LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận này là công trình nghiên cứu độc lập của cá
nhân tôi dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của Tiến Sỹ. Triệu Thế Việt. Bài
khóa luận được trình bày theo yêu cầu, quy định của khoa Du lịch học, trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn đề ra. Mọi số liệu và thông tin trong bài nghiên
cứu đều được trích dẫn nguồn rõ ràng. Mọi sai xót trong quá trình nghiên cứu tôi
xin chịu hoàn toàn tráchnhiệm.
Tôi xin cam đoan.
Hà nội, ngày 15 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Trịnh Thị Hạnh
1
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô trong khoa và ngoài khoa Du lịch
học, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân Văn đã giảng dạy và tận tình
giúp đỡ, chỉ bảo, cung cấp những kiến thức khoa học, những kĩ năng cơ bản
trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Đặc biệt, Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sỹ. Triệu Thế Việt
đã tận tình hướng dẫn, chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện Khóa luận tốt
nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Giám đốc Trung tâm bảo tồn Di sản
Thành nhà Hồ cùng toàn bộ cán bộ công nhân viên của Trung tâm bảo tồn Di
sản Thành nhà Hồ và cán bộ quản lý bảo vệ di tích Đàn tế Nam Giao, đã tạo
điều kiện giúp đỡ tận tình trong quá trình tìm hiểu và khảo sát ở di tích.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song điều kiện
thời gian và khả năng có hạn nên Khóa luận chắc không tránh khởi những hạn
chế và thiếu sót. Vì vậy rất mong sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn để
bài nghiên cứu của tôi được hoàn thiện hơn.
1.1.1. Điều kiệntựnhiên......................................................................................5
1.1.2. Điều kiện xã hội cho sự ra đời của ThànhTâyĐô....................................6
1.2.Những giá trị văn hóa tiêu biểu của ThànhTâyĐô.............................................9
1.2.1. Giá trị bố phòng quân sự của ThànhTâyĐô.....................................................11
1.2.2.Giá trị nghệ thuật tạo hình của kinh ThànhTâyĐô................................. 18
1.2.3. Các điểm tham quan phụ cận ThànhTâyĐô.....................................................34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DU LỊCH Ở THÀNHTÂYĐÔ...................40
2.1. Khái quát về hoạt động kinh doanh du lịch của tỉnh Thanh Hóa và Thành
TâyĐô.............................................................................................................. 40
2.2. Một số vấn đề của công tác quản lý Di sản ThànhTâyĐô........................41
2.3. Hoạt động kinh doanhdulịch.....................................................................45
2.3.1. Hệ thống cơ sở vật chất phục vụdulịch............................................................45
2.3.2 Nguồn nhân lực phục vụdulịch...............................................................49
2.3.3 Hoạt động khai thác các giá trị di sản văn hóa Thành Tây Đô phục vụ du
lịch 51
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KHAI THÁC CÁC GIÁ
TRỊ DI SẢN VĂN HÓA THÀNH TÂY ĐÔ PHỤC VỤDULỊCH..............59
3.1. Giải pháp tại điểm du lịch ThànhTâyĐô...................................................59
3.1.1. Tăng cường hoạt động điều tra nghiên cứu khảo cổ, bảo tồn, bảo tàng59
