BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT - NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN - Pdf 37

CHỦ ĐỀ

NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT
GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 . Mục đích, yêu cầu:
-

làm rõ cơ sở của nguyên tắc này
Làm rõ nội dung của nguyên tắc
Nêu lên yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc trong nhận thức cũng như
trong hoạt động thực tiễn
ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắc

2 . Nội dung bố cục:
(1). Phạm trù lý luận và phạm trù thực tiễn
(2). Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
(3). Yêu cầu khi vận dụngc nguên tắc đối với công tác lý luận, tư tưởng
trong quân đội
3. Thời gian:

4

tiết

4. Phương pháp:
- Dùng phương pháp thuyết trình, nêu vấn đề, có thể dùng sơ đồ đèn
chiếu,
- Có thể dùng phương pháp po point
5.Tài liệu tham khảo
- Mác- Ăngghen, toàn tập, t.20, Nxb.CTQG, H.1994
- Lênin toàn tập, T.18, Nxb.Tiến bộ, M.1980

- Như vậy, chủ nghĩa DT mắc phải tuyệt đối hoá tư duy và tuyệt đối
hoá "lực lượng tinh thần" ngoài con người.
- Từ thời Hy Lạp cổ đại những nhà THDV họ cho triết học là nghệ
thuật hùng biện, nghệ thuật tranh cãi. Vì vậy, gọi triết học là "Philosophia"->
Tức là yêu thích sự thông thái.
- Triêt học của Phoiơbắc nhà DV đạt đến đỉnh cao nhất của CNDV
trước Mác, cũng chỉ đề cao vấn đề lý luận chứ không nhìn thấy vai trò của
thực tiễn. Cho thực tiễn là hoạt động cơ bắp, hoạt động tầm thường, hoạt động
như vậy như của con buôn …
Tóm lại:
Cả CNDT và CNDV trước Mác do hạn chế bởi thế giới quan và thiếu
cơ sở khoa học cho nên chưa đưa ra được phạm trù LL và phạm trù T T một
cách đúng đắn kgoa học. Vì vậy, cũng chưa thấy được MQH giữa chúng.
2

2


>
* CNDVBC:
-> Lý luận : là sản phẩm phát triển cao của nhận thức, là hệ thống tri
thức được khái quát hoá, nhằm phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất
yếu của hiện thực khách quan.
+ Hạt nhân của lý luận bao gồm: các nguyên lý; phạm trug quy luật
+ Lý luận không hình thành tự phát, mà nó được hình thành và là sự khái
quát từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiẹm là đúng đắn, thì lý luận đó
trở thành lý luận khoa học.
Theo TH Mác- Lênin lý luận được ra đời là cả một quá trình biện
chứng của nhận thức con người và hoạt động thực tiễn…

