LUẬN án TIẾN sỹ PHÁT TRIỂN KINH tế tư NHÂN TRONG nền KINH tế THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG xã hội CHỦ NGHĨA và tác ĐỘNG của nó đến CỦNG cố QUỐC PHÒNG ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 37

1
1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong những năm
qua đã thu được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó
cho phép khẳng định đường lối đổi mới nói chung, đường lối đổi mới kinh tế nói riêng,
trong đó có chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là hoàn toàn đúng đắn.
Việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần thực chất là sự điều chỉnh
QHSX, trước hết là quan hệ sở hữu, làm cho chúng phù hợp hơn với tính chất, trình độ
phát triển của LLSX. Sở hữu tư nhân được pháp luật thừa nhận và bảo hộ là cơ sở cho sự
ra đời và phát triển KTTN trong thời gian qua, đặc biệt sau khi có Luật Doanh nghiệp tư
nhân (1991) và nay là Luật Doanh nghiệp (2005).
Kinh tế tư nhân ra đời và phát triển đã khẳng định rõ vị trí, vai trò quan trọng trong
nền kinh tế quốc dân. Điều này đã được Đại hội IX, Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá IX)
và Đại hội X của Đảng chỉ rõ: KTTN là bộ phận cấu thành quan trọng, là một trong những
động lực của nền kinh tế, đồng thời phát triển KTTN là vấn đề chiến lược, lâu dài trong
suốt TKQĐ lên CNXH ở nước ta. Thực tế trong thời gian qua, KTTN đã có những đóng
góp đáng kể trong tạo ra động lực thúc đẩy sự tăng trưởng và đưa nền kinh tế nước ta vận
động theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, KTTN cũng
bộc lộ những hạn chế, bất cập cả đối với phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng. Hơn
nữa, trong điều kiện hiện nay phát triển KTTN là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà
nước ta, song nhận thức của một bộ phận nhân dân và cán bộ, đảng viên về vấn đề này
cũng còn có những lệch lạc làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của KTTN nói
riêng, đến việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và BVTQ nói chung.
Bởi vậy, việc làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển KTTN trong
nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay là cơ sở cho đánh giá vai trò,
thực trạng, dự báo xu hướng phát triển để có quan điểm và giải pháp phù hợp, một mặt
khuyến khích phát triển KTTN, mặt khác thấy được tác động của nó đến củng cố quốc
phòng (cả mặt tích cực và tiêu cực) để nhà nước định hướng, điều tiết, kiểm soát hoạt động

KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN, mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu như:
Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá IX), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Trần
Ngọc Bút, “Phát triển KTTN định hướng XHCN”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2002; Nguyễn Thị Cành, “Quan điểm và chính sách phát triển KTTN trong TKQĐ
lên CNXH”, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 7/ 2002; Trần Kim Hào, “Một số ý kiến về phát
triển khu vực KTTN ở nước ta”, Tạp chí Kinh tế & Dự báo, số 10/2002; Đặng Xuân Kỳ,
“Phát triển KTTN một vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong TKQĐ lên CNXH ở nước ta”,
Thông tin Công tác tư tưởng lý luận, số 11/2004; Hoàng Văn Hoa, “Một số ý kiến về phát
triển KTTN ở Việt Nam năm 2004”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 93/2005; … bàn về


3
3

phát triển KTTN, nhưng các công trình nghiên cứu này cũng như Nghị quyết của Đảng
mới chỉ luận giải quan niệm về KTTN và một số nội dung liên quan đến phát triển KTTN
là chủ yếu, chưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra quan niệm về phát triển KTTN cũng
như phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN.
Về sự cần thiết phát triển KTTN ở nước ta hiện nay. Đã có nhiều công trình
nghiên cứu trình bày vấn đề này: Lê Xuân Bá “KTTN - bộ phận cấu thành quan trọng của
nền kinh tế nước ta”, Tạp chí Cộng sản, số 22 (8/2002); Hà Huy Thành, Thành phần kinh
tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân lý luận và chính sách, Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2002; Trần Ngọc Bút, Phát triển KTTN định hướng XHCN, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002; Hồ Văn Vĩnh “KTTN trong nền KTTT định hướng
XHCN”, Tạp chí Cộng sản số 21 (7/2003); Vũ Đình Ánh “Vai trò của khu vực KTTN trong
nền KTTT định hướng XHCN”, Tạp chí Lý luận, số 5/2004; Nguyễn Ngọc Sơn “Khu vực
KTTN ngày càng khẳng định vị thế quan trọng ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế & Dự báo, số
4/2005; Lê Khắc Triết, Đổi mới và phát triển KTTN Việt Nam - thực trạng và giải pháp,
Nhà xuất bản Lao động, 2005; Đinh Thị Thơm, KTTN Việt Nam sau hai thập kỷ đổi mới thực trạng và những vấn đề, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005...; Trịnh Thị
Hoa Mai, KTTN Việt Nam trong tiến trình hội nhập, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2005