3.1.2. Xúc tiến quảng bá du lịch Thành nhà Hồ và các điểmphụcận...............61
3.1.3. Đầu tư xây dựng tăng cường cơ sở vật chất phục vụdu lịch..................62
3.1.4. Nâng cao chất lượng nguồnlaođộng...................................................... 63
3.1.5. Quản lý và xây dựng chiến lựơc phát triển du lịch tại Thành Tây Đô ..64
3.2. Giải pháp với tour tuyếndulịch.................................................................67
3.2.1. Tổ chức xây dựng liên kết các tour tuyến du lịchliênvùng....................67
KẾTLUẬN......................................................................................................77
PHỤLỤC.........................................................................................................80
TÀI LIỆUTHAMKHẢO............................................................................... 98
4
Ủy bannhân dân
UBND
Hợp tácxã
HTX
Quốclộ
QL
Sở Văn hóa Thể thao Du lịch tỉnhThanhHóa
SVH-TTDLTH
Bảnđồ
BD
Diệntích
S
Chuvi
P
Tổ chức Văn hóa, Khoa học và GiáodụcLiên
Nghiên cứu về lịch sử hình thành và
phát triển của xứ Thanh, có nhiều đánh giá
đây là mảnh đất “địa linh nhân kiệt”. Bởi suốt
mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, vùng
đất này đã sản sinh ra cho dân tộc ta nhiều anh
hùng dân tộc, danh nhân văn hóa . Được ban
tặng nhiều tài nguyên đã tạo nên một Xứ
Thanh có sông đủ sâu, núi đủ cao, đất đủ rộng,
con người đủ tài. Với sự tồn tại của “1535 di
tích lịch sử, văn
Bên cạnh đó, các vùng miền trong tỉnh
hóa, trong đó có
lại được thiên nhiên ưu đãi với sự đa dạng về
134 di tích được xếp
địa hình, thuận lợi về khí hậu…tất cả những
hạng quốc gia, 412
điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát
di tích xếp hạng cấp
triển nông – công – lâm - ngư nghiệp. Không
chinh
phục
công
nghệ đúc đồng. Điều
này được thể hiện và
chứng minh rất rõ
thông qua nhiều di
chỉ khảo cổhọc.
thế với sự tồn tại của nhiều danh lam thắng cảnh kỳ thú như: Biển Sầm Sơn,
biển Hải Hậu, vườn Quốc gia Bến En (Như Thanh), động Từ Thức (Nga
Sơn), suối cá thần Cẩm Lương (Cẩm Thủy), động Tiên Sơn (Vĩnh Lộc), động
Hồ Công (Vĩnh Lộc)…đã tạo điều kiện thuận lợi phục vụ việc phát triển du
lịch của địa phương. Đặc biệt với sự có mặt của di sản Văn hóa thế giới
Thành Tây Đô càng khẳng định sức hấp dẫn và tiềm năng du lịch hiếm có của
vùng đấtnày.
Với việc chứa đựng nhiều giá trị quý báu về văn hoá lịch sử, truyền
thống của một nhà nước quân chủ quý tộc nên trong năm vừa qua Thành Tây
Đô đã được tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên Hiệp Quốc
(UNESCO) công nhận là Di sản Văn hóa thế giới. Bởi thế, Thành Tây Đô
không chỉ là niềm tự hào của riêng người dân xứ Thanh mà còn là của toàn
thể dân tộc ViệtNam.
Cát cứ trên huyện Vĩnh Lộc, mặc dù là nơi có nhiều tài nguyên du lịch,
hơn nữa lại là một vị trí thuận lợi giao cách giữa quốc lộ 45- 217 và các tour
tuyến du lịch trong vùng nhưng hiện nay việc quan tâm và khai thác những
giá trị du lịch ở di tích này vẫn chưa thực sự xứng tầm. Xuất phát từ yêu cầu
4. Phạmviđềtài:
Về không gian: Đề tài nghiên cứu tổng quan khu di tích Thành Tây Đô
trong mối tương quan với các di tích và danh lam, thắng cảnh khác trên địa
bàn tỉnh Thanh Hóa.
Về thời gian: Hoạt động khai thác các giá trị di sản văn hóa Thành Tây
Đô trong những năm gần đây từ 2009 - 2012.
