Chất dân gian trong truyện ngắn sơn nam - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Hoàng Thị Huế

CHẤT DÂN GIAN
TRONG TRUYỆN NGẮN SƠN NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Hoàng Thị Huế

CHẤT DÂN GIAN
TRONG TRUYỆN NGẮN SƠN NAM
Chuyên ngành : Lí luận văn học
Mã số

: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÂM VINH

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014



MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN! ............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 5
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................................ 5
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.............................................................................................. 7
3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu............................................................................................................ 9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................................................. 11
5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................................... 12
6. Những đóng góp mới của luận văn........................................................................................... 12

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .............................................................. 14
1.1. Giới thuyết về các khái niệm: dân gian, văn hóa dân gian, chất dân gian .................... 14
1.1.1. Khái niệm dân gian ............................................................................................... 14
1.1.2. Khái niệm văn hóa dân gian .................................................................................. 14
1.1.3. Khái niệm chất dân gian ........................................................................................ 17
1.2. Thể hiện chất dân gian trong hoạt động sáng tạo văn hóa – văn học nghệ thuật ........ 19
1.2.1. Trong hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật quan phương, bác học .................. 19
1.2.2. Trong một số loại hình nghệ thuật ........................................................................ 20
1.2.3. Trong hoạt động văn học ....................................................................................... 25
1.3. Sơn Nam - nhà văn Nam Bộ ................................................................................................... 36
1.3.1. Tiểu sử ................................................................................................................... 36
1.3.2. Sự nghiệp sáng tác ................................................................................................. 37
1.3.3. Nhà văn của đất Phương Nam(1) .......................................................................... 39

CHƯƠNG 2. CHẤT DÂN GIAN TRONG NỘI DUNG TRUYỆN NGẮN SƠN
NAM ............................................................................................................................ 47


KẾT LUẬN .............................................................................................................. 139
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 142
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 148

4


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tri thức dân gian, văn hóa dân gian, kinh nghiệm dân gian, triết lý dân gian… là
những thuật ngữ và khái niệm vốn đã rất quen thuộc với mọi người. Xã hội ngày càng phát
triển và đã hình thành nên nền văn minh hiện đại với tất cả những gì tối tân của thời kỳ kỹ
thuật công nghệ nhưng sự tồn tại và tác động của những gì thuộc về phạm trù tinh hoa của
dân gian vẫn luôn có một vị trí và ảnh hưởng nhất định trong xã hội ngày nay và cả mai sau.
Một trong những lĩnh vực chịu sự ảnh hưởng và thể hiện rõ những gì thuộc về dân gian
chính là văn học nghệ thuật. Vì thế, không khó để chúng ta nhận thấy những “dấu tích” của
dân gian trong các tác phẩm của các văn nhân thi sĩ, từ xa xưa cho đến hôm nay.
Ảnh hưởng của dân gian không chỉ tác động trên tầm vĩ mô đối với nền văn hóa của
mỗi dân tộc, đất nước mà còn tác động mạnh trên cả bình diện vi mô khi có ảnh hưởng sâu
sắc đến mỗi cá nhân. Có biết bao nhà văn hóa, thi sĩ, văn nhân, thậm chí cả các nhà khoa
học tự nhiên cũng chịu ảnh hưởng từ cội nguồn, giá trị của dân gian. Điều đó, chứng tỏ vị
trí, vai trò và tầm ảnh hưởng của dân gian với xã hội, con người.
Ở lĩnh vực văn học, một điều dễ nhận thấy là các nhà văn, nhà thơ lớn của đất nước
cũng đồng thời là các nhà văn hóa lớn. Xuất phát từ cội nguồn dân gian, hấp thụ những tinh
túy và phát triển lên ở những tầng bậc khác nhau của giá trị văn hóa dân gian, các văn nhân,
thi sĩ đã vận dụng linh hoạt và sáng tạo chất liệu dân gian trong các hoạt động sáng tạo nghệ
thuật. Các nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí
Minh, Tố Hữu, Nguyễn Bính… đều ít nhiều chịu sự ảnh hưởng từ văn hóa, văn học dân