chung đến củng cố quốc phòng và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Song, liên quan
đến sự tác động của phát triển KTTN đến củng cố quốc phòng ở Việt Nam hiện nay, đáng
lưu ý có công trình: “Vai trò của KTTN trong phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”, luận văn thạc sĩ kinh tế, năm 2003 của tác giả Nguyễn
Thanh Bình. Trong đó, tác giả đã tập trung nghiên cứu vai trò của KTTN đối với phát triển
kinh tế và củng cố quốc phòng với một số tác động tích cực: góp phần đẩy nhanh tăng
trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, trên cơ sở đó góp phần bảo đảm cơ sở vật chất,
nguồn nhân lực trong xây dựng quốc phòng; động viên tinh thần cho LLVT, củng cố khối
đại đoàn kết toàn dân; cho phép khai thác tối đa các nguồn lực KT-XH để phát triển kinh tế
và xây dựng thế trận QPTD vững mạnh. Đồng thời, luận văn cũng chỉ ra một số biểu hiện
tiêu cực đối với củng cố quốc phòng khi thực hiện phát triển KTTN: làm ảnh hưởng đến
giác ngộ lý tưởng và tinh thần cách mạng của một bộ phận nhân dân và cán bộ, chiến sĩ
LLVT; công tác bảo đảm kinh tế cho các hoạt động của LLVT thiếu bền vững; việc bố trí
thế trận cũng như quản lý, xây dựng lực lượng DBĐV và dân quân tự vệ gặp nhiều khó
khăn…. Tuy nhiên, những vấn đề luận văn nêu ra chỉ trong phạm vi địa bàn một tỉnh, cụ
thể là tỉnh Vĩnh Phúc.
Về kinh nghiệm của Trung Quốc trong phát triển KTTN và giải quyết tác động
của phát triển KTTN đến củng cố quốc phòng. Đã có một số công trình nghiên cứu đề
cập vấn đề này: “Vai trò khu vực KTTN trong nền kinh tế Trung Quốc” của tác giả Nguyễn
Mậu Quyết, Tạp chí Thị trường giá cả, số 5/2003; “24 năm KTTN Trung Quốc” của tác giả


5
5

Nguyễn Thái Bá Liên, Thời báo kinh tế Sài Gòn, số 3/2003; “10 quan điểm nhận thức thế
nào về CNXH” của tác giả Tiêu Phong (chuyên gia về các vấn đề quốc tế của Trung Quốc),
Thông tin công tác tư tưởng lý luận, số 11/2004; Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam
hiện nay của tác giả Vũ Quốc Tuấn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006; đáng
lưu ý là 2 công trình: “Khu vực KTTN Trung Quốc: Chính sách, quá trình phát triển và

triển kinh tế đất nước trong TKQĐ. Tuy nhiên, các giải pháp của các công trình nghiên
cứu, (kể cả Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá IX) - nghị quyết chuyên đề về KTTN) mới chủ
yếu đề cập đến khía cạnh kinh tế, chứ chưa đưa ra các giải pháp vừa thúc đẩy phát triển
KTTN vừa bảo đảm củng cố quốc phòng. Hoặc có đề cập đến việc kết hợp kinh tế với
quốc phòng trong phát triển KTTN như luận văn của tác giả Nguyễn Thanh Bình, nhưng
chưa toàn diện và chỉ có ý nghĩa trên phạm vi địa bàn cụ thể của tỉnh Vĩnh Phúc.
Tóm lại, liên quan đến vấn đề phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng
XHCN ở nước ta hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, được tiếp cận ở nhiều góc
độ khác nhau (sự cần thiết cũng như thực trạng, giải pháp... phát triển KTTN trong nền
KTTT định hướng XHCN). Tuy vậy, chưa có công trình nào đề cập một cách toàn diện, có
hệ thống những vấn đề về phát triển KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, đặc biệt là sự tác động của nó đến củng cố quốc phòng ở Việt Nam.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận án
* Mục đích:
Luận giải phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay
và tác động của nó đến củng cố quốc phòng, trên cơ sở đó đề xuất các quan điểm cơ bản và
giải pháp chủ yếu, nhằm vừa thúc đẩy phát triển KTTN vừa bảo đảm củng cố vững chắc
quốc phòng của đất nước.
* Nhiệm vụ:
Từ mục đích nghiên cứu trên đây, luận án có các nhiệm vụ:
- Luận giải những vấn đề cơ bản liên quan đến phát triển KTTN trong nền KTTT
định hướng XHCN và tác động của quá trình đó đến củng cố quốc phòng ở nước ta hiện
nay.
- Tổng quan thực trạng phát triển KTTN cùng những tác động tích cực và tiêu cực
của sự phát triển đó đến củng cố quốc phòng ở nước ta trong thời gian qua.
- Đề xuất một số quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm vừa thúc đẩy phát
triển KTTN vừa bảo đảm củng cố quốc phòng ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Kinh tế tư nhân (bao gồm: các hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ và các loại hình
doanh nghiệp của tư nhân như: công ty TNHH, CTCP, DNTN, công ty hợp danh) vận