5. Phương pháp nghiêncứu
* Về phương pháp côngcụ:
Khoá luận được hoàn thiện dựa trên nhiều phương pháp khác nhau. Tác
giả đã tổng hợp từ các tài liệu sơ cấp và thứ cấp, các tài liệu từ các tạp chí, và
nhiều phương tiện thông tin đại chúng. Bên cạnh đó tác giả đã tham gia khảo
sát điều tra tại khu di tích thăm Đàn Nam Giao, di tích Thành Tây Đô và các
di tích phụ cận, thăm TTBTDSTNH, khảo sát các cơ sở kinh doanh lưu trúăn
uống cũng như các cơ sở vui chơi giải trí ở huyện Vĩnh Lộc. Trong quá trình
khảo sát thực tiễn tác giả đã ghi chép cập nhập được nhiều nguồn thông tin
mới, chụp được nhiều hình ảnh ở di tích cũng như các di tích phụ cận. Ngoài
ra, tác giả đã có điều kiện trò truyện, thăm dò ý kiến của các chuyên gia có
chuyên môn.
* Về phương pháp tiếpcận:
-
Phương pháp liên ngành: Trong bài khoá luận tác giả đã vận
dụng, tìm hiểu nhiều ngành khoa học khác nhau nhằm làm rõ các vấn đề
nghiên cứu. Các ngành khoa học tác giả sử dụng chủ yếu gồm: địa lý,
lịch sử, văn hoá, địa chất, du lịch, khảo cổ, xã hội học, kinhtế....
-
Dù trải qua bao nhiêu thời đại, với bao biến cố thăng trầm lịch sử, qua
bao cuộc sát nhập và phân chia, song không phải vì thế mà làm mất đi những
nét đặc trưng của “đất và người” nơi đây - mảnh đất chứa đựng nhiều nguồn
tài nguyên rất phong phú và đa dạng, cùng những con người đã anh dũng hi
sinh trong chiến đấu và lao động sản xuất.
Thanh Hoá có đầy đủ và đa dạng các dạng địa hình: Vùng trung du
miền núi, vùng đồi núi, vùng đồng bằng và vùng ven biển. Trong đó đồi núi
chiếm diện tích lớn nhất của tỉnh với 3/4 diện tích của cả tỉnh. Địa hình Thanh
Hóa nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Dọc sườn phía Tây được che
chắn bởi dãy núi Trường Sơn. Ở phía Tây Bắc, là những đồi núi cao trên
1000m đến 1.500m thoải dần, kéo dài và mở rộng về phía Đông Nam tạo
thành bức tường thành tự nhiên cản trở sự ảnh hưởng của bênngoài.
Vùng châu thổ sông Mã được đánh giá là lớn thứ 3 sau đồng bằng châu
thổ sông Cửu Long và đồng bằng châu thổ Sông Hồng. Sông Mã không chỉ
bồi đắp nên một đồng bằng rộng lớn và tươi tốt, nó còn là giao thông huyết
mạch với các vùng tạo điều kiện thông thương phát triển kinh tế trong vùng.
Đồng thời dòng sông Mã cũng là nơi bầy binh bố trận, xây dựng tuyến phòng
thủ kiên cố trong nhiều trận đánh chống quân xâm lược .
Vì vậy, so với Thăng Long thì Xứ Thanh không có nhiều điều điều kiện
để phát triển kinh tế nhưng về mặt hình thế thì Thăng Long không thể hiểm
bằng Thanh Hoá. Hơn nữa, Thăng Long còn là nơi đóng đô của nhà Trần gần
2 thế kỷ, các tiềm lực và ảnh hưởng của nhà Trần tạo nên ở Thăng Long rất
lớn. Để giành giật ngôi vị nhà Trần ở vùng đất này là rất khó. Nên ngoài
Thăng Long ra không vùng nào hợp hơn Thanh Hoá. Bởi việc ổn định chính
trị trấn an đất nước và xây dựng hệ thống phòng ngự chống quân xâm lược
cần nhanh chóng thựchiện.