năm ấy với bao thăng trầm, bao biến cố nhưng vẫn đong đầy một nguồn sống, sự dạt dào
của tâm hồn và tài năng như những sản vật riêng có của mùa nước nổi miền Tây Nam Bộ
quê hương ông) Sơn Nam đã cống hiến cả tài năng và tâm huyết để viết và nghiên cứu về
mảnh đất, con người Nam Bộ. Vì thế, đọc những trang văn của Sơn Nam ta như được sống
trên chính mảnh đất với thiên nhiên, đất nước, con người, xã hội đậm chất dân gian, đặc biệt
là qua mảng truyện ngắn đã được ông sáng tác trong suốt mấy chục năm từ thời kỳ kháng
chiến đến tận sau này.
Là một người đa tài, thành công trên nhiều lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật và nghiên cứu
văn hóa, biên khảo lịch sử, nhưng có lẽ trước hết và nổi bật nhất ở Sơn Nam vẫn được người
đọc nhắc đến chính là những truyện ngắn đã làm nên tên tuổi ông trên văn đàn như: Tập
truyện ngắn Hương rừng Cà Mau, tập truyện ngắn Hương Quê - Tây Đầu Đỏ và một số
truyện ngắn khác…
Tìm hiểu những truyện ngắn của Sơn Nam sẽ cho ta cái nhìn và những khám phá thú
vị về thiên nhiên, đất nước, con người, xã hội Nam Bộ với những dấu ấn đặc trưng của văn
6


hóa và đặc biệt là chất dân gian được biểu hiện, thấm đẫm trên từng trang viết như những
viên ngọc thô cần sự phát hiện của bạn đọc để viên ngọc ấy mãi sáng trong.
Suốt cuộc đời phong trần trải qua nhiều biến cố nhưng Sơn Nam vẫn bền bỉ và dành
trọn sáng tạo cho vùng đất và con người Nam Bộ. Ông đã đi xa về với cõi vĩnh hằng nhưng
đâu đó ở miệt U Minh, ở con những con phố Sài Gòn tấp nập hay trong mỗi câu chuyện
người Nam Bộ kể nhau nghe vẫn như có bóng dáng và tâm hồn của nhà văn bởi với Sơn
Nam cả cuộc đời và sự nghiệp của ông đều thuộc về mảnh đất Nam Bộ yêu thương này. Và
tất cả những gì thuộc về vùng đất này đã ngấm vào máu thịt ông như một lẽ thường tình. Có
lẽ đó cũng là lý do mà người đời dành cho ông những tên gọi trìu mến như “Ông già đi bộ”,
“Nhà Nam Bộ học”, “Nhà văn miệt vườn”…
Nhân kỷ niệm 50 năm ngày sách Sơn Nam (để bảo lưu giá trị tác phẩm của Sơn Nam,
NXB Trẻ đã ký hợp đồng độc quyền phát hành toàn bộ các sáng tác của ông), vào tháng 12
năm 2012 vừa qua Nhà Xuất Bản Trẻ đã phát hành bộ sách của Sơn Nam bao gồm ở các thể

tính cách huyền bí, nghĩa khí như ông Năm trong Bắt sấu rừng U Minh Hạ hay Bác vật xà
bông trong truyện ngắn cùng tên; hay ân tình trọn vẹn và thủy chung son sắt như cô Bảy
trong truyện ngắn Con Bảy đưa đò và cả ở những con người chân chất đôn hậu mà ta đã
được thấy trong hàng loạt nhân vật trong các truyện ngắn của Sơn Nam đều có sức lôi cuốn
rất riêng và chợt nhận ra đâu đó, trong những khía cạnh, những nhân vật đó là sự cụ thể hóa,
văn chương hóa những con người lao động bình dân; hoặc cũng có khi là bóng dáng của
những sự tích, điển cố hay nhân vật đã từng tồn tại trong đời sống của dân gian. Người đọc
đi từ thú vị này đến ngạc nhiên thích thú khác chính từ những câu truyện mà nhà văn Sơn
Nam đã kể lại thật giản dị, tự nhiên mà cũng đầy “điệu nghệ”.
Vì thế, hơn hết thông qua đề tài này, luận văn cũng có mục đích đi vào tìm hiểu biểu
hiện và tầm ảnh hưởng của chất dân gian trong truyện ngắn Sơn Nam. Sự gợi mở luôn là cái
kết tuyệt vời và sáng tạo mà những nhà văn tài năng để lại cho người đọc. Có thể đích đến
hữu hình thì chỉ có một nhưng cái đích vô hình thì không thể cân, đo, đong đếm được bởi nó
còn tùy vào góc độ nhìn nhận và ứng dụng của người tiếp nhận. Và đó cũng là một trong
những mục đích khi tôi quyết định chọn đề tài này. Tôi tin, những giá trị của kho tàng văn
hóa, tri thức dân gian luôn có sức sống mãnh liệt và sự ảnh hưởng đến đời sống của xã hội
và con người.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn này tập trung vào những nhiệm vụ sau:
-

Tìm hiểu các khái niệm về dân gian liên quan đến đề tài: dân gian, văn hóa dân gian,
chất dân gian.