- Trên cơ sở phân tích và đánh giá có căn cứ lý luận và thực tiễn tác động của phát
triển KTTN đến củng cố quốc phòng thời gian qua, đưa ra một số dự báo về xu hướng vận
động phát triển của KTTN nước ta trong những năm tới cùng những vấn đề đặt ra đối với
phát triển KTTN và củng cố quốc phòng trong quá trình phát triển KTTN ở nước ta hiện
nay.


8
8

- Các quan điểm và giải pháp đưa ra vừa bảo đảm thúc đẩy phát triển KTTN vừa
bảo đảm củng cố vững chắc quốc phòng của đất nước đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây
dựng và BVTQ trong điều kiện hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Góp phần luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển KTTN trong
nền KTTT định hướng XHCN và sự tác động của quá trình đó đối với sự nghiệp củng cố
quốc phòng ở nước ta. Trên cơ sở đó, góp phần nâng cao nhận thức trách nhiệm của các
cấp, các ngành, của mọi công dân đối với phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng,
BVTQ.
- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy một số
nội dung thuộc các môn: kinh tế chính trị XHCN, kinh tế quân sự, học thuyết BVTQ trong
các nhà trường quân sự.
8. Kết cấu của luận án
Luận án gồm: mở đầu, 3 chương (8 tiết), kết luận, 5 danh mục các công trình của
tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, 102 danh mục tài liệu tham khảo và 13
phụ lục.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ

với nước ngoài đều thuộc khu vực ngoài quốc doanh…” [99, tr.3]. Theo cách phân chia
thành phần kinh tế trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam thì nền kinh tế
quốc dân ở nước ta bao gồm sáu thành phần kinh tế là: KTNN; kinh tế tập thể; kinh tế cá
thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài. Trong các thành phần trên, có thể hiểu kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư
nhân là thuộc về KTTN. Thực ra, kinh tế có 100% vốn nước ngoài cũng nằm trong KTTN
(nếu thuộc sở hữu tư nhân) hoặc theo quan niệm của Tiến sĩ Vũ Quang Việt đã nêu ở trên
thì tất cả các doanh nghiệp mà tư nhân trong nước hoặc nước ngoài nắm trên 50% vốn đầu
tư đều được coi là KTTN. Điều đó cho thấy, quan niệm về KTTN cũng còn có nhiều khác
nhau. Thuật ngữ KTTN được chính thức sử dụng từ Hội nghị Trung ương 6, Khoá VI
(3/1989). Song, cho đến Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá
IX), trong Nghị quyết số 14/NQ/TƯ về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích
và tạo điều kiện phát triển KTTN thì quan niệm về KTTN được xác định: gồm kinh tế cá
thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và
các loại hình doanh nghiệp của tư nhân [25, tr.55]. Đại hội X (4/2006) tiếp tục khẳng định
và làm rõ hơn quan niệm trên về KTTN. Đại hội chỉ rõ: “Trên cơ sở 3 chế độ sở hữu (toàn
dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế:


10
10

KTNN, kinh tế tập thể, KTTN (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước,
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” [26, tr.83]. Theo quan điểm Đại hội X, trên cơ sở 3 chế
độ sở hữu cơ bản hiện đang tồn tại ở nước ta, hình thành nên các thành phần kinh tế với
những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, trong đó có KTTN. Kinh tế tư nhân là thành
phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân với quy mô, trình độ phát triển từ thấp (kinh tế
cá thể tiểu chủ) đến cao (kinh tế tư bản tư nhân).
Tiêu thức cơ bản để xác định một thành phần kinh tế, một hình thức tổ chức SX,KD
nào đó có thuộc KTTN hay không là QHSX, trước hết là quan hệ sở hữu. Theo đó, KTTN

