tiểu luận những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến văn hóa từ chức ở việt nam - Pdf 37

MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong quá trình phát triển và kiện toàn hệ thống chính trị, các tổ
chức của hệ thống chính trị mà đặc biệt là nguồn nhân lực làm việc trong các tổ
chức đó có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của thể chế chính trị và
có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển, hưng thịnh của từng quốc gia.
Ở Việt Nam, hệ thống chính trị đã sớm hình thành và hoàn thiện cùng với
quá trình phát triển của đất nước, và với tính cách là một hệ thống chính trị cách
mạng, các tổ chức trong hệ thống chính trị như Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội
chủ nghĩa, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội luôn được nâng
cao chất lượng hoạt động, gắn kết trong một hệ thống vững chắc nhằm thúc đẩy
phát triển sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh vì lợi ích toàn dân.
Kể từ khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới - phát triển nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các mặt kinh tế - xã hội của nước ta đã
có những bước tiến đáng kể, đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Tuy
nhiên, bên cạnh những thành quả mà chúng ta gặt hái được, thì những tác động
mặt trái của cơ chế thị trường cũng lấy đi của chúng ta không ít: đó là sự tha
hóa, biến chất, vụ lợi, và đâu đó người ta không nhìn thấy "lương tri " và sự
"minh bạch" của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên....Từ những điều
không mong muốn ấy đã làm rơi vãi ít nhiều niềm tin của quần chúng, của nhân
dân vào Đảng, vào những cán bộ, đảng viên liêm khiết, trong sạch đang hàng
ngày, hàng giờ đóng góp sức lực của mình vì một xã hội Việt Nam dân giàu,
nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
Từ sự " không minh bạch" của một số cán bộ, đảng viên khi nhân dân bàn
tán, báo chí lên tiếng, đồng nghiệp nghi ngờ...nhưng người cán bộ, người đảng
viên ấy " một thời đã từng nuôi mộng sẽ cống hiến hết sức lực của mình cho sự
phát triển chung của xã hội" - nay " vì một nghìn lẻ một lý do" cứ không chịu rời
khỏi vị trí mà Đảng và nhân dân đã từng tin tưởng giao phó. Đó cũng chính là
những lý do mà rất rất nhiều người dân Việt Nam và trong đó có cả những "
1



NXB Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1997, tác giả cho rằng: Văn hóa – vô
sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những
sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con
người nơi đó có văn hóa.
Như vậy có thể hiểu: Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được
tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính
văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật
4


tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá
trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và
tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và
của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành
động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người
tạo ra.
1.1.2 Văn hóa từ chức
Nói về văn hóa chức tức là nói về văn hoá chính trị. Khi thấy mình có
thiếu sót, khuyết điểm, hay nói cách khác là không còn xứng đáng đảm nhận
được nhiệm vụ thì nên từ chức. Hiện tượng từ chức chỉ có thể xảy ra ở người có
chức quyền, không làm tròn chức trách, có lòng tự trọng và biết xấu hổ. Người
có lòng tự trọng và biết xấu hổ chính là người có văn hóa.
Như vậy văn hóa từ chức được hiểu là tự nguyện xin thôi không làm chức
vụ hiện đang giữ. Như vậy từ chức chỉ có thể xảy ra ở những người có chức, có
quyền. Từ chức một cách tự nguyện, tự giác là thái độ trung thực với chính
mình, biết xấu hổ khi làm điều trái với đạo lý, đi ngược lại với nguyện vọng của
cơ quan, tổ chức và cộng đồng, là biểu hiện của sự cao thượng, dũng cảm, tự
trọng.
1.2 Văn hóa từ chức ở một số nước trên thế giới.
Ở các nước phát triển, từ chức là văn hóa hành xử của những người có

Ở nước Mỹ như tổng thống Mỹ Richard Nixon đã tự nguyện từ chức;
Tháng 6-2012 Bộ trưởng Thương mại Mỹ John Bryson đã đệ đơn xin từ chức
lên Tổng thống Mỹ Barack Obama. Ông đưa ra quyết định này sau khi xảy ra vụ
tai nạn ôtô liên hoàn ở California hồi đầu tháng mặc dù vụ tai nạn này không có
bất cứ một nạn nhân nào ngoài chính “thủ phạm”; Ông Bryson ý thức khó hoàn
thành tốt công việc khi sức khỏe không đảm bảo vì vậy cần phải để cho những
người có sức khỏe hơn, năng lực để gánh trên vai trọng trách của quốc gia. Có
thể nói nước Mỹ là là một nước có nền Pháp trị trên nền tảng của tự do và dân
chủ tối đa hàng trăm năm mới có những vị Tổng thống vĩ đại cả về tâm lẫn tầm
để làm nên một nước Mỹ như ngày hôm nay.
6


