MỞ BÀI
Chủ tịch Hồ Chí Minh Người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn
hóa thế giới. Cuộc đời, sự nghiệp, đạo đức và tư tưởng của người đã trở thành một
triết lý cũng như thành kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và của dân tộc
Việt Nam.
Đất nước ta sau hơn 27 năm đổi mới đã có những bước tiến vượt bậc trên
mọi lĩnh vực, vị thế của Việt Nam trên trường Quốc tế không ngừng được nâng
cao.
Trong bản di chúc bất hủ mà Hồ Chí Minh để lại cho dân tộc ta người có
viết “mỗi đảng viên phải thật sự gương mẫu, phải thật sự là người đầy tớ thật
trung thành của nhân dân” để làm được điều này thì phải thực hành nghiêm túc
quy chế dân chủ phê bình và tự phê bình.
Xã hội ngày càng phát triển thể chế chính trị không ngừng được củng cố, bộ
máy từ trung ưng đến địa phương ngày càng hoạt động có hiệu quả, nhưng bên
cạnh đó có không ít những trường hợp cán bộ Đảng viên, cũng như lãnh đạo đã vi
phạm nghiêm trọng đạo đức và tư cách của người cán bộ Đảng viên như tham ô,
tham nhũng, làm không được việc, thiếu tránh nhiệm trong lĩnh vực mình quản lý
gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, nhưng số lượng những cán bộ Đảng viên, lãnh
đạo giám đứng lên nhận tránh nhiệm trước tập thể, trước Đảng còn chưa cao, số
lượng cán bộ Lãnh đạo tự nguyên xin từ chức còn rất thấp, thập chí có những
trường hợp còn tìm đủ mọi cách để có thể giữa được “ghế” của mình.
Chính vì vậy từ thực trạng trên tôi xin làm rõ một số vấn đề liên quan đến
“Văn hóa từ chức ở việt nam”
NỘI DUNG
Một số khái niệm.
Văn hóa
1.
-
Từ chức phải trở thành một thói quen chính trị, là cách người ta lựa chọn
khi thấy không còn năng lực, tín nhiệm, hoặc có thể bị cơ quan có thẩm quyền phế
truất. Việc đó đã trở thành một thói quen ứng xử bình thường, mà đã là văn hóa và
thói quen thì những điều đó phải hình thành từ lâu, và rất khó thay đổi được thói
quen đó thì lúc đó thói quen từ chức sẽ trở thành “Văn hóa từ chức” bên cạnh đó
đã là văn hóa thì phải gắn với trình độ nhận thức và sự tự nguyện của người cán
bộ, lãnh đạo. Qua đó người dân đánh giá được văn hoá ứng xử của người có chức
danh. Chúng ta nên cổ xúy cho văn hóa từ chức ở trong chốn quan trường. Đã đến
lúc phải xem hành vi từ chức là hành vi văn hóa, thể hiện lòng tự trọng của con
người”.
2. Mối quan hệ giữa “Văn hóa chính trị ” và “Văn hóa từ chức”
- Thế nào là văn hóa chính trị ?
Văn hoá chính trị, với tư cách là một loại hình của văn hoá là khái niệm nói
về sự thẩm thấu của văn hoá vào chính trị, là chính trị có tính văn hoá. Như vậy,
văn hoá chính trị không phải là bản thân chính trị, bản thân văn hoá, hay là sự cộng
gộp giản đơn hai lĩnh vực này, mà đó là chính trị bao hàm tính văn hoá từ bản chất
bên trong của nó. Biểu hiện của văn hoá chính trị thể hiện ở hai phương diện cơ
bản:
Một là, chính trị với ý nghĩa là chính trị dân chủ, tiến bộ phải hướng tới mục
đích cao nhất là vì con người, giải phóng con người, tôn trọng quyền con người,
tạo điều kiện cho con người phát triển tự do, toàn diện, hài hoà. Đây là tính nhân
văn sâu sắc của một nền chính trị có văn hoá.