niệm khác nhau. Bởi lẽ, một mặt do KTTN nước ta đang trong quá trình vận động biến đổi
cùng với tốc độ phát triển nhanh chóng của sức sản xuất xã hội và sự ảnh hưởng của các
yếu tố thời đại, đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực SX,KD. Mặt khác, KTTN lại vận động
trong môi trường phát triển KTTT định hướng XHCN. Do vậy, việc xác định như thế nào
là kinh tế tư bản tư nhân cả về định tính và định lượng, nhất là về mặt định lượng hiện nay
là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
Việc Đại hội Đảng X gộp kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân, gọi chung là
KTTN vừa là sự kế thừa lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin về phân chia thành phần kinh
tế vừa là sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Điều
này có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy LLSX phát triển, phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp
phát triển kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh toàn cầu hoá và
hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu rộng hiện nay.
Như vậy, KTTN là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất (hoặc vốn). Do đó, lợi nhuận là mục tiêu cao nhất mà KTTN theo đuổi. Điều này cho
thấy, bên cạnh việc thúc đẩy cạnh tranh, kích thích cải tiến kỹ thuật, quản lý, nâng cao hiệu
quả SX,KD, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá, dịch vụ… cho xã hội, KTTN cũng chứa đựng
yếu tố tự phát (buôn lậu, làm hàng giả, gian lận thương mại, làm gia tăng khoảng cách giầu
nghèo và sự chênh lệch giữa các vùng miền của đất nước, coi trọng lợi ích vật chất đơn
thuần mà ít quan tâm đến các vấn đề xã hội cũng như lợi ích quốc phòng - an ninh, bởi
điều này sẽ làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của chủ KTTN…) và như vậy sẽ làm tăng nguy
cơ chệch hướng XHCN trong quá trình phát triển nếu sự quản lý của nhà nước không được
thực hiện một cách có hiệu quả.
Mặc dù vậy, cũng cần thấy rằng là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân
- nền KTTT định hướng XHCN, bởi vậy, KTTN nước ta hiện nay có nét đặc thù hay nói
cách khác là những đặc điểm khác với KTTN dưới chủ nghĩa tư bản:
Thứ nhất, KTTN không tồn tại và phát triển trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa,
trong thể chế tư bản chủ nghĩa và giữ địa vị thống trị trong nền kinh tế, mà là một bộ phận
trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, định hướng XHCN, bình đẳng trước pháp luật, cùng



động, trong đó có cả cán bộ, viên chức nhà nước nghỉ hưu, mất sức, chuyển ngành, bộ
đội phục viên, xuất ngũ và nhiều người trong số họ là đảng viên v.v…
Đó là chính là sự khác biệt giữa KTTN ở nước ta hiện nay (KTTN trong nền KTTT
định hướng XHCN) với KTTN tư bản chủ nghĩa. Sự khác biệt đó cho thấy, KTTN nước ta


13
13

hiện nay không còn nguyên nghĩa như KTTN trong chủ nghĩa tư bản. Điều này là một
trong những yếu tố quan trọng lý giải cho sự cần thiết không những tồn tại, mà cần được
khuyến khích phát triển đối với KTTN hiện nay.
1.1.2. Sự cần thiết và nội dung phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1.1.2.1. Quan niệm về phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa
Các công trình nghiên cứu về phát triển KTTN và phát triển KTTN trong nền
KTTT định hướng XHCN ở nước ta, mặc dù chưa có công trình nào đưa ra khái niệm
hay quan niệm cụ thể về phát triển KTTN và phát triển KTTN trong nền KTTT định
hướng XHCN, song khi luận giải về thực trạng cũng như các quan điểm hay giải pháp
phát triển KTTN, các công trình nghiên cứu đều đề cập đến một số nội dung như: sự
gia tăng về số lượng, quy mô các hình thức hoạt động của KTTN cùng với việc thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao trình độ, hiệu quả SX,KD cũng như mức độ
huy động vốn, giải quyết việc làm của KTTN… để nói đến sự phát triển KTTN.
Để làm rõ quan niệm phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN, trước
hết đi từ quan niệm về phát triển nói chung và phát triển kinh tế nói riêng. Theo từ điển
bách khoa Việt Nam: “phát triển: phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi
đang diễn ra trong thế giới. Không đơn giản chỉ có biến đổi, mà luôn luôn chuyển sang
những trạng thái mới, tức là những trạng thái trước đây chưa từng có và không bao giờ lặp
lại hoàn toàn trạng thái đã có” [95, tr.434]. Còn “phát triển kinh tế: quá trình biến đổi nền