làm biến đổi thế giới khách quan ( biến đổi bản thân các sự vật hiện tượng)
đáp ứng theo mục đích, nhu cầu của bản thân con người-> Cũng từ đó làm
biến đổi hình ảnh, bản chất của sự vật trong nhận thức con người. Do vậy
thực tiễn có tính năng động sáng tạo, là quá trình không ngừng của sự chuyển
hoá giữa tinh thần và vật chất.
2. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn:
A.
Cơ sở của nguyên tắc:
Thứ nhất, trong quá trình phấn đấu để thoả mãn nhu cầu vật chất và
tinh thần cho bản thân, con người không ngừng nâng cao sự hiểu biết, trong
đó có tri thức lý luận, cùng khả năng hoạt đọng vật chất (hoạt động T T) cải
biến tự nhiên.
Con người chúng ta muốn thoả mãn vè vât chát, thì nếu chỉ có sự hiểu
biết(LL) để ở trong đầu thì sẽ không có một tí sản phẩm nào ra đời cả. Do
vậy, từ sự hiểu biét đó phải mang vào chỉ đạo hoạt đọng thì mới có sản phẩm
ra đời.
Giữa hiểu biết và hoạt động vật chất, lý luận và thực tiễn không phải là sự
tách rời mà luôn có mối liên hệ thống nhát hữu cơ với nhau sự thống nhất này
ngày càng cao hơn cùng với quá trình phát triển của loài người.
Nói cách khác, để có hiệu quả trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau
con người không thể "tuỳ thích" chủ quan, cảm tính trong việc định ra phương
hướng, giải pháp và lựa chọn cụ thể…mà cần có lý luận dẫn dắt.
Ngược lại, để có sự hiểu biết ở trình độ lý luận tất yếu phải đi từ sự khái
quát kinh nghiệm thực tiẽn- nếu không thấy rõ điều này sẽ rơi vào tư biện,
duy tâm, duy ý chí.
Hồ Chí Minh đã khẳng định:"Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì
thành thực tiẽn mù quáng.Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận
suông"(H C MINH, toàn,t.8, tr.496, Nxb CTQG, H.1996)
Việc phát hện ra nguyên tắc này trước hết phải kể đến TH Mác-Lênin,
đòng thời chính học thuyết cách mạng khoa học này là sự biểu hiện sự sinh

đường lối chiến lược, sách lược, dẫn dắt phong trào cách mạng đi từ thắng lợi
này tới thắng lợi khác.
Nguyên tắc thống nhất lý luận và thực tiễn là còn được thể hiện đầy
đủ trong các vấn đề mục đích, đặc điểm, vai trò, khả năng của triết học
mácxít.
Triết học của Mác khác các triết học trước đây ở chỗ, triết học mácxít
không chỉ là giải thích thế giới mà cái chính là cải tạo thế giới.
Hiện nay, cách mạng xã hội xã hội chủ nghĩa đang gặp những khó
khăn, đang trong giai đoạn thoái trào. Nhưng, đó chỉ là sự thất bại của những
mô hình và sự vận dụng thiếu sáng tạo. Sức sống của lý luận Mác – Lênin là
do nó luôn gắn liền với thực tiễn sinh động và được thực tiễn kiểm nghiệm,
bổ sung, phát triển.
Cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ thành công nếu biết nắm bắt bản chất,
linh hồn của lý luận mácxit, biết vận dụng sáng tạo phù hợp với điều kiện,
tình hình cụ thể. Đồng thời, trước yêu cầu thực tiễn mới, muốn bảo đảm
được tính khoa học và cách mạng của lý luận mácxit đòi hỏi nó phải thường
xuyên được bổ sung, phát triển.

5

5


Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thức tiễn còn được thể hiện
trong triét học Mác- Lênin khi bàn về lý luận nhận thức.
Trong khi nghiên cứu về quá trình hình thành phát triển của nhận thức
con người, triết học M-Lnin khẳng định: nhận thức con người là một quá
trình, tuân theo con đường biện chứng đi từ-> TQSĐ đến TDTT từ TDTT
trở về T T kết thúc một vòng khâu của quá trình nhận thức, lại mở ra một
vòng khâu tiếp theo…