Miền núi Thanh Hoá là sự nối dài của Tây Bắc thuộc dãy Hoàng Liên
Sơn có nhiều dãy núi đá vôi cao. Do kiến tạo của địa hình núi ở đây không
hình đất nước rối ren và bất ổn định, với vai trò là người có ảnh hưởng lớn
trong triều đình lại được vua Trần Nghệ Tông tín nhiệm Hồ Quý Ly đã ban
hành nhiều cải cách hành chính nhằm giữ yên đất nước. Đồng thời ông đã cho
xây dựng Thành Tây Đô nhằm phục vụ cho mưu đồ cướp ngôi nhà Trần và
chống lại giặc ngoại xâm.
Thành Tây Đô ra đời gắn với vai trò chủ chốt Hồ Quý Ly:
Hồ Quý Ly (1336 - ???) tự là Lý Nguyên, dòng dõi trạng nguyên Hồ
Tùng Bật, nguời Chiết Giang - một tỉnh ở ven biển Trung Quốc, phía Nam
cửa sông Dương Tử. Hồ Quý Ly quê cũ ở hương Đại Lại bây giờ thuộc xã Hà
Đông huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa. Hồ Quý Ly một đại quý tộc và đại
thần nhà Trần. Theo các tài liệu lịch sử cho thấy thì Hồ Quý Ly có quan hệ
mật thiết với triều đại nhà Trần. Mối quan hệ đó được bắt đầu từ việc Trần
Minh Tông lấy hai cô của Hồ Quý Ly trong đó một bà là Minh Từ sinh ra
Nghệ Tông và một bà là Đôn Từ sinh ra Duệ Tông, hai vị này đều từng làm
vua nhà Trần. Hồ Quý Ly bước vào chính trường Đại Việt và dưới đời vua
Trần Nghệ Tông ông đảm nhiệm trọng trách của một vị quan võ. Ngay trong
thời gian đầu tham gia chính trường ông đã dần thể hiện và khẳng định vai trò
to lớn của mình đối với sự suy thịnh của vương triều nhà Trần. Chính vì thế ở
độ tuổi 34 ông đã trở thành cánh tay phải đắc lực của Trần NghệTông.
Sau khi Nghệ Tông qua đời (1395) đã mở ra một chặng mới trong quá
trình tham chính của Hồ Quý Ly. Với sự tiếm quyền của mình, Hồ Quý ly đã
tập trung mọi quyền lực vào trong tay mình. Nắm trong tay quyền lực đó, Hồ
Quý Ly đã âm mưu thực hiện và thành công mưu đồ cướp ngôi của mình vào
năm 1400. Từ đây nhà Hồ ra đời, đổi tên nước Đại Việt thành Đại Ngu. Hồ
Quý Ly niên hiệu là Thánh Nguyên trị vì trong 1 năm 1400 rồi nhường ngôi
cho con là Hồ Hán Thương lấy niên hiệu là Thiệu Thành (trị vì năm 14001407). Trong những năm cầm quyền ngắn ông đã có một số chính sách cải
cách hành chính thay đổi tình hình đất nước như: phát hành tiền giấy, cải cách
hành chính và ban hành chính sách hạn điền. Hồ Quý Ly áp đặt một loại tiền
đầu tiên nhằm chống thù trong giặc ngoài nên Hồ Quý Ly đã biến thành Tây
Đô trở thành một tòa thành quân sự kiên cố chỉ trong vòng 3tháng.
Thứ hai: Vị trí xây dựng thành cũng đã được Hồ Quý Ly xem xét và
chọn lựa khá kỹ lưỡng vùng đất đặt thành, phù hợp với yêu cầu cấp thiết của
lịch sử cũng như tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình xây dựng.
Trong tình hình lịch sử và xã hội đầy biến động, những hành động cải
cách của Hồ Quý Ly dù mang những lợi ích phục vụ cho tầng lớp quý tộc
nhưng nhiều chính sách cải cách của ông đã phần nào cải thiện tình hình xã
hội lúc bấy giờ. Cũng nhờ những cải cách đó đã để lại cho chúng ta Thành
Tây Đô với bao giá trị mà chúng ta có thể khai thác hoạt động du lịch nhằm
cải thiện tình hình kinh tế của địa phương cũng như kinh tế của đấtnước.