áp dụng mô hình này ở mỗi nước có sự khác nhau. Với tư cách là một phương thức hay
phương tiện chứ không phải mục đích, KTTT hoàn toàn có thể và cần thiết sử dụng trong
tiến trình xây dựng CNXH. Kinh tế thị trường định hướng XHCN là một thuật ngữ mới
với nhiều cách khái quát khác nhau. Tuy nhiên, qua những cách mô tả về bản chất, mục
đích của KTTT xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc và KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam
có thể thấy, mô hình KTTT này vừa bao hàm những nhân tố của KTTT lại vừa có những
nhân tố định hướng XHCN với mục đích cuối cùng là phát triển kinh tế đạt hiệu quả cao
nhưng vẫn bảo đảm thực hiện công bằng xã hội ngày một tốt hơn. Vì vậy, có thể hiểu:
KTTT định hướng XHCN là một phạm trù kinh tế chính trị, phản ánh bản chất và mục
đích của nền sản xuất xã hội, đó là nền kinh tế vận động dựa trên các quy luật khách
quan, đặc biệt là các quy luật của thị trường, có sự quản lý của nhà nước để xây dựng
QHSX mới, tiến bộ nhằm thực hiện mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh. Nói cách khác, KTTT định hướng XHCN là một nền kinh tế dựa trên
cơ sở kết hợp ưu thế của chế độ kinh tế năng động với ưu thế của chế độ chính trị tiên
tiến; kết hợp mặt tích cực của cơ chế thị trường với sự điều tiết vĩ mô của nhà nước nhằm
hạn chế, khắc phục các mặt tiêu cực của cơ chế thị trường; kết hợp hài hoà giữa tăng


15
15

trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Điều đó cho thấy, KTTT định
hướng XHCN có nghĩa đây không phải là KTTT tự do theo kiểu TBCN, cũng không phải
kinh tế bao cấp, quản lý theo kiểu tập trung quan liêu bao cấp và cũng chưa hoàn toàn là
KTTT xã hội chủ nghĩa, bởi lẽ nước ta còn đang ở trong TKQĐ lên CNXH, còn có sự
đan xen và đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, vừa có vừa chưa có đầy đủ các yếu tố của
CNXH.
So với KTTT tư bản chủ nghĩa, KTTT định hướng XHCN có những đặc trưng cơ
bản như: về mục đích, nhằm phát triển LLSX, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất
- kỹ thuật của CNXH nâng cao đời sống nhân dân, phát triển LLSX hiện đại gắn liền với

hướng tiến bộ, hiệu quả...nhằm góp phần hiện thực hoá các mục tiêu kinh tế - xã hội trong
thời kỳ quá độ.
Như vậy, phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN được tiếp cận
theo hướng kết hợp cả phát triển thành phần kinh tế và lực lượng kinh tế, đồng thời đặt
trong mối quan hệ với các thành phần kinh tế khác trong cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần của nền kinh tế quốc dân.
Phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN, một mặt bao hàm sự phát
triển KTTN nói chung (số lượng, quy mô; cơ cấu; trình độ trang thiết bị, công nghệ; trình
độ lao động, quản lý; hiệu quả SX,KD...). Mặt khác, sự phát triển đó còn bảo đảm góp
phần tích cực trong việc hiện thực hoá các mục tiêu KT-XH trong thời kỳ quá độ như: huy
động vốn cho SX,KD; tạo và giải quyết việc làm cho người lao động; tăng thu cho ngân
sách nhà nước cũng như nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người lao động v.v.... Hơn
nữa, sự phát triển KTTN không phải diễn ra trong môi trường KTTT tư bản chủ nghĩa, mà
diễn ra trong môi trường phát triển KTTT định hướng XHCN. Do đó, phát triển KTTN
đồng thời chịu sự chi phối của cả quy luật KTTT (quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy
luật cung - cầu…) và sự quản lý, định hướng của nhà nước. Mặt khác, sự phát triển của
KTTN ở nước ta hiện nay không chỉ diễn ra trong phạm vi quốc gia và chịu sự tác động
của các yếu tố trong quá trình phát triển nền KTTT định hướng XHCN, mà còn diễn ra
trong điều kiện của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế của đất nước đang
diễn ra sâu rộng, mạnh mẽ.
Phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN xuất hiện cùng với việc
Đảng, Nhà nước ta chủ trương thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Còn trước
đổi mới, trong nhiều năm do nhận thức về CNXH và TKQĐ còn nhiều hạn chế nên quá
trình xây dựng CNXH ở nước ta cũng là quá trình thực hiện “cải tạo XHCN” đối với
KTTN. Theo đó, KTTN không được pháp luật thừa nhận, bị coi đối tượng cần phải xoá bỏ
càng nhanh càng tốt. Từ khi Đảng ta chủ trương thực hiện đường lối đổi mới, KTTN trong
cơ cấu kinh tế nhiều thành phần được thừa nhận và khuyến khích phát triển trong những