-

Chỉ ra những biểu hiện và tập trung đi sâu vào tìm hiểu chất dân gian trong truyện
ngắn của Sơn Nam


Quốc văn giáo khoa thư, Bắt sấu rừng U Minh Hạ, Mùa len trâu, Bác vật xà bông, Hát bội
giữa rừng… của nhà văn Sơn Nam được in dần trên các báo và được Nhà xuất bản Phù Sa
tập hợp thành tập truyện Hương rừng Cà Mau thì tên tuổi nhà văn Sơn Nam mới được văn
đàn Sài Gòn công nhận” [Tuoitre.vn].
Nhà văn Lê Văn Thảo – chủ tịch Hội nhà văn TP.HCM cũng đã viết “Sơn Nam là
nhà văn đồng quê… Toàn bộ các tác phẩm của ông làm thành một cuốn “địa phương chí”
đồ sộ, phong phú, đa dạng về khối lượng, thẫm đẫm tình quê hương đất nước cũng đậm đà
hơi thở đồng quê…” [28, tr.18].
Nhà thơ Hà Huy Hà (Kiên Giang) là một người bạn, đồng nghiệp, đồng hương rất
thân thiết với Sơn Nam nói đã nói về vai trò và tầm ảnh hưởng của văn hóa miệt vườn với
các sáng tác của Sơn Nam như sau: “Văn hóa văn minh miệt vườn vẫn ăn rễ từ nông thôn,
từ lễ hội. Cúng kỳ yên ở đình là lễ hội lớn ở thôn quê. Nơi nào có đền thờ Lễ Thành Hầu
Nguyễn Hữu Cảnh đều được Sơn Nam thăm viếng và chiêm bái” [28, tr.55].
9


Với Lê Thiếu Nhơn thì “Sơn Nam không tầm chương trích cú bao giờ. Cũng là tuồng
tích cũ đấy, cũng là tư liệu xưa cũ đấy nhưng những gì Sơn Nam viết ra đều đã được chắt
lọc qua trái tim ông, qua khối óc ông mà chảy xuống trang văn thành câu chữ trĩu nặng cốt
cách Nam Bộ, đắm say nhân nghĩa Nam Bộ…” [28, tr.77].
Tác giả Lê Phú Khải từng nhận xét như sau về Sơn Nam “Ông rành về phong tục, lễ
nghi, ẩm thực của dân Nam Bộ… Ông viết như nói, như một ông già Nam Bộ kể chuyện đời
trong quán cafe” [28, tr.7].
Trong một bài viết Sơn Nam - mấy độ qua đường phố, nghiêng mình nhớ đất quê, Trần
Hữu Dũng từng cho rằng, tinh chất nhất của Sơn Nam là tập truyện ngắn Hương rừng Cà
Mau.
“Ông đã để lại khối lượng lớn tác phẩm lớn. Chắc chắn, mai sau, khi muốn tìm hiểu về
đất và người Nam Bộ xa xưa, người ta phải đọc tác phẩm của ông. Đó là những cống hiến
mà không phải ai cũng có được” (Nguyễn Quốc Trung, dấu ấn Sơn Nam, [vietvan.vn].
Tác giả Nguyễn Thị Hồng trong bài viết “Sơn Nam và những truyện ngắn về đề tài