Để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao con người ngày càng đi sâu vào
nhận thức thế giới, khám phá những bí mật của thế giới, càng làm phong phú
và sâu sắc hơn tri thức của mình.
Chính thông qua thực tiễn đã xuất hiện nhiều mâu thuẫn mới đòi hỏi
con người phải giải quyết. Vì vậy, nhu cầu, nhiệm vụ, phương hướng của
nhận thức, đòi hỏi phải nghiên cứu để giải quyết các mâu thuẫn đó, sau đó
tiến hành tổng kết kinh nghiệm rút ra tri thức mới, để khái quát thành lý luận
của con người và thúc đẩy sự ra đời, phát triển của các ngành khoa học.
Thực tiễn có khả năng tạo ra công cụ, phương tiện phục vụ cho quá
trình nhận thức mà hoạt động tinh thần không thể có khả năng trực tiếp
về vấn đề đó. Những công cụ, phương tiện hiện đại giúp con người nhận
thức ngày càng nhanh, xa và hiệu quả, dù trong những điều kiện khó
khăn phức tạp hơn.
Đúng như Mác đã nhận định: các công cụ lao động sẽ nối dài các
giác quan của con người giúp chúng ta khám phá tự nhiên. Chúng ta chế
tạo ra những loại kính viễn vọng có thể quan sát được các hành tinh xa
xôi, giúp chúng ta nhận thức về nó. Chế tạo ra tầu vũ trụ bay vào trong
không gian để nghiên cứu về thời tiết, động đất, sóng thần, kết cấu vật
chất, sự sống…Mặt trăng, sao hoả…
Thông qua động thực tiễn con người tác động vào thế giới, buộc thế
giới phải bộc lộ những thuộc tính, những quy luật để con người có điều kiện,
khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc hơn.
V. I. Lênin đã chỉ ra rằng: Thế giới bí ẩn sẽ hoàn toàn bí ẩn với con
người nếu không có sự tác động của con người vào đó. Sự tác động của con
người vào thế giới khách quan diễn ra một quá trình từ việc thu thập những tài
liệu cảm tính, những kinh nghiệm, sau đó tiến hành so sánh, phân tích, tổng
hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá… để phát triển thành lý luận và từ lý luận
lại trở về chỉ đạo thực tiễn.

ra đời quay về phục vụ thực tiễn, hướng dẫn, chỉ đạo thực tiễn.
Lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào
thực tiễn, cải tạo thực tiễn, phục vụ cho mục tiêu phát triển. Lý luận tác động
trở lại thực tiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con
người.
Lý luận giúp cho chủ thể hoạt động thực tiễn có những quan niệm
khoa học về thế giới. Lý luận có thể dự kiến được sự vận động, phát triển
của sự vật, chỉ ra những phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn,
là “kim chỉ nam” soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo cho hành động.
11 C. Mác và Ph. Ăngghen, toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, t. 3, tr.10.

8

8


V. I. Lênin viết: Không có lý luận cách mạng thì cũng không có
phong trào cách mạng, chỉ có đảng nào có lý luận tiên phong hướng dẫn thì
đảng đó mới làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong.
Nhờ có lý luận khoa học mà hoạt động của con người trở lên chủ
động, tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm, tự phát. Như vậy, lý luận một
khi đã thâm nhập vào quần chúng thì biến thành sức mạnh vật chất to lớn.
Lý luận giúp cho chủ thể nhận thức hệ thống nguyên tắc, phương pháp
trong hoạt động nhận thức và thực tiễn; giúp chủ thể hoạt động thực tiễn
những mục tiêu cần đạt được trong tình hình cụ thể. Nhờ có lý luận cách
mạng mà chủ thể hoạt động thực tiễn có cơ sở hình thành, phát triển nhân
cách và nâng cao chất lượng hoạt động thực tiễn.
Như vậy, lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động thực tiễn.
Tuy nhiên, cùng với nhận thức được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của lý
luận thì chủ thể hoạt động không nên cường điệu vai trò của lý luận, coi

công tác đảng, công tác chính trị. Công tác tư tưởng, lý luận có vai trò quyết
định trong việc xây dựng bản chất giai cấp công nhân, tạo nên sức mạnh
chính trị, tinh thần của quân đội, đảm bảo cho quân đội luôn luôn là công cụ
bạo lực sắc bén, là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà
nước và nhân dân, thật sự là đội quân chiến đấu, đội quân sản xuất và đội
quân công tác, góp phần làm cho các nghị quyết của Đảng trở thành hiện thực
cách mạng sinh động. Thực đã khẳng định vai trò to lớn của công tác tư
tưởng, lý luận đối với sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta.
* Nhiệm vụ công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội hiện nay
Trước yêu cầu tình hình mới, nhiệm vụ công tác tư tưởng, lý luận trong
quân đội rất nặng nề. Đòi hỏi phải tiếp tục phân tích, đánh giá, dự báo để định
hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ; nâng cao hơn nữa tinh thần chủ động
tiến công, kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng, sai
trái… Nhiệm vụ công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội hiên nay được thể
hiện trên một số vấn đề cơ bản.
Thứ nhất, nghiên cứu một cách có hệ thống, có chiều sâu lý luận chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với các quan điểm, tư tưởng
khoa học khác có ý nghĩa là phương pháp luận khoa học đối với cách mạng
Việt Nam, đối với nhiệm vụ xây dựng quân đội hiện nay.