17

thành phần của cả hai kết cấu kinh tế của CNXH và chủ nghĩa tư bản. Đó là đặc điểm phổ
biến đối với tất cả các nước khi bước vào TKQĐ lên CNXH, không kể nước đó đã qua
phát triển chủ nghĩa tư bản hay chưa qua phát triển chủ nghĩa tư bản. Thực tiễn ở nước Nga


18
18

cho thấy, trong TKQĐ lên CNXH cũng tồn tại nhiều thành phần kinh tế, trong đó có: kinh
tế kiểu gia trưởng, kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ, kinh tế tư bản chủ nghĩa, kinh tế tư bản
nhà nước, kinh tế XHCN. Còn đối với nước chậm phát triển như nước ta, thì kết cấu kinh
tế đa dạng ấy còn phải kể đến những mảnh, những bộ phận của kết cấu kinh tế tiền phong
kiến và phong kiến v.v.... Từ đặc điểm kinh tế của TKQĐ nêu trên cho thấy, KTTN còn tồn
tại và phát triển trong TKQĐ lên CNXH là một yêu cầu không thể thiếu.
Thứ hai, do yêu cầu của quy luật về sự thích ứng của QHSX với tính chất, trình độ
phát triển của LLSX. Quan hệ sản xuất và LLSX là hai mặt hợp thành của phương thức sản
xuất, có tác động qua lại biện chứng với nhau. Tương ứng với một trình độ phát triển nhất
định của LLSX, có một QHSX nhất định. Đồng thời, QHSX cũng có tác động ngược lại
đối với sự phát triển của LLSX theo hướng thúc đẩy hoặc kìm hãm. Quan hệ sản xuất
không bao giờ ở trạng thái tĩnh, nó luôn luôn vận động và phát triển gắn liền với sự vận
động và phát triển của LLSX. Khi mà QHSX phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của LLSX thì nó tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ của LLSX. Ngược lại,
nó sẽ kìm hãm LLSX phát triển. Nói về mối quan hệ biện chứng giữa QHSX và LLSX,
Đại hội VI của Đảng đã nêu lên một luận điểm mới: “LLSX bị kìm hãm không chỉ trong
trường hợp QHSX lạc hậu, mà cả khi QHSX phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi
quá xa so với trình độ phát triển của LLSX” [21, tr.57]. Như vậy, quy luật về một hình thức
nhất định của QHSX phải tương ứng với một trình độ nhất định của LLSX là một quy luật
phổ biến của mọi thời đại kinh tế. Không thể xoá bỏ một hình thức QHSX nào đó, khi
LLSX tương ứng với nó đang còn sức sống, đang còn là một tất yếu đối với xã hội. Việc
tồn tại thành phần kinh tế này, hay thành phần kinh tế khác không phụ thuộc ý chí chủ

- Cơ sở kinh tế mang tính đa dạng về sở hữu và thành phần kinh tế để bảo đảm
tính tự chủ, tự do SX,KD… của các chủ thể kinh tế, trong đó KTTN có vai trò quan trọng
trong việc làm sống động thị trường.
- Các phạm trù kinh tế vốn có của KTTT như: hàng hoá, tiền tệ, thị trường, cạnh
tranh, cung cầu, giá cả, giá cả thị trường và lợi nhuận được phát huy đầy đủ chức năng
của mình.
- Nền kinh tế chịu sự tác động hàng ngày, hàng giờ của các quy luật kinh tế khách
quan của KTTT (quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cung - cầu và quy
luật cạnh tranh).
- Cơ chế thị trường là cơ chế kinh tế tất yếu, vì chỉ thông qua cơ chế thị trường mới
liên kết được các nhà sản xuất riêng lẻ vào hoạt động kinh tế của quốc gia. Đồng thời, cạnh
tranh là tất yếu để tồn tại của các đơn vị kinh tế.