vào tìm hiểu những vấn đề lớn, tiêu biểu trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Sơn Nam như
văn hóa Nam Bộ, thiên nhiên, con người Nam Bộ, thành công của truyện ngắn Sơn Nam…
Nhìn một cách trực giác, ai cũng có thể thấy Sơn Nam và mở rộng ra các nhà văn khác như
Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng… là những nhà văn mà tác phẩm của họ thấm đẫm chất
Nam Bộ. Tuy nhiên, riêng về góc độ tìm hiểu chất dân gian trong truyện ngắn Sơn Nam thì
chưa có đề tài nào đi vào nghiên cứu. Vì thế, để chỉ ra một cách rạch ròi, sáng tỏ lại là việc
không đơn giản, nhất là với góc độ nghiên cứu chất dân gian, nó đòi hỏi người nghiên cứu
phải tiếp cận dưới nhiều góc độ và cần được lý giải dưới góc nhìn của chuyên ngành nghiên
cứu cụ thể.
Tiếp thu những thành quả như đã trình bày, đề tài tiếp tục nghiên cứu vấn đề chất dân
gian một cách hệ thống hơn, toàn diện hơn nhằm xác định, đánh giá những yếu tố làm nên
thành công trong truyện ngắn Sơn Nam, trong đó có vấn đề chất dân gian.
Về vấn đề chất dân gian trong truyện ngắn Sơn Nam có nhiều điều cần nghiên cứu.
Tuy nhiên trong phạm vi điều kiện cho phép, luận văn chỉ đi vào khảo sát, phân tích, nhận
định một số thể hiện đặc trưng của chất dân gian trong nội dung và nghệ thuật của truyện
ngắn Sơn Nam như tư tưởng cảm hứng chủ đạo, thiên nhiên, đất nước con người với những
hoạt động đặc sắc trong đời sống vật chất và tinh thần, thế giới nhân vật, kết cấu, ngôn từ,
giọng điệu…

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu khảo sát các truyện ngắn của nhà văn Sơn Nam. Vì vậy, đối
tượng chính là: Tuyển tập các truyện ngắn của Sơn Nam do NXB Trẻ phát hành năm 2013,

11


bao gồm tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau (bản đặc biệt trọn bộ); tập truyện ngắn
Hương Quê - Tây Đầu Đỏ và một số truyện ngắn khác.
Ngoài ra, để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài luận văn tôi còn tìm hiểu qua một số thể

thác, tìm hiểu truyện ngắn của nhà văn Sơn Nam dưới một góc độ mới: Chất dân gian được
nhà văn thể hiện như thế nào và mang lại hiệu quả ra sao trong thể loại truyện ngắn của
mình. Qua đó, để thấy được vốn sống, sự am hiểu đời sống của dân gian của nhà văn Sơn
Nam để ông có thể chuyển tải, vận dụng sáng tạo những giá trị của dân gian vào trong từng
truyện ngắn của mình. Đồng thời, đó cũng là sự khẳng định minh chứng cho suối nguồn bất
12


tận của tinh hoa, giá trị của dân gian đối với đời sống xã hội, con người và đối với hoạt động
lao động sáng tạo nghệ thuật.
Phân tích và luận giải những khía cạnh khác nhau của chất dân gian trong truyện ngắn
của nhà văn Sơn Nam để thấy được vị trí và vai trò của tri thức, kinh nghiệm, văn hóa dân
gian đối với đời sống xã hội con người nói chung và hoạt động văn hóa nghệ thuật nói riêng.
Từ đó, thấy được văn học và văn hóa có mối quan hệ đặc biệt với nhau. Với đề tài này, luận
văn một lần nữa khẳng định thêm mối quan hệ tương giao giữa văn học và văn hóa. “Chất
dân gian trong truyện ngắn Sơn Nam” không chỉ là vấn đề của văn học mà còn là vấn đề
cũng thuộc văn hóa học nói chung. Tiếp xúc với văn chương để con người trưởng thành
hơn, biết cảm thụ cái đẹp, biết trân trọng giá trị cuộc sống… và cái cao nhất cũng chính là
hướng con người đến cái được gọi là “văn hóa”. Qua đó góp phần khẳng định cách tiếp cận
văn học từ góc độ văn hóa dân gian là một trong những hướng nghiên cứu cần thiết trong
nghiên cứu văn học hiện nay.
Luận văn này cũng có thể dùng làm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy,
tìm hiểu về tác giả Sơn Nam.
Đề tài luận văn này, như một lần nữa khẳng định vị trí và tầm ảnh hưởng của Sơn Nam
với lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Nam Bộ, nhấn mạnh đến thành công của nhà văn ở thể loại
sáng tác văn học (mà truyện ngắn là tiêu biểu).
Cấu trúc luận văn:
PHẦN MỞ ĐẦU (11 trang)
PHẦN NỘI DUNG (150 trang)
Chương 1. Những vấn đề chung (40 trang)