Trong các trường hợp đó, tất cả đều cùng chung một quan điểm: Nếu
không đảm đương được công việc hoặc để xảy ra những hậu quả, làm mất lòng
dân thì vì lợi ích của người dân và cũng vì lòng tự trọng của một người đã được
tin tưởng, họ sẵn sàng từ chức. Cũng người từ chức vì nhận thấy rằng sự việc
đáng tiếc xảy ra, dù chỉ liên quan một phần rất nhỏ, nhưng mình phải chịu trách
nhiệm với tư cách lãnh đạo cao nhất. Từ chức dù không phải là việc làm dễ dàng
nhưng đối với họ là cần thiết và nên làm. Nó đã trở thành một nét văn hóa trong
đời sống chính trị tại nhiều nước.
1.3 Văn hóa từ chức ở Việt Nam.
Văn hóa từ chức ở Việt Nam là một thuật ngữ khá mới mẻ, và được nhiều
người nhắc đến, quan tâm đến trong thời gian gần đây. Nói về văn hóa từ chức
tức là nói về văn hoá chính trị. Khi thấy mình có thiếu sót, khuyết điểm, hay nói
cách khác là không còn xứng đáng đảm nhận được nhiệm vụ thì nên từ chức.
Hành động đó được đánh giá cao vì nó thể hiện tự trọng cá nhân, sự tự ý thức về
trách nhiệm cá nhân của những người xin từ chức. Để có một xã hội thực sự tốt
đẹp thì danh dự, lòng tự trọng cần phải luôn được đặt ở vị trí cao nhất trong
thang giá trị làm người. Bởi vậy, những hành động ấy rất đáng được tôn trọng.

việc rất khó, rất phức tạp, vì nó liên quan đến xây dựng tổ chức, xây dựng con
người, là công tác con người, dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của
con người. Khó nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến sinh mệnh của
Đảng và sự tồn vong của chế độ".
Từ chức chỉ nên được xem là một cử chỉ có văn hóa khi người ta tự
nguyện. Nhưng với những quan chức nhà nước không “phát huy tinh thần tự
nguyện” thì lại cần được xem xét văn hóa từ chức tại vị trí cận đáy của nó. Đơn
giản là ở Việt Nam, theo một “truyền thống” khó di dời về bản chất, hầu hết các
trường hợp bị cho thôi chức, miễn nhiệm đều trong tình trạng đang ở “đỉnh”. Cái
đỉnh đó, theo quan niệm thường thấy của người đời, được cấu thành từ quyền
lợi, bổng lộc cá nhân."
CHƯƠNG II: NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC ĐẾN VĂN
HÓA TỪ CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

9


2.1 Những yếu tố về truyền thống.
2.1.1 Đặc điểm văn hóa truyền thống( văn hóa dân tộc)
Việt Nam là một nước có truyền thống văn hóa lâu đời, mang
những nét đặc trưng của văn hóa nông nghiệp lúa nước, tự cấp, tự túc. Trong
quá trình phát triển văn hóa Việt Nam đã có sự giao thoa, tiếp biến với những
nền văn hóa bên ngoài như Trung Hoa, Ấn Độ, Pháp, Nga, Hoa Kỳ...Văn hóa
Việt Nam đã tiếp thu những tiến bộ từ bên ngoài, đồng thời vẫn giữ gìn và phát
huy được bản sắc văn hóa của mình.
Theo GS.TS Lê Văn Quán( 2007), văn hóa Việt Nam mang những đặc
điểm cơ bản của văn hóa truyền thống phương Đông.
-Cội nguồn văn hóa: là nền văn hóa gốc nông nghiệp.
- Môi trường sống: xứ nóng( nhiều mưa)
- Lối sống chủ yếu: trồng trọt, định cư, trọng tĩnh, hướng nội, khép kín.

nhà đóng cửa bảo nhau"...Đã ảnh hưởng trực tiếp đến văn hóa từ chức" dám
làm, dám nhận".
Người Việt Nam vốn coi trọng tính cộng đồng, tính tập thể, coi trọng văn
hóa " phòng cơ, tích cốc" nên khi đông nghiệp phạm phải những sai lầm nhiều
khi rất nghiêm trọng nhưng cả tập thể sẽ "nhiệt tình" bảo vệ để tránh tiền lệ
người đi trước thế nào, người đi sau phải làm theo như vậy. Tinh thần đoàn kết,
tương thân, tương ái của dân tộc ta đã giúp chúng ta chiến thắng được những kẻ
thù lớn mạnh hơn mình rất nhiều lần, nhưng phải chăng ngày nay chúng ta đã
vận dụng quá " sáng tạo" trong mọi trường hợp, và khi đã nói đến "quá" thì cho
dù có là những điều tốt nhất cũng trở nên tầm thường, nếu không muốn nói là tệ
hại - ít nhất điều đó đúng với văn hóa từ chức ở Việt Nam hiện nay.
12