10

10


Đảng ta khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là
nền tảng tư tưởng của Đảng. Nội dung lý luận, giá trị phương pháp luận của
học thuyết khoa học và cách mạng đó luôn luôn là kim chỉ nam cho mọi hoạt
động của quân đội và công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội. Trên thực tế,
việc nghiên cứu cơ sở khoa học cho công tác tư tưởng, lý luận vẫn còn những

kết thực tiễn quân sự . Đây vừa là những nhiệm vụ cơ bản, vừa là yêu cầu cấp
bách của công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội vào những năm tới. Cần
phải coi trọng công tác lãnh đạo, định hướng tư tưởng cả trong nghiên cứu lý
luận và trong tổng kết thực tiễn để rút ra các bài học kinh nghiệm thiết thực
nhằm phát triển lý luận, nâng cao chất lượng lãnh đạo.
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn hướng vào
xây dựng, phát triển đường lối, nghệ thuật quân sự, chiến lược quốc phòng an ninh, phương thức chuẩn bị và động viên chính trị, tinh thần của quân đội
và nhân dân, sẵn sàng đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược bằng vũ khí
công nghệ cao; tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh làm thất bại chiến
lược “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng – văn hoá, củng cố và tăng
cường vững chắc trận địa tư tưởng, lý luận của Đảng trong quân đội. Đồng
thời, tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục
lý luận chính trị, giáo dục chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa, bản chất
truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức
cách mạng, năng lực nhận thức và hành động sáng tạo cho cán bộ, chiến sĩ,
xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị.
Thứ năm, nâng cao tinh thần và hiệu quả, chủ động, nhạy bén đấu tranh
làm thất bại âm mưu “diễn biến hoà bình” “phi chính trị hoá” quân đội của các
thế lực thù địch. Công tác tư tưởng, lý luận phải đi vào từng đối tượng cán bộ,
chiến sĩ làm cho mỗi người nhận thức đầy đủ và cảnh giác cao độ trước những
âm mưu và thủ đoạn ngày càng tinh vi, thâm độc của kẻ thù.
b. Một số yêu cầu vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn đối với công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận trong
quân đội hiện nay, cần phải quan tâm đến cả mặt lý luận khoa học, mặt thực
tiễn và giải quyết tốt mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn.
* Trước hết, nâng cao tính khoa học (tính lý luận) cho công tác tư tưởng,
lý luận trong quân đội hiện nay.
Nội dung công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội phải có cơ sở khoa
học, phải có chiều sâu về mặt lý luận; phải trên cơ sở nắm vững bản chất cách

quân đội. Để làm tròn trách nhiệm người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận
tư tưởng, lý luận của Đảng, của quân đội, mỗi cán bộ làm công tác tư
tưởng, lý luận cần phải nỗ lực, phấn đấu học tập, rèn luyện, nâng cao trình
11 C .Mác và Ph.Ăngghen, toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, t. 1, tr. 573.