đặc điểm, đối tượng của dân gian để khu biệt với các đặc điểm, tính chất, đối tượng thuộc về
văn minh, văn hóa bác học như sau: kiến trúc dân gian/kiến trúc bác học; âm nhạc dân
gian/âm nhạc cung đình, âm nhạc bác học; văn học dân gian/văn học bác học…
Như vậy, khi nói đến khái niệm dân gian ta có thể hiểu ở hai phạm trù cơ bản khi là
danh từ và khi là tính từ. Đây là một khái niệm tương đối rộng và được sử dụng rộng rãi
trong đời sống. Tất cả những gì thuộc về khái niệm dân gian mà ta tìm hiểu ở trên đều có sự
hiển diện trong các hoạt động đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân lao
động.
1.1.2. Khái niệm văn hóa dân gian

14


Văn hóa dân gian là một thành tố thuộc phạm trù của dân gian. Có nhiều cách hiểu
khác nhau về văn hóa dân gian, trong phạm vi đề tài tìm hiểu, người viết sẽ trình bày một số
cách hiểu phổ biến như sau:
Trong tiếng Anh, thuật ngữ Folklore (được ghép từ 2 thành tố Folk: dân chúng, nhân
dân, đại chúng; lore: tri thức, trí khôn) được W J.Thom sử dụng đầu tiên vào năm 1846 đăng
trong một bài báo nhỏ trên tạp chí “The Atheneum” - Luân Đôn để chỉ "phong tục, tập
quán, nghi thức, mê tín, ca dao, tục ngữ... của người thời trước”. Theo W J.Thom thì
Folklore dùng để chỉ những di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu là những di tích của
nền văn hóa tinh thần của nhân dân có liên quan với nền văn hóa vật chất như phong tục,
đạo đức, việc cúng tế, dị đoan, ca dao, cách ngôn của các thời trước
Từ điển bách khoa toàn thư Anh, 1964: Folklore là tên gọi chung, thống nhất của
những tín ngưỡng, truyền thống, thiên kiến đạo lí, nghi lễ, mê tín dị đoan của dân gian.
Những câu chuyện cổ, những bài tình ca, dân ca và những câu tục ngữ đều nằm trong khái
niệm này, và nhờ vào việc mở rộng ý nghĩa của khái niệm mà ngày nay, nó bao gồm cả
những yếu tố của văn hóa vật chất mà ban đầu nó không tính đến.
Định nghĩa Folklore của UNESCO: Folklore (trong nghĩa rộng văn hóa truyền thống
được lưu truyền, phổ biến rộng của nhân dân) là sáng tác để định hướng cho một nhóm

folklore Việt Nam” [3, tr.46].
Theo nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên thì Folklore (phônclo) thuật ngữ phiên âm từ
tiếng Anh (Folklore = sự hiểu biết của nhân dân, trí tuệ của nhân dân) thường được dùng
song song với thuật ngữ “văn học dân gian”. Văn hóa dân gian bao gồm cả văn hóa vật chất
và văn hóa tinh thần được nhân dân lao động sáng tạo, sử dụng, lưu truyền từ thế hệ này qua
thế hệ khác. Không một vùng đất nào, dân tộc nào, đất nước nào lại thiếu vắng văn hóa dân
gian bởi văn hóa dân gian cũng chính là biểu hiện của văn hóa dân tộc [52, tr.11].
Năm 2013 tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã được Tổ Chức Văn Hóa và Giáo Dục
Quốc Tế (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Được biết, đây
là tín ngưỡng thờ cúng đầu tiên của nhân loại được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể.
Từ sự kiện này ta có dịp nhìn nhận lại hình thức thờ cúng các vua Hùng như một giá trị và
biểu tượng của văn hóa dân gian mà cụ thể ở đây là tín ngưỡng dân gian. Xét trong tương
quan văn hóa thì giá trị và biểu tượng cũng là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau. Khi giá
trị được kết tinh và làm nên cái cốt lõi sẽ tạo thành tính biểu tượng thẩm mỹ, trong mỗi biểu
tượng ta sẽ tìm thấy giá trị hay hệ thống các giá trị văn hóa. Và như thế, trong biểu tượng
Quốc tổ các Vua Hùng ta thấy các giá trị và tâm thức về cội nguồn và cố kết cộng đồng dân
tộc, một trong những nét đặc trưng của bản sắc văn hóa Việt Nam. Hệ giá trị của văn hóa
dân tộc, trước hết tiềm ẩn trong văn hóa dân gian. Các biểu tượng của văn hóa chủ yếu gắn
với văn hóa dân gian. Hệ biểu tượng này hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài và quy
định những hành vi ứng xử của cộng đồng. Quốc tổ các Vua Hùng - biểu tượng về cội
16