20
20

- Nhà nước quản lý nền kinh tế theo nguyên tắc kết hợp thị trường với kế hoạch,
phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường bảo vệ lợi
ích của người lao động và của toàn thể nhân dân.
- Đó là một nền kinh tế mở (mở rộng thị trường dân tộc và từng bước hội nhập vào
thị trường khu vực và quốc tế).
Từ những thuộc tính chung của KTTT cho thấy, sự tồn tại sở hữu tư nhân và
KTTN là một yếu tố không thể thiếu trong nền KTTT định hướng XHCN. Bởi lẽ, như
chúng ta đã biết, sở hữu tư nhân có quy luật phát sinh, tồn tại, phát triển và kết thúc vai
trò lịch sử của nó. Phân công lao động xã hội và sở hữu tư nhân chính là tiền đề ra đời
sản xuất hàng hoá. Mỗi bước phát triển sản xuất hàng hoá lại thúc đẩy phân công lao
động xã hội đạt tới một trình độ cao hơn và sở hữu tư nhân, KTTN cũng đạt tới bước
phát triển tương ứng. Trong thực tiễn, sở hữu tư nhân là yếu tố “cốt lõi” của nền kinh tế
hàng hoá và là nhân tố rất quan trọng của QHSX. Phân công lao động xã hội là tác nhân

chuyển đổi, KTTT tự do và KTTT hiện đại, thì quá trình đa dạng hoá sở hữu cũng từ tư
hữu nhỏ chuyển thành tư hữu lớn và đa dạng hoá các hình thức sở hữu. Điều đó chứng tỏ,
để có một nền KTTT phát triển thì không thể không có sự phát triển của KTTN. Khi
nghiên cứu về KTTT, các nhà nghiên cứu cũng cho rằng, một nền KTTT hoạt động tốt
cần có năm đặc điểm chủ yếu như: 1) phân phối các nguồn lực một cách hiệu quả; 2) tạo
ra những nguồn lực mới thông qua việc đổi mới sản phẩm và đổi mới quá trình xử lý; 3)
thích nghi nhanh chóng và có hiệu quả trước sự thay đổi hoàn cảnh; 4) duy trì sự ổn
định kinh tế, tránh được những hiện tượng thất nghiệp và lạm phát cao; 5) tạo hiệu
quả xã hội mong muốn, tránh phân hoá giầu nghèo quá mức [1, tr.54]. Nếu hai đặc
điểm 4 và 5 quy định vai trò của nhà nước và kinh tế nhà nước, thì các đặc điểm 1, 2
và 3 thể hiện rõ nhất vai trò của KTTN. Như vậy, rõ ràng KTTN là thành phần kinh tế
hội đủ các điều kiện, đặc trưng đối với sự phát triển của KTTT nói chung, phát triển
KTTN là yêu cầu tất yếu trong nền KTTT định hướng XHCN. Theo các nhà kinh tế
học, trong đó có Kornai Janos thì, KTTN có vai trò quyết định trong việc hình thành
và thực thi cơ chế điều tiết tự nhiên của nền KTTT. Chính vì vậy, ông cho rằng không
thể có một nền KTTT thực sự với một khu vực tư nhân ốm yếu [15, tr.11]. Hay như,
Joseph Stigliz - chủ nhân của giải thưởng Nobel kinh tế năm 2001, khi nói về nền
kinh tế Việt Nam, ông đã khẳng định: một nền kinh tế phát triển mạnh không thể
không tính tới khu vực tư nhân. Chính phủ Việt Nam cần tạo ra một nền kinh tế mà
trong đó coi trọng đầu tư cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, bởi chính sự tham
gia của tư nhân là động lực tạo ra cạnh tranh, phát huy sáng tạo và đem lại lợi ích
thiết thực cho người dân [63, tr.35]. Tuy nhiên, ở nước ta phát triển KTTN là nhằm
thực hiện mục tiêu XHCN, do đó KTTN phát triển trong nền KTTT định hướng


22
22

XHCN với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ
vai trò chủ đạo, dưới sự quản lý, điều tiết của nhà nước theo định hướng XHCN.

23
23

nhu cầu tiêu dùng của xã hội, mà còn là động lực để KTNN thực hiện tốt vai trò chủ đạo
thông qua quá trình cạnh tranh.
* Phát triển kinh tế tư nhân góp phần khai thác và tận dụng có hiệu quả các nguồn
lực xã hội, tạo sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế.
Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển đồng nghĩa với việc các tiềm năng về
vốn, lao động, KH-CN cũng như các nguồn tài nguyên khác... trong nhân dân, trên các địa
phương, các vùng miền của đất nước được huy động ngày càng nhiều và có hiệu quả vào
quá trình SX,KD. Chính sự phát triển KTTN làm cho các cơ sở SX,KD không ngừng được
mở rộng cả về số lượng, phạm vi và quy mô. Cùng với sự tăng lên về số lượng cơ sở sản
xuất, quy mô vốn là sự tăng lên về số lao động được sử dụng trong KTTN, góp phần tích
cực ổn định xã hội và tăng trưởng của nền kinh tế đất nước. Qua số liệu của Tổng cục
Thống kê về chỉ số phát triển tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh năm 1994 (bảng
1.1) cho thấy, KTTN có sự tăng trưởng liên tục qua các năm. Trong đó, kinh tế cá thể từ
103,68% (năm 2000) tăng lên 107,47% (năm 2005) và các loại hình doanh nghiệp của tư
nhân từ 109,7% (năm 2000) tăng lên 114,01% (năm 2005).
Bảng 1.1: Chỉ số phát triển tổng sản phẩm trong nước
theo giá so sánh năm 1994 (đơn vị tính %)