13

13


độ lý luận khoa học, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Đồng thời, phải thường
xuyên đổi mới hệ thống trường lớp, đổi mới nội dung và phương thức đào
tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác tư tưởng, lý luận, chuyên trách
công tác đảng, công tác chính trị.
* Tập trung nâng cao tính Đảng trong công tác tư tưởng, lý luận
của quân đội hiện nay.
Công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội hiện nay cần tập trung quán
triệt nguyên lý xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân theo quan
điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt nguyên tắc
Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt;
quán triệt phương hướng xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh
nhuệ, từng bước hiện đại, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng
lợi. Nâng cao tính Đảng trong công tác tư tưởng, lý luận hiện nay yêu cầu
phải kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn phá hoại của
địch trên mặt trận chính trị, tư tưởng.
* Thường xuyên nâng cao tính thực tiễn cho công tác tư tưởng, lý luận
trong quân đội hiện nay.
Công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội phải tiến hành sát đối tượng;
biết vận dụng sáng tạo quan điểm biện chứng trong nhận thức và tiến hành công
tác tư tưởng, lý luận cho các đối tượng. Công tác tư tưởng, lý luận cần gắn với

cơ sở và nhạy bén xử lý những nảy sinh về tư tưởng ở cơ sở, tạo sự chuyển
biến mạnh mẽ về tư tưởng, lý luận ở cơ sở. Công tác tư tưởng, lý luận phải
biết kết hợp giữa xây và chống, lấy xây làm chính. Công tác tư tưởng, lý
luận phải bám sát yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng quân đội trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong bối cảnh tình hình thế giới
có những diễn biến phức tạp.
Các hoạt động của công tác tư tưởng, lý luận cần tập trung phục vụ nhiệm
vụ huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh
chiến đấu của quân đội; cần tập trung cho việc chuẩn bị về tiềm lực chính trị,
tinh thần, phẩm chất đạo đức, ý chí quyết đánh và quyết thắng, sự mưu trí, sáng
tạo, dũng cảm, ngoan cường trong chiến đấu; tập trung trong việc xây dựng niềm
tin vào cách đánh, tin vào trang bị, kỹ thuật và sự thắng lợi trong cuộc chiến đấu
chống chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao.
Công tác tư tưởng, lý luận góp phần giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ xác
định rõ kẻ thù, đối tượng tác chiến; đấu tranh giữ vững trận địa tư tưởng, lý
luận của Đảng trong quân đội; đấu tranh chống các quan điểm sai trái phản
động. Công tác tư tưởng, lý luận cần chú trọng xây dựng nội bộ trong sạch,

15

15


vững mạnh, chống mọi biểu hiện “tự diễn biến” của các đối tượng, nhất là đối
với cán bộ cao cấp, cán bộ ở những cơ quan trọng yếu.
Công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội phải tập trung cho nhiệm vụ
cơ bản, chủ yếu. Công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội hiện nay cần tập
trung bồi dưỡng bản chất giai cấp công nhân, tuyên truyền đường lối, chính
sách của Đảng trong quân đội; chủ động triển khai có hiệu quả cuộc đấu tranh
trên mặt trận tư tưởng, lý luận; chống lại những âm mưu của các thế lực thù

