Trình bày những đặc trưng tư tưởng của thiền phái trúc lâm trong quá trình phát triển phật giáo đại việt đời trần - Pdf 31

TRÌNH BÀY NHỮNG ĐẶC TRƯNG
TƯ TƯỞNG CỦA THIỀN PHÁI
TRÚC LÂM TRONG QUÁ TRÌNH
PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO ĐẠI
VIỆT ĐỜI TRẦN

Bài thi giữa học kỳ 6 năm thứ 3
MÔN LỊCH SỬ TÔNG PHÁI PHẬT GIÁO VN

Sinh viên Nguyễn Quý Hoàng
Mã số sinh viên DTTX 1087

GV hướng dẫn TT TS. Thích Phước Đạt

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HCM
2012


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN


Dàn bài

Chương 1 Dẫn nhập
1. Ý nghĩa & lý do chọn đề tài
2. Giới hạn đề tài và phương pháp nghiên cứu
3. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Chương 2 Nội dung tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm
1. Sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm
2. Các tư tưởng cơ bản của Thiền phái Trúc Lâm
2.1 Phật tại tâm


2. Giới hạn đề tài và phương pháp nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một bài tiểu luận ngắn nên người viết chỉ sử dụng phương pháp
chính là phân tích, nhận xét và đánh giá các tư tưởng đặc trưng của Thiền phái, và sẽ
không đi quá sâu vào từng đề mục, việc phân tích kĩ hơn sẽ được nghiên cứu trong các
bài luận văn mang tính chuyên sâu.

3. Tình hình nghiên cứu về Thiền phái Trúc Lâm
Tại Việt Nam cũng có nhiều tài liệu và bài viết liên quan đến Thiền phái Trúc Lâm
như:
- TS. Thích Phước Đạt- Tinh thần nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm trong việc
Xây dựng và phát triển đất nước ( />- TS. Thích Phước Đạt- Lịch sử truyền thừa Thiền phái Trúc Lâm 2006
- TS. Thích Phước Đạt- Phương thức hành thiền tu chứng của Thiền phái Trúc
Lâm 2008
- TS. Thích Phước Đạt- Tìm hiểu giá trị “ Cư trần lạc đạo phú” của Trần Nhân
Tông
- Thích Nhất Hạnh- Trái tim của Trúc Lâm Đại sĩ, phân tích bài Cư trần lạc đạo,
NXB Phương Đông 2009


-

Thích Nhật Quang- Mùa xuân Vân Yên, phân tích Vịnh Vân Yên tự phú của
Thiền sư Huyền Quang
Thích Thanh Từ- Tinh hoa trí tuệ của Phật hoàng Trần Nhân Tông
()
PGS. TS. Trần Lê Bảo- Thiền phái Trúc Lâm Yên tử
( />
-


phật” nghĩa là lắng lòng mà hiểu, đó là chân Phật hay “Phật vơ nam bắc” của Trần
Thái Tơng, ơng cho rằng cái thực tại siêu nhiên ấy làm đối tượng khơng phải chỉ cho
suy tưởng mà chính là đối tượng để sống thực hiện cả trong tư tưởng lẫn ngồi hành
động. Cái thực tại ấy chính là Phật tính, tuy nó khơng lệ thuộc vào điều kiện thời gian
và khơng gian, siêu việt lên trên, mà mặt khác nó cũng đồng thời tiềm tàng linh động
trong thiên hình vạn trạng của vũ trụ sự vật, biến hố khơng ngừng. Vì bản thể chung
của nhân loại, còn gọi là Phật tính “ bình đẳng cho mỗi người có thể tự tu sửa để tìm
cầu. Hơn nữa, Thiền Tơng cũng bắt nguồn từ bản nhiên thanh tịnh của mỗi người, mà
đã là con người thì bất cứ ở thời nào hay ở đâu cũng đều có tính bản nhiên thanh tịnh
ấy. Do đó ở đâu có con ngưới thì ở đó có nguồn gốc của Thiền, của giác ngộ, tức là
Phật. Quan điểm Phật ở lòng được xác định rất rạch ròi, rồi nó sẽ chi phối tồn bộ lịch
sử tư tưởng Việt Nam và Phật giáo Việt Nam về sau. Tiêu biểu là lời xác định của vua
Trần Nhân Tơng trong cư trần lạc đạo phú:


Bụt ở trong nhà
Chẳng phải tìm xa.