2.2. Những yếu tố dư luận xã hội.
2.2.1 Một số đặc điểm của dư luận xã hội.
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về dư luận xã hội( hay công luận xã
hội). Theo các nhà nghiên cứu dư luận xã hội Liên Xô( cũ ) định nghĩa dư luận
xã hội là sự phán xét, đánh giá của các giai cấp, tầng lớp, cộng đồng xã hội đối
với các vấn đề mà họ quan tâm. Nhiều nhà nghiên cứu Mỹ cũng đưa ra định
nghĩa tương tự, như "công luận là sự phán xét, đánh giá của các cộng đồng xã
hội đối với các vấn đề quan trọng có tầm quan trọng, được hình thành sau khi có
sự tranh luận công khai"
Như vậy có thể hiểu: Dư luận là hiện tượng tâm lý bắt nguồn từ một nhóm
người, biểu hiện bằng những phán đoán bình luân về một vấn đề nào đó kèm
theo thái độ, cảm xúc và sự đánh giá nhất định, được truyền từ người này đến
người khác này sang nhóm khác, nó có thể được truyền đi một cách tự phát hoặc
tạo ra một cách cố ý. Nếu được lan truyền rộng rãi và lặp lại thì trở thành dư
luận xã hội.
Dư luận có mặt tích cực và tiêu cực dựa vào các nguồn tin mà nó được

nhắc tới rất nhiều là cần phải có "văn hóa từ chức". Đó là những ai, những cán
bộ Nhà nước nào nếu trong thời gian dài không hoàn thành tốt công việc được
giao phó cần nhìn nhận rõ và đủ trách nhiệm cá nhân của mình và nên tự nguyện
từ chức, để người khác lên làm thay và nhất là để công việc chung tiến triển tốt
hơn.
Tuy nhiên, một vấn đề chúng ta nhìn thấy hiện nay là: Nhiều dẫn chứng
thường được đưa ra, chẳng hạn ở các nước phát triển, một quan chức dù ở cương
vị rất cao, nếu bản thân hoặc nhân viên dưới quyền hay cơ quan mình phụ trách
bị phát hiện làm không đúng chức năng hoặc không hoàn thành nhiệm vụ thì
thường phải nhận trách nhiệm về mình và từ chức khi thấy cần thiết. Còn ở ta,
những việc như vậy hiện khá hiếm. Chúng ta cũng thấy rằng ở các nước kể trên,
14


những quan chức sau khi từ chức (hoặc sau khi hết nhiệm kỳ hay khi một chính
phủ mới được thành lập sau một cuộc bầu cử) thường trở lại công việc trước kia
của mình (kinh doanh, hoạt động chính trị-xã hội, văn hóa-nghệ thuật hay giảng
dạy...). Tất nhiên cũng có nhiều người bắt tay vào làm những việc mới dựa vào
mối quan hệ được tạo dựng, các kinh nghiệm thu được trên chính trường, trong
quản lý công... Trong mọi trường hợp, họ vẫn thường có "công ăn việc làm"
đàng hoàng, và nhiều người vẫn có thể quay lại hoạt động chính trường, tham
gia chính phủ... khi thời cơ đến.
Ở Việt Nam ta, xuất phát từ tiền lệ ít người đi trước từ chức nên dư luận
xã hội chưa được định hướng để đồng tình hay ủng hộ việc tự nguyện từ chức.
Những quan chức mất chức (hoặc từ chức) vì nhiều lý do thường không tiếp tục
làm việc, hoạt động nữa; cuộc sống thường ngày của họ và gia đình cũng bị ảnh
hưởng. Trong một thời gian khá dài, dư luận xã hội thường quen nhìn một chiều
và hay có những đánh giá thái quá. Ca ngợi hay phê phán thường là đơn giản
một chiều, chỉ là hoặc tốt hoặc xấu. Khi khen thì khen hết lời, cái gì cũng ngợi
ca là tốt là đẹp. Khi chê thì cũng "nhiệt tình" chẳng kém, phê phán dìm xuống