phát triển lý luận có ý nghĩa thiết thực trong việc khắc phục bệnh giáo điều,
kinh nghiệm chủ nghĩa. “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận,
thảo luận dân chủ, sớm làm rõ và kết luận những vấn đề mới, bức xúc nảy
sinh từ thực tiễn”3 Tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận phải bám sát đường
lối chính trị, quân sự của Đảng, thực tiễn hoạt động của quân đội, cung cấp
nhiều luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng, bổ sung phát triển
đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, góp phần quan trọng xây dựng lực
lượng vũ trang, nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. Qua đó đội ngũ
làm công tác nghiên cứu lý luận có bước trưởng thành và phát triển cả về số
lượng, chất lượng.
Hai là, giải quyết tốt mối quan hệ giữa công tác tư tưởng với công tác
tổ chức; khắc phục sự tách rời hai nhiệm vụ này, khắc phục tình trạng công
tác lý luận chưa theo kịp yêu cầu của cách mạng; công tác tư tưởng chưa gắn
với công tác tổ chức.
Có thể nói công tác tư tưởng đã tập trung cho mặt lý luận, tinh thần. Công
tác tổ chức – vấn đề cơ bản của nó là hiện thực hoá tinh thần, lý luận khoa học
trong các tổ chức và thực tiễn cách mạng. Như vậy, giải quyết tốt mối quan hệ lý
luận và thực tiễn của công tác tư tưởng, công tác lý luận phải biết kết hợp công
tác tư tưởng và công tác tổ chức. Việc xây dựng lý tưởng, bản lĩnh, tinh thần và
trí tuệ cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải trên cơ sở, phải biết kết hợp tốt
với việc xây dựng hệ thống tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ đảng viên…
Ba là, tích cực đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận là một trong các
yêu cầu cơ bản của sự vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong công tác tư tưởng, lý luận hiện nay. Tích cực, chủ động tiến công trên
mặt trận tư tưởng, lý luận làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn của địch. Đồng
thời, đấu tranh khắc phục có hiệu quả các căn bệnh nảy sinh từ mặt trái kinh tế
thi trường như: chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, suy thoái đạo đức, lối
sống… Kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái, khuynh hướng tự do
tư sản, cơ hội chính trị, nâng cao cảnh giác, làm thất bại chiến lược “diễn biến
3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 141.

giải quyết tốt mối quan hệ giữa lý luận khoa học và thực tiễn công tác tư tưởng
lý luận. Đồng thời, phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai mặt đó trên cơ sở
tăng cường tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, nghiên cứu phát triển lý luận, kết
hợp tốt công tác tư tưởng và công tác tổ chức, thường xuyên khắc phục bệnh
kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều trong công tác tư tưởng, lý luận trong
quân đội hiện nay.
18

18


chủ đề 2
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

1 . Mục đích, yêu cầu:
-

làm rõ định nghĩa của phép biện chứng duy vật
Làm rõ kết cấu của phép biện chứng
Nêu lên hệ thống phương pháp luận của PBCDV
ý nghĩa phương pháp luận và vận dụng PBCDV vào công tác đảng,
công tác chính trị trong quân đội

2 . Nội dung bố cục:
(1). Định nghĩa PBCDV
(2). Kết cấu của PBCDV
(3). Một số nguyên tắc phương pháp luận và sự vận dụng vào công tác
đảng, công tác chính trị trong quân đội
3. Thời gian: 4
tiết

- Từ thời triết học cổ đại:
Họ đã đưa ra phép biện chứng song chỉ là phép biện chứng duy vật
tự phát.
Bởi vì:
->bằng quan sát trực tiếp của mọi sự vận động, phát triển mà họ
khái quát thành những tư tưởng biện chứng.
-> Đây là những tư tưởng rời rạc, chưa thành hệ thống, cũng chưa
có hệ thống lý luận về phép biện chứng.
-> PBC Tự phát vừa thể hiện sự tự quan sát trực tiếp các SVHT nó
vận động, phát triển để khái quát nên mà nó còn thể hiện trong khi họ nói về
phép biện chứng mà họ cũng chưa hiểu phép biện chứng là gì.
20

20


Biểu hiện: <có các đại biểu như>
Phương tây: (Hêraclít - Arixtốt )
Phương đông: ( Phật giáo - Thuyết Âm dương- Triết học Lão tử )
- Trong triết học của G.Ph. Hêghen : ( TH cổ điển Đức )
Ông đã xây dựng được phép biện chứng, có cả một hệ thống lý
luận, với hai nguyên lý cơ bản và ba quy luật cơ bản với sáu cặp phạm trù
cơ bản.
-> Lần đầu tiên phép biện chứng trở thành hệ thống lý luận, đây là sự
cống hiến của Hêghen
-> Nhưng là phép biện chứng duy tâm khách quan,
Trong triết học của Hêghen phép biện chứng mâu thuãn với hệ
thống triết học của Ông…đây là mặt hạn chế về TBQ trong triết học của
Hêghen.
- Quan niệm của CNDVBC ( TH Mác- Lênin )