Kinh tế cá thể
Doanh nghiệp
thuộc KTTN

Năm 2000

Năm 2002

Năm 2003

không có KTTN (kinh tế nhiều thành phần) và KTTN không chỉ là “vốn tính” của KTTT
mà còn là động lực cơ bản của nền kinh tế đó. Đồng thời, chính sự phát triển của KTTN đã
đặt ra những yêu cầu mới thúc đẩy hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN. Theo đó,
một hệ thống luật và các quy định cần thiết nhằm tạo hành lang pháp lý cho phát triển
KTTN nói riêng và KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa nói chung ở nước ta đã và đang


24
24

từng bước được hoàn thiện. Đặc biệt, trong bối cảnh của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế
quốc tế đang diễn ra sâu rộng, mạnh mẽ hiện nay, thì việc phát triển KTTN cùng với KTTT
được coi như là nhân tố quan trọng góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt Nam. Có thể thấy rõ điều này thông qua việc đàm phán gia nhập Tổ chức Thương
mại thế giới của nước ta vừa qua, việc chúng ta chính thức trở thành thành viên thứ 150
của Tổ chức Thương mại thế giới đã chứng tỏ bước tiến vượt bậc trong nỗ lực đổi mới,
phát triển KTTN và KTTT định hướng XHCN của Đảng, Nhà nước ta.
* Phát triển kinh tế tư nhân góp phần làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính
chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Chính sự phát triển KTTN với nhiều loại hình kinh tế khác nhau, đã góp phần làm cho
QHSX chuyển biến phù hợp với LLSX trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế nước ta.
Trong TKQĐ, trình độ LLSX ở nước ta không những thấp mà còn tồn tại nhiều trình độ
khác nhau. Bởi vậy, tương ứng với nó là sự đa dạng trong quan hệ sở hữu, cùng với sở
hữu toàn dân và sở hữu tập thể còn có sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và sở hữu hỗn
hợp. Sự chuyển biến trong quan hệ sở hữu kéo theo sự chuyển biến trong quan hệ quản
lý, bên cạnh đội ngũ giám đốc và những người làm công ăn lương trong các DNNN, hình
thành tầng lớp chủ doanh nghiệp và đội ngũ lao động làm thuê trong các DNTN… làm
xuất hiện quan hệ chủ thợ, quan hệ thuê mướn lao động thông qua hợp đồng kinh tế
v.v… Cùng với sự chuyển biến trong quan hệ sở hữu và quan hệ quản lý, quan hệ phân
phối cũng trở nên đa dạng hơn, ngoài phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế

hàng sản xuất. Các làng nghề truyền thống với các mặt hàng thủ công, mỹ nghệ đa dạng về
hình thức, mẫu mã, hợp thị hiếu người tiêu dùng, thu hút được sự quan tâm của đông đảo
khách hàng ở nhiều nước, đặc biệt là các nước Châu Âu. Đây là một trong những yếu tố
quan trọng góp phần nâng cao sức cạnh tranh và khẳng định vị trí, thương hiệu của hàng
hoá Việt Nam trên thị trường quốc tế. Theo số liệu thống kê, hiện nay cả nước có trên 2000
làng nghề với 1,4 triệu hộ tham gia và sản phẩm ngành nghề thủ công đã đóng góp lớn vào
kim ngạch xuất khẩu, năm 2003 đạt 367 triệu USD (tăng 56,2% so với năm 2001), năm
2004 chưa kể xuất khẩu đồ gỗ đạt 450 triệu USD (tăng 22,6% so với năm 2003) [42, tr.30].
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, KTTN còn tồn tại và phát triển trong TKQĐ
lên CNXH ở nước ta là một đòi hỏi khách quan phù hợp với quy luật và thực tiễn Việt
Nam.

Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân - nền KTTT định

hướng XHCN. Kinh tế tư nhân không phải là bộ phận đối lập với CNXH mà nó tồn tại đan xen với
KTNN, kinh tế tập thể, bổ sung cho sự phát triển của các thành phần kinh tế này và tạo điều kiện thúc
đẩy phát triển KTTT định hướng XHCN.

1.1.2.3. Nội dung phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status