Vì một số lý do như vậy nên trong đôi khi xuất hiện tâm lý ai cũng có thể
mắc sai lầm, cũng có thể mắc khuyết điểm trong quá trình làm việc. Vì vậy
không có lý do gì một ai đó phải nộp đơn xin thôi việc, xin từ chức cả, nếu có
lỗi, thì người ta cũng coi đó là lỗi của tổ chức khi đã không sắp xếp đúng người,
đúng việc.
2.3.2 1 Những thủ tục pháp luật có thể ảnh hưởng tiêu cực của đến văn
hóa từ chức ở Việt Nam hiện nay.
Một khía cạnh khác có thể làm nản lòng bất cứ ai muốn từ chức, đó là thủ
tục. Nhiều khi anh cũng muốn từ chức, nhưng thủ tục miễn nhiệm phức tạp đến
độ anh không còn muốn từ chức nữa. Một bộ trưởng muốn từ chức sẽ phải trải
qua rất nhiều vòng xem xét, phê chuẩn, có khi còn phải trình ra Quốc hội bỏ
phiếu miễn nhiệm… Như vậy quá nặng nề và quá mất thời gian, khiến ngay cả
16


người có thiện chí xin từ chức cũng ngại. Thêm vào đó, quan chức của Việt
Nam lên chức cao thường là do Đảng phân công, nếu từ chức thì cũng có nghĩa
là chối bỏ sự phân công.
Hiện nay theo quy định của luật cán bộ công chức, viên chức và luật bảo
hiểm xã hội, người muốn về hưu nam phải đủ 60 tuổi, nữ phải đủ 55 tuổi, ngoài
ra thời gian đóng bảo hiểm xã hội trên 20 năm, chính những quy định ràng buộc
như vậy, nên những người có ý định từ chức muốn về hưu nhưng không đủ độ
tuổi nghỉ hưu, do vậy không làm đơn xin từ chức.
Trong một xã hội chưa thật sự có cái nhìn thiện cảm với những cán bộ từ
chức, kết hợp thêm những thủ tục xin từ chức quá rườm rà chắc hẳn sẽ có rất
nhiều cán bộ " cố đấm ăn xôi" còn hơn xin từ chức.
2.4 Những yếu tố về kinh tế
2.4.1 Một số cách nhìn về " kinh tế"
Theo các nhà kinh tế học, thì "kinh tế" là tổng hòa các mối quan hệ tương
tác lẫn nhau của con người và xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao

được số vốn đã chi ra.

KẾT LUẬN
Như vậy có thể thấy văn hóa từ chức ở Việt Nam đã có nhưng chưa phổ
biến. Có rất nhiều lý do khiến cho văn hóa từ chức ở Việt Nam bị kéo chậm lại,
trong đó có những yếu tố nội tai xuất phát từ bản thân người cán bộ( năng lực,
18


phẩm chất, lòng tự trọng, tâm lý...), và cả những yếu tố khách quan do xã hội
mang lại( do truyền thống dân tộc, do nạn mua quan bán chức, do sự khắt khe
của dư luận xã hội...). Nhưng vượt qua được tất cả những thứ đó, trong lịch sử
nước ta đã và đang có những cán bộ dám đúng lên nhận khuyết điểm, xin từ
chức và dám đấu tranh để làm nảy nở, phát triển văn hóa từ chức - một nét đẹp
trong văn hóa chính trị mà ở các nước văn minh đã có từ rất lâu.
Ngày nay, nếu muốn văn hóa từ chức ở nước ta được phát triển và trở
nên phổ biến hơn, cần có sự chung tay, chung sức, chung lòng của cán bộ, đảng
viên và toàn thể nhân dân. Mỗi người cần nhìn thấy bản thân mình có tránh
nhiệm để xây dựng và phát triến và phổ biến nét đẹp văn hóa này như: Nhà
nước cần xây dựng những căn cứ pháp lý làm sao để thuận tiện và đảm bảo
được những lợi ích chính đáng cho cán bộ, đảng viên khi họ dũng cảm từ
chức...các cán bộ, đảng viên cần luôn luôn học hỏi và rèn luyện theo lời bác căn
dặn cán bộ, đảng viên: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư... Đối với nhân dân
nên nhìn những cán bộ từ chức đã dám nhận khuyết điểm và tụ nguyện từ chức
với cái nhìn thiện cảm hơn...có như vậy, văn hóa từ chức ở Việt Nam mới phát
triển, và trở nên phổ biến hơn.

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG

2. Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn hóa thông tin Hà Nội;

20


3. Những tuyên bố về chính sách văn hóa, Hội nghị Quốc tế do UNESCO chủ trì
từ 26/7 đến 06/8/1982 tại Mehico;
4. Giáo trình Tâm lý học xã hôi. Khoa Tâm lý - Giáo dục, ĐHSP Thái Nguyên
2009.
5. Tâm lý học đại cương, Nxb. Giao dục Hà Nội 2009.
6. Đảng cộng sản Việt Nam( 2011) - Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ XI, Nxb
Chính trị quốc gia - sự thật.
7. Đảng cộng sản Việt Nam(1991) văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII
8.
9. http: //lao động.com.vn.
10.
11. http://vietbao. Com.vn
12. www.doisongphapluat.com.vn
13.
14.

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status