chứng là học thuyết về sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập” 6
-> Tiếp cận dưới góc độ phát triển: V. I. Lênin quan niệm phép
biện chứng “là học thuyết về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất,
sâu sắc nhất và không phiến diện” 7.
+ Từ quan điểm của các nhà kinh điển về phép biện chứng chúng
ta có thể khái quát:
phép biện chứng duy vật là khoa học về những quy luật chung nhất
của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Cần chú ý:
-> phân biệt phép biện chứng và phép siêu hình
Trong lịch tư tưởng nhân loại nói chung và lịch sử triết học nói riêng
do nhận thức và do lập trường quan điểm, cho nên bên cạnh sự hình thành
phát triển tư duy biện chứng (phép biện chứng), thì cũng xuất hiện tư duy siêu
hình(PSH)
. Nếu phép biện chứng cho rằng mọi SVHT luôn nằm trong MLH
PB luôn có sự liên hệ, tác động lẫn nhau của các SVHT và luôn vận động
phát triển. Nguyên nhân của sự VĐ,PT là nguyên nhân bên trong của chính
bản thân SVHT của TGVC.
5

C. Mác và Ph.Ăngghen, toàn tập, Nxb CTQG, H. 1994, t.

20, tr. 38.

6

V.I.Lênin,

toàn


bộ,

M.

1980,

t.

23,

tr.

240.

53.

22

22


.Thì PSH lại cho rằng mọi SVHT không có M L H gì, chúng tồn tại
cô lập tách rời, không vận động, không phát triển.
nếu có thừa nhận sự phát triển thì cho sự phắt triển chỉ là sự thay đổi
về lượng, không có sự thay đổi về chất, nguyên nhân sự liên hệ từ bên ngoài.
->Sự khác nhau giữa phép biện chứng và các khoa học tự nhiên
. phép biện chứng duy vật nghiên cứu những mối liên hệ phổ biến,
những quy luật chung nhất của thế giới khách quan. Đó là những quy
luật bao quát và chi phối toàn bộ thế giới vật chất, cả tự nhiên, xã hội và
tư duy.

MLH PB của TG thì không có cái gì sinh ra và không mất đi, tồn tại vô
cùng vô tận, vĩnh viễn
Còn MLH của SVHT thì có sinh ra và có mất đi, tồn tại có giới hạn cả
về không gian và thời gian
MLH thì đa dạng song có thể khái quát thầnh một số loại MLH sau:
M L H bên trong và M L H bên ngoài
M L H bản chất và không bản chất
M L H cái chung và cái riêng
M L H tất nhiên và ngẫu nhiên
=> Đặc trưng phổ quát nhất của thế giới là sự liên hệ phổ biến. Vì vậy,
nguyên tắc phương pháp luận chung nhất chỉ đạo mọi hoạt động và suy
nghĩ của con người được rút ra ở đây là nguyên tắc toàn diện.
Nguyên lý về sự phát triển
Phất triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát quá trình
vận động tiến lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn
thiện đến hoàn thiện.
Mọi sự vạt hiện tượng vận động phát triển mang tính khách quan - phổ
bến - phong phú muôn vẻ.
Nguyên lý sự phát triển phản ánh đặc trưng biện chứng phổ quát nhất
của thế giới là:
Mọi sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng và
về phương diện bản chất của mọi sự vận động, biến đổi của thế giới có xu hướng tiến lên.

24

24


Vì vậy, nguyên tắc chung nhất chỉ đạo mọi suy nghĩ và hành động của
con người được rút ra ở đây là nguyên tắc phát triển và quan điểm lịch sửcụ thể.

25

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status