Hai là, những tư tưởng chính trị tốt đẹp không phải là những ý niệm trừu
tượng mà phải thiết thực, cụ thể, có khả năng đi vào cuộc sống. Nghĩa là nó phải
thấu triệt trong hệ tư tưởng chính trị, thể hiện qua đường lối chính sách của đảng
cầm quyền và nhà nước quản lý, trong ứng xử và trong việc triển khai các kế hoạch
cụ thể nhằm phát triển xã hội và phục vụ cuộc sống của cá nhân cũng như của cộng
Bên cạnh những nét đẹp đó, cũng cần nhận thấy rằng, do nước ta xuất phát
là một nước nông nghiệp lạc hậu, lại trải qua quá nhiều các cuộc chiến tranh giữ
nước, vì thế những yếu tố như tâm lý tiểu nông khá đậm, kinh nghiệm chủ nghĩa,
triết lý chung chung, thiếu tính khách quan và cơ sở khoa học vững chắc, dễ hài
lòng với mình, tâm lý chạy theo thành tích, “bệnh” hình thức..., nếu như không
được hạn chế, khắc phục kịp thời, sẽ có tác động tiêu cực, bào mòn dần sức sống
và khả năng sáng tạo của văn hoá chính trị Việt Nam.
+ Văn hóa chính trị thể hiện trong sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam
Xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh là mục tiêu mang đậm tính văn hóa chính trị nhân văn sâu sắc, mà
đất nước ta, nhân dân ta vươn tới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta.
nét văn hóa chính trị trong sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện ở các khía cạnh
sau:
Thứ nhất, về lựa chọn giá trị, Đảng ta khẳng định để xây dựng nền văn hóa
chính trị Việt Nam tiên tiến, hiện đại, cần kế thừa các giá trị văn hóa chính trị
truyền thống tốt đẹp được kết tinh qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, kế
thừa các giá trị văn hóa chính trị tinh hoa của các nước trên thế giới, trên cơ sở lấy
chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho hành động. Chính vì cách lựa chọn giá trị như vậy nên trong bối cảnh các
nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ vào thập kỷ cuối cùng của
thế kỷ XX, Đảng ta vẫn kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đồng thời chủ trương
thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Đảng cũng khẳng định chúng ta
“đổi mới” nhưng tuyệt đối không "đổi màu". Bản chất nền chính trị của chúng ta là
khoa học, cách mạng, dân chủ và nhân văn. Đó là nền chính trị phấn đấu vì hạnh
và pháp luật" . Việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta là
hợp quy luật phát triển của lịch sử vì "suy cho cùng chính là nhằm thực hiện dân
chủ. Pháp luật của Nhà nước ta luôn luôn là công cụ mạnh mẽ và có hiệu lực đối
với việc dân chủ hoá mọi mặt của đời sống xã hội, bảo đảm quyền con người,
quyền công dân trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội..." .
Tinh thần dân chủ trong tư duy chính trị của Đảng được thể hiện rất rõ ở tư
tưởng lấy “dân làm gốc”, và, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Một nền
chính trị nhân văn phải là nền chính trị tôn trọng quyền lợi của đa số nhân dân,
thực sự do dân làm chủ, nhà nước là cơ quan được ủy quyền để thực thi quyền lực
nhân dân, để thực hiện lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Những
bước tiến trong nhận thức lý luận và tư duy chính trị của Đảng được thể hiện rõ
trong hàng loạt các văn kiện ban hành trong thời kỳ đổi mới. Trong Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đã chính
thức sử dụng khái niệm "hệ thống chính trị". Hệ thống chính trị của chúng ta được
vận hành theo cơ chế: "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ".
Để tăng cường vai trò của Nhà nước và sự nghiêm minh của pháp luật, Nhà
nước đã ban hành nhiều luật khác nhau, nhằm làm cho mọi người sống và làm việc
theo pháp luật. Chủ trương cải cách bộ máy hành chính, trưng cầu ý kiến rộng rãi
của nhân dân, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
chính trị - xã hội chính là những bước tiến đáng chú ý của văn hoá chính trị trong
thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
Thứ tư, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình,
hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá
các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở
rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của
các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế
và khu vực. Phát triển quan hệ với tất cả các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới
tồn đọng, những vấn đề gây bức xúc trong dân hiện nay..., sẽ là những yếu tố quan
trọng để nâng cao hơn nữa tính văn hóa chính trị trong sự lãnh đạo của Đảng, để
Đảng xứng đáng với tên gọi: "Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.