2.2 Chủ thuyết cư trần lạc đạo
Tư tưởng chủ đạo của Phật giáo Trúc Lâm là “cư trần lạc đạo”, “tức tâm tức
Phật”. Quan niệm này đã có mặt từ thời vua Trần Thái Tông, khi nhà vua bỏ
ngai vàng vào núi để tìm Đạo và được Quốc sư Viên Chứng thức tỉnh: “Trong
núi vốn không có Phật. Phật chỉ có ở trong tâm. Tâm lặng mà biết thì đó đích
thị là Phật”, và ít nhiều Trần Nhân Tông cũng đã kế thừa được từ Tuệ Trung
Thượng Sĩ, một con người vĩ đại mà Trần Nhân Tông đã ca ngợi:
“Càng nhìn càng cao
Càng khoan càng bền
Thoạt nhìn thấy trước
Bỗng phía sau liền
Đó chính đạo Thiền

Nhân khuấy bổn nên ta tìm Bụt
Chỉnh mới hay chính Bụt là ta.
Và trước đó, quan niệm này đã được ngài Viên Chứng thức tỉnh vua Trần Thái
Tông khi nhà vua bỏ ngai vàng trốn vào núi để tìm đạo: "Trong núi vốn không có
Phật. Phật chỉ có ở trong tâm. Tâm lặng mà biết thì đó đích thị là Phật" . Tuệ Trung
Thượng sĩ thì nói: " Khi mê không biết ta là Phật, khi ngộ thì ra Phật là ta" hay
"Thân ta tức là thân Phật, không có hai tướng" ...Chính quan niệm đó đã đánh thức
sức sống mãnh liệt bên trong con người thời bấy giờ và làm nên lẽ sống cao quý
của thời đại, để lại nhiều kinh nghiệm hết sức xương máu trong công cuộc chống
ngoại xâm và xây dựng đất nước. Cùng với học thuyết vô niệm làm nên tư tưởng
chung của thiền phái.[ ]
3

Nền tảng chung là thế, nhưng chúng ta dễ dàng nhận ra những đặc điểm của
phương pháp tu hành ở dòng Thiền này, nó không thuần túy pháp môn Thiền định
mà bao gồm cả yếu tố Tịnh độ. Theo ngài Trúc Lâm Ðầu Ðà thì những pháp môn
Tịnh độ cũng chính là Thiền. Ðây có thể nói là đặc điểm của Thiền tông Việt Nam.
Trong Cư trần lạc đạo phú, Ngài viết:
Miễn được lòng rồi,
Chẳng còn phép khác.
Gìn tính sáng, tính mới hầu an,
Nén niềm vọng, niềm dừng chẳng thác (...)
Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn hỏi đến Tây phương,
Di Ðà là tính soi sáng, mựa phải nhọc tìm về Cực lạc...

2.3 Phương pháp hành trì tu chứng
Pháp môn niệm Phật
Phong cách thiền của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần theo phương thức niệm Phật là
tùy duyên và hết sức tự tại. phương thức niệm Phật theo quan điểm thiền, được ghi lại
trong Cư trần lạc đạo phú, ở hồi thứ hai:

nghĩ là bụi trần không vướng một mảy. Ý nghĩ bụi trần vốn tịnh, cho nên nói “như như
không động là thân Phật”. Thân Phật tức là thân ta, không có hai tướng. Tướng và
tướng không phải là hai, lặng lẽ tồn tại hằng thường. Tồn tại mà không biết, đó là Phật
sống.).
- Cách thứ hai dành cho đối tượng có căn trí bậc trung. Đây là thành phần thứ hai
trong xã hội. Người có căn trí bậc này thì phải huy động ý chí, dùng niệm thiện để đẩy
lùi các niệm ác, không cho chúng có cơ hội xuất hiện. Bậc trung trí ắt nhờ niệm Phật.
Chú ý tinh cần, luôn luôn niệm mà không quên thì tâm mình ắt tự thuần thiện. Ý nghĩ
thiện đã hiện ra thì ý nghĩ ác sẽ bị tiêu tan. Ý nghĩ ác đã bị tiêu tan thì chỉ còn ý nghĩ
thiện. Dùng ý nghĩ mà ý thức về nghĩ thì mọi ý nghĩ đều bị diệt hết. Khi ý nghĩ đã bị
tiêu diệt ắt trở về chính đạo; lúc mệnh hết qua đời sẽ được niềm vui cõi Niết bàn.).

