùy
tiện, chủ quan trong việc áp dụng pháp luật.
Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm không bị ràng buộc bởi kết luận của Viện kiểm sát, không bị chi phối bởi ý kiến của nhau. Thẩm phán, Hội thẩm
phải chịu trách nhiệm đối với ý kiến của mình về từng vấn đề của vụ án.


4.4. Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số

Hội đồng xét xử các vụ án phải có ít nhất là 3 người do Chánh án Tòa án quyết định. Trong hội đồng xét xử có một thẩm phán
được Chánh án cử làm chủ tọa phiên tòa. Các bản án, quyết định của Tòa án phải được đa số các thành viên của Hội đồng xét
xử biểu quyết tán thành.
Tòa án xét xử tập thể có nghĩa là việc xét xử bất cứ một vu án nào, trình tự nào cũng do một Hội đồng thực hiện. Thành phần
hội đồng xét xử ở mỗi cấp xét xử đối với từng loại vụ án được qui định tại các điều tương ứng của Luật Tố tụng, cụ thể như
sau:
Đối với vụ án Hình sự:
+Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm;
+ Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm;
+ Thành phần Hội đồng Giám đốc thẩm, tái thẩm.
Đối với vụ án Dân sự (các vụ tranh chấp về Dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động):
+ Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm
+ Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm
+ Thành phần Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm.


Đối với vụ án hành chính:
+ Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm;
+ Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm;
+ Thành phần Hội đồng Giám đốc thẩm, tái thẩm

Hiến pháp 1992, Điều 131: “Tòa án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp Luật định”.
Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự (năm 2003) đã cụ thể hóa tư tưởng này tại Điều 18: Xét xử công khai “Việc xét xử của Tòa án được tiến
hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do Bộ luật này qui định.
Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính
đáng của họ thì Tòa án xét xử kín, nhưng phải tuyên án công khai.”


4.6. Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật
Cần nắm vững nguyên tắc chung là tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công
dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn
giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp
luật (Điều 5 BLTTHS).Cần nắm vững nguyên tắc xử lý quy định tại Điều 3 BLHS. Mọi
người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín
ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội.


4.7. Tòa án bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ và lợi ích hợp pháp của đương sự

Điều 132 hiến phấp 1992
Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình.Tổ chức luật sư
được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế xã
hội chủ nghĩa.
Quyền có NBC của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không thể được bảo đảm nếu cơ quan tiến hành tố tụng (THTT), người
THTT không nhận thức đúng nội dung, ý nghĩa và tầm quan trọng của nó. Cơ quan THTT, người THTT là những chủ thể trực
tiếp thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật nhằm thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ làm sáng tỏ các
yếu tố của đối tượng chứng minh và tiến hành giải quyết vụ án trong phạm vi quyền hạn của mình.


Nghị quyết Hội nghị Trung ương III Khoá VIII của Ban Chấp hành trung ương Đảng nêu rõ:
“Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt

trong trường hợp họ không biết tiếng Viêt . Với việc quy định như thế , các nhà làm luật muốn bảo đảm hai nguyên tắc :
Một là,đảm bảo cho những người tham gia tố tụng dễ dàng trình bày quan điêm của mình trong quá trình tham gia tố tụng , bởi vì
một khi họ không biết và không hiểu tiếng Việt thì việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng .
Hai là ,đảm bảo nguyên tắc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc.
Việc xét xử tại tòa án là một quá trình , trong đó việc thẩm vấn tại phiên tòa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để xác định lại chứng
cứ , làm sang to nguyên nhân vi phạm phap luật ,các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ … làm cơ sở cho việc đưa ra một quyết định
đúng đắng . Chính vì vậy những câu hỏi , câu trả lời của những người tham gia tố tụng phải rõ ràng . Để thực hiện được điều đó thì
những người này cần phải sử dụng tiếng nói , chữ viết của dân tộc mình .Do đó , trong những trường hợp cần thiết Tòa án phải cử
người phiên dịch . Mọi chi phí liên quan đến việc cử người phiên dịch được trích từ ngân sách .


4.9. Nguyên tắc tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử
Ngay từ khi nước ta vừa giành được độc lập, ngày 24/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức Tòa án và
các ngạch thẩm phán, trong đó đã ghi nhận nguyên tắc “Tòa án thực hiện hai cấp xét xử”. Đến nay, nguyên tắc này vẫn được ghi
nhận tại Điều 11 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002. Và Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa VIII đã chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động xét xử của Tòa án: “Thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, đổi mới
thủ tục giám đốc thẩm để đảm bảo việc xét xử vừa đúng đắn, vừa nhanh chóng.”
Hiện nay, trong pháp luật quốc tế cũng như các quốc gia đều thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử. Tức vụ án mà bản án hoặc
quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn định luật được Toà án cấp trên
trực tiếp xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Còn các bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật được xem xét lại theo thủ
tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.


Nguyên tắc hai cấp xét xử được thực hiện bằng cách tổ chức hệ thống Toà án và các thủ tục tố tụng cụ thể. Các nước thuộc hệ thống pháp luật lục địa
(legal law) hay các nước thuộc hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa hệ thống Toà án được tổ chức theo một trong các nguyên tắc nhất định là:
+ Theo đơn vị hành chính lãnh thổ gồm Toà án tối cao và Toà án địa phương. Về phần mình, tuỳ theo đặc điểm lãnh thổ và dân cư mà các Toà án địa
phương lại được tổ chức thành hai cấp (Toà án cấp tỉnh, Toà án cấp huyện) hoặc ba cấp (Toà án cấp tỉnh, Toà án cấp liên huyện và Toà án cấp huyện).
Theo cách tổ chức này, một Toà án có thể thực hiện các chức năng xét xử khác nhau; Toà án tối cao, Toà án cấp tỉnh vừa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và
giám đốc thẩm; còn Toà án cấp huyện chỉ xét xử sơ thẩm. Cách tổ chức này đặc trưng cho các nước theo hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa;
+ Theo cấp xét xử gồm Toà án tối cao (Toà án phá án), các Toà án phúc thẩm và các toà sơ thẩm (Toà án vi cảnh, Toà án tiểu hình, Toà án đại hình).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status