-
Mối quan hệ giữa văn hóa chính trị và văn hóa từ chức
Văn hóa từ chức là một dạng, một bộ phận của văn hóa chinh trị, chỉ khi
nhận thưc được rõ ràng, cụ thể văn hóa chính trị mới có văn hóa từ chức, nó găn bó
với nhau một cách chặt chẽ, văn hóa chính trị nào sẽ hình th ành văn hóa từ chức
đó, ở các nước phát triển như ở nhật bản chẳng hạn, Vấn đề từ chức đã nâng thành
một thói quen văn hóa đó là văn hóa từ chức ví dụ Thủ tướng Nhật Bản Shinzo
Abe đột ngột tuyên bố từ chức hôm nay, sau một năm đầy sóng gió đến từ những
vụ bê bối trong nội các, một cuộc bầu cử thất bại và khủng hoảng về việc Nhật ủng
hộ chiến dịch quân sự của Mỹ ở Afghanistan.
Sự khác biệt về môi trường và về văn hóa chính trị có lẽ giải thích rất nhiều
cho câu hỏi tại sao ở Việt Nam văn hóa từ chức chưa trở thành một thói quen.
Thiết nghĩ trước khi chúng ta xây dựng được các khuôn khổ văn hóa chính trị như
nhiều nước trên thế giới, và văn hóa từ chức bắt nguồn từ chính lương tri của người
Lãnh đạo thì lúc đó văn hóa từ chức mới trở thành phổ biến trong xã hội Việt nam.
3.
Quan niêm về văn hóa từ chức ở Việt Nam.
Hiện nay, vấn đề văn hóa từ chức đang được nhiều nhà nghiên cứu đề cập
đến. Từ chức chỉ được xem là một hành vi có văn hóa khi người ta tự nguyện và
mạng lại ý nghĩa tốt đẹp cho xã hội. Ở các nước phát triển, từ chức là văn hóa hành
xử của những người có chức, có quyền và đã trở thành trách nhiệm của người có
Thứ nhất: Chức tước thường đi đôi với quyền lực, thương găn với lợi ích,
bổng lộc, đặc quyền, đặc lợi. Nên từ chức có nghĩa là sẽ khôn gì cả
Thư Hai: Học để “làm quan” đã ăn sâu, bén rễ trong tâm thức người Việt
Nam và vì thế truyền thống coi “làm quan” là sự thành đạt cao nhất.
Thứ Ba: Dự luận xã hội chưa định hướng và đồng tình hay ủng hộ việc tự
nguyện từ chức. Nếu ai đó là Đảng viên thì viện dẫn đây là nhiệm vụ Đảng giao,
nếu từ chức coi là không có tinh thần đàng viên, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí
chiến đấu....Từ chức để chốn tránh trách nhiệm, để thoát tội, để hạ cánh cho an
toàn.
-
Một số giải pháp mang tính đinh hướng cho việc hình thành văn hóa từ
chức ở Viêt Nam
+ phải có hệ thống quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của từng vị trí, nhất
là đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý. Xây dựng các quy định về từ chức
của cán bộ, công chức phải dữa trên nền tảng cải cách, xây dựng được quy chế
công chức thật chuẩn về tiêu chuẩn của từng chức vụ, từng vị trí công tác.
+ Đẩy mạnh tuyên truyền trong xã hội về văn hóa từ chức, nên khuyến khích
sự tự nguyễn từ chức và đánh giá cao những người có dũng khí, lòng tự trọng,
biết liêm sỉ tự nguyện từ chức, đông thời định hướng dư luận xã hội cũng
không nên nặng nề đối với những người tự nguyện từ chức.