4
5

Thích Phước Đạt- Phương thức hành thiền tu chứng của Thiền phái Trúc Lâm trg 4
Trần Lý Trai- Phương thức niệm Phật đời Trần ( />

- Cách thứ ba dành cho người có căn cơ hạ trí, đông nhất trong xã hội. Đối với những
người này, tâm họ chỉ hướng về nước Phật, mong sao thoát khỏi những bụi bặm ở đời
này. Kẻ hạ trí miệng chuyên cần niệm lời Phật, lòng mong thấy hình tướng Phật, thân
nguyện sinh ở nước Phật, ngày đêm tu hành chăm chỉ, không thối chí thay đổi, như
vậy đến khi mệnh hết qua đời sẽ theo ý nghĩ thiện mà được sinh ở nước Phật; sau đó
lĩnh hội chính pháp mà chư Phật nêu ra và chứng được Bồ đề cũng được Phật quả.
Tuy căn trí mỗi hạng người khác nhau nhưng sở đắc giải thoát phải là một. Trong ba
cách thức niệm Phật, Trần Thái Tông đánh giá cao phương thức hành trì niệm Phật sau
cùng vì nó được xây dựng trên một nền tảng vững chắc, thích hợp với quần chúng số
đông.
Lục thời sám bái
Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi đã được vua Trần Thái Tông ngự chế để thực hành sám

dòng tu hành in đậm sắc thái Phật giáo dân tộc. Bản thân hình tượng ba vị sư tổ
cũng được tôn thờ, nghệ thuật hóa thành tranh, tượng và nhân vật trong văn học
viết cũng như truyền thuyết dân gian. Nguyễn Lang, trong Việt Nam Phật Giáo Sử
Luận đã viết: “Phật Giáo Trúc Lâm là một nền Phật Giáo độc lập, uy tín tinh thần
của nó là uy tín tinh thần quốc gia Đại Việt. Nó là xương sống của một nền văn
hóa Việt Nam độc lập. Nền Phật giáo này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của
Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ và Tây Tạng nhưng vẫn giữ cá tính đặc biệt của
mình.” Tuy sự truyền thừa của Thiền phái Trúc lâm không kéo dài lâu theo thời
gian, nhưng tinh thần Thiền phái đã kịp chuyển hóa, thấm sâu trong đời sống tinh
thần dân chúng và trở thành những giá trị văn hóa bền vững trước thời gian.
Nếu văn hóa là những gì còn lại trước thời gian thì chính các giá trị vật thể và phi
vật thể liên quan Thiền phái Trúc Lâm đã là một minh chứng sâu sắc cho khả năng
tồn tại và phát triển của một di sản văn hóa, bất chấp năm tháng và mọi thăng trầm
thế sự. Thiền phái Trúc Lâm tỏa sáng thành "tâm thức Trúc Lâm" trong lòng mỗi
con người thuộc mọi thế hệ, ở khắp mọi vùng đất nước.
Theo truyền thống “cư trần lạc đạo” của phái Trúc Lâm, mọi nhà lãnh đạo vẫn vừa
có thể làm việc nước mà vẫn tu hành. Do đó, Phật giáo thời Trần có tác dụng rất
tích cực đối với tình hình quân sự và chính trị. Tinh thần nhập thế tích cực của tư
tưởng Thiền phái mới mẻ gặp được cái khí thế đoàn kết vươn lên của toàn dân đã
khởi thêm sức mạnh cho dân tộc. Nhà Trần nhờ tinh thần đoàn kết dân tộc mà đã 3
lần chiến thắng quân Nguyên xâm lược nước ta.
Giá trị văn hóa của tư tưởng Thiền phái còn thể hiện ở chỗ nó góp phần xây dựng
mạnh mẽ nền văn hóa dân tộc Đại Việt thời bấy giờ. Các nhà lãnh đạo Thiền phái
Trúc Lâm là những nhà văn hóa, thi nhân có tài, các ngài đã ý thức muốn bảo vệ
nền độc lập dân tộc một cách lâu dài thì phải dựa trên một nền văn hóa dân tộc.
Những tác phẩm của Trần Nhân Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ đã tác động đến sự
trưởng thành và phát triển của văn học đời Trần. Đệ nhị tổ Pháp Loa (Ðồng Kiên
Cương, 1284-1330) cũng là người am hiểu Thiền học, có tài tổ chức các hoạt động văn
hóa Phật giáo. Qua hơn hai mươi năm lãnh đạo, Pháp Loa đã cho san khắc bộ Ðại
Tạng kinh với hơn 5.000 quyển. Ông còn trực tiếp giảng dạy giáo lý, có tới ba nghìn