nguồn, về tâm thức "uống nước nhớ nguồn", mà căn cỗi của nó là tục thờ cúng tổ tiên ở mỗi
gia tộc, dòng họ. Văn hóa dân gian với hệ giá trị và biểu tượng của nó đã làm nên cái gọi là
tâm thức dân gian, tâm hồn dân tộc. Những cái đó, tới lượt nó quy định các hành vi, tình
cảm, hoài vọng của con người.
Như vậy, có thể thấy rằng về thuật ngữ Folklore có nhiều cách luận giải khác nhau
nhưng tựa chung lại thì có thể nói Folklore đều được các học giả, các nhà nghiên cứu nhìn
nhận là tổng hợp các giá trị của văn hóa dân gian bao gồm cả giá trị vật chất và tinh thần,

mèo mả gà đồng/Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào; “Đội trời đạp đất ở đời/Họ từ, tên
Hải vốn người Việt Đông;”… Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương cũng là tác giả sử dụng
khá nhiều chất liệu của văn học dân gian, văn hóa dân gian vào trong thơ như “Cố đấm ăn
xôi, xôi lại hỏng/Cầm bằng làm mướn, mướn không công”; “Bảy nổi ba chìm với nước
non”; “Đừng xanh như lá, bạc như vôi”; “Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé”…
Tùy theo từng trường hợp, từng tác giả, tùy hoàn cảnh cụ thể của nghệ thuật bác học,
chuyên nghiệp mà các chất liệu dân gian có sự thâm nhập ngẫu nhiên – không tự giác, do
cảm hứng của tác giả, nhưng cũng có những trường hợp tác giả cố ý khi đưa chất dân gian,
văn hóa dân gian vào trong hoạt động sáng tác nghệ thuật. Ở trường hợp của nhà văn Sơn
Nam chẳng hạn, theo ý kiến của cá nhân tôi thì chất dân gian được nhà văn sử dụng trong
các sáng tác của mình vừa là sự tự giác, ngẫu nhiên nhưng cũng có khi có dụng ý, tính toán
kỹ lưỡng. Nói chất dân gian đi vào tác phẩm Sơn Nam một cách ngẫu nhiên là bởi nếu
nghiên cứu sâu hơn về tác giả, tác phẩm ta sẽ thấy nhà văn vốn sinh ra, lớn lên và suốt cuộc
đời gắn bó mật thiết với đời sống của nhân dân lao động. Chính hoàn cảnh sống đó đã tác
động ít nhiều đến tư tưởng, cảm hứng của nhà văn. Ông am hiểu sâu sắc về mọi mặt của đời
sống của tầng lớp nhân dân lao động, và cuộc đời ông cũng sống giữa những người dân lao
động đó, không chỉ am hiểu mà Sơn Nam còn dành tình cảm đặc biệt với tầng lớp dân
nghèo, với quê hương “miền cố thổ” nên ông viết không chỉ bằng tài năng mà còn bằng cả
trái tim, tâm hồn với tình cảm sâu nặng. Đọc bất cứ tác phẩm nào của nhà văn, từ tiểu
thuyết, biên khảo, hồi ký và đặc biệt là mảng truyện ngắn ta đều thấy chất dân gian “ngồn
ngộn”. Đó có thể là những câu chuyện của dân gian vẫn thường truyền miệng nay được ông
thi vị hóa thành tác phẩm văn chương như sự tích Đánh cọp Gò Quao trong tác phẩm cùng
tên hoặc có khi là những câu văn ăm ắp thành ngữ, tục ngữ, ca dao với số lượng lên đến gần
700 câu trong gần 100 truyện ngắn, có những truyện mà số lượng các thành ngữ, tục ngữ
xuất hiện khá nhiều như truyện Đơn Hùng Tín chào đời (21 lần), Con Bảy đưa đò (16 lần),
Ruộng Lò Bom (19 lần)… và đặc biệt là trong tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau thì ở bất
cứ truyện ngắn nào cũng có sự xuất hiện một trong các thể loại thành ngữ, tục ngữ, ca dao,
câu đối, vè; tính trung bình mỗi tác phẩm có từ 4-5 câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao, câu
đối… Là nhà văn chuyên nghiệp nên Sơn Nam rất ý thức đến nghề nghiệp của mình. Và lẽ
dĩ nhiên, với nhà văn việc sáng tạo ra tác phẩm cũng bao hàm chủ ý nào đó. Sơn Nam đưa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status