Nhân khuấy bổn nên ta tìm Bụt
Chỉn mới hay, chính Bụt là ta”.
Chính tư tưởng này góp phần thúc đẩy quá trình tu tập và giác ngộ trong các thành
viên quần chúng thời bấy giờ
Tư tưởng Phật Giáo “biện tâm” của Trần Thái Tông, và tư tưởng “Cư Trần Lạc
Đạo” của Trần Nhân Tông đã mang lại sức mạnh cho Phật giáo đời Trần, tư tưởng
đó như là những giọt cam lồ tắm mát cho mọi người, giúp cho người tu đạo tìm
thấy Phật tại tâm khỏi phải tìm kiếm đâu xa. Phật giáo biện tâm và Cư trần lạc đạo
là Phật giáo của quần chúng nhân dân, không hạn chế trong giới tu sĩ cũng không
hạn chế trong tư viện. Ai cũng biện tâm được, bất kể là xuất gia hay tại gia, ở đâu
cũng có thể tu và giác ngộ.
Thứ nhất là tu tại gia, Thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa. Ở nơi đâu con người cũng có
thể thành Phật.
Tư tưởng lớn nhất của Phật giáo đời Trần là không chấp tướng, không giáo điều,
không vướng mắc vào hình thức, khiến cho đạo Phật được phổ biến trong quần


chúng một cách rộng rãi. Ai cũng có thể học và tu đạo được; Đây cũng chính là giá
trị tôn giáo quan trọng nhất của tư tưởng Thiền phái Trúc Lâm.
Ngoài ra, hình thức lục thời sám bái cũng giúp cảnh tỉnh con người một cách
thường trực. Việc chia lễ sám làm sáu thời như thế là nhằm phục vụ cho việc sám
hối sáu căn của con người, tức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý “Phàm những nghiệp
chướng tích tụ đều do sáu căn tạo thành”. Nó góp phần tạo ra những con người tỉnh
thức với trần thế một cách thường trực.
Ðây cũng chính là sự đáp ứng nhu cầu đời sống tâm linh, tín ngưỡng của mỗi cộng
đồng người ở từng thời đại, giai đoạn lịch sử cụ thể.

3. Giá trị triết lý
Thiền phái Trúc Lâm là sự kết hợp của bốn dòng thiền đã có mặt ở Việt Nam, thể
hiện tinh thần và khả năng đoàn kết của nó. Không chỉ là sự kết hợp của các dòng

một quốc gia hùng mạnh phát triển về mọi mặt dựa trên cơ sở đoàn kết toàn dân,
tinh thần nhập thế tích cực tốt đời đẹp Đạo.


Tài liệu tham khảo
1. Thích Phước Đạt- Lịch sử truyền thừa của Thiền phái Trúc Lâm 2006
2. Thích Phước Đạt- Phương thức hành thiền tu chứng của Thiền phái Trúc Lâm,
HVPGVN tại TP.HCM 2008
3. Trần lý Trai- Tìm hiểu giá trị “ Cư Trần lạc đạo phú” của Trần Nhân Tông
4. Thích Thanh Kiểm dịch- Khóa Hư Lục Trần thái Tông Thành hội PGTP.HCM
1992
5. Thích Phước Đạt- Phương thức niệm Phật đời Trần
( />6. Hương lam - Tổng Lược Về Thiền Phái Trúc Lâm
( />7. Thích Nhất Hạnh – Trái tim của Trúc Lâm đại sĩ NXBPĐ 2009
8. Thích Phước Sơn dịch, chú- Tam tổ thực lục- Viện Nghiên cứu PHVN 1995
9. Thích Thanh Từ- Tam tổ Trúc Lâm giảng giải NXBTG 1997
10. Nguyễn Hùng Hậu- Lược khảo tư tưởng Thiền phái Trúc Lâm
( />



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status