1.2.Những giá trị văn hóa tiêu biểu của Thành TâyĐô
Đất nước Việt Nam đã trải qua bao thời kỳ từ thịnh vượng tới suy tàn,
nhưng chúng ta vẫn giữ được gốc tích. Trải qua bao thời kỳ đấu tranh dựng
nước và giữ nước nhiều công trình xây dựng được dựng lên chứa đựng biết
bao giá trị văn hóa tiêu biểu cho một thời đại. Nhưng tới nay với sự tàn phá
của thời gian, của chiến tranh, thiên tai bão lụt, của con người nhiều công
trình xây dựng, nhiều hiện vật bị vùi sâu trong lòng đất hoặc bị mất. Trong số
đó có nhiều công trình vẫn thi gan cùng “tuế nguyệt”mặc cho sự tàn phá của
thời gian, của các tác nhân khác nhưng những giá trị của nó tồn tại cho tới
ngày nay đáng được ghi nhận và bảo vệ. Đại diện tiêu biểu mà tác giả muốn
nói tới là thành cổ TâyĐô.
Thành Tây Đô là kinh đô nước Đại Ngu thời nhà Hồ (quốc hiệu Việt
Nam thời nhà Hồ). Hồ Quý Ly đã xây dựng thành năm 1397. Trải qua nhiều
biến cố thăng trầm của lịch sử thành được gắn với nhiều tên gọi khác nhau
như: Thành An Tôn vì khu vực này vào cuối thời Trần có tên là động An Tôn,
Thành Tây Đô vì thành là kinh đô của nước Đại Việt (1397-1400) và Đại Ngu
(1400 - 1407); thành Phủ Thanh Hoá do nhà Minh đặt sau khi chiếm nước,
1.2.1. Giá trị bố phòng quân sự của Thành TâyĐô
Trước họa xâm lăng nhà Hồ rất coi trọng công cuộc phòng thủ đất
nước. Thời kỳ này cũng xuất hiện nhiều công trình kỹ thuật quân sự khá lớn.
Thành Tây Đô là đô thành nhưng mang nặng ý nghĩa phòng vệ, “là thành Đa
Bang và cả một hệ thống công trình phòng thủ có quy mô lớn, dài gần 400km
kéo dài từ núi Tản Viên, men theo sông Đà, sông Hồng, sông Luộc đến cửa
sông Thái Bình. Đó là hệ thống các chướng ngại vật gồm những bãi cọc,
những mắt xích cùng với các đồn quân ở khắp các cửa sông, cửa nguồn ải
quan… Đối với lịch sử quân đội cổ trung đại, đây là thời kỳ xây dựng được
một công trình phòng ngự có quy mô to lớn nhất trên một chính diện rộng và
có chiều sâu lớn, đồ sộ gấp nhiều lần phòng tuyến sông Như Nguyệt thời Lý
chống Tống hồi thế kỷ XI”[15, tr28]. Thành khẳng định sự cố gắng tổng huy
toàn bộ nhân lực và vật lực trong việc xây thành, đồng thời chứng tỏ tài năng
tổ chức phòng thủ quân sự của cha ôngta.
- Mục đích xây thành:
Sự ra đời của Thành Tây Đô gắn liền với vai trò chủ quan của Hồ Quý
Ly. Trước họa xâm lăng, nhà Hồ rất coi trọng công cuộc phòng thủ đất nước.
Vì vậy, Thành Tây Đô được dựng lên nhằm chống lại giặc ngoại xâm, thay
đổi triều đại cải cách đưa đất nước thoát khỏi tình trạng suy thoái và chống lại
sự chống đối của quý tộc nhà Trần. Nhưng với yêu cầu cấp thiết đầu tiên
nhằm chống thù trong giặc ngoài nên Hồ Quý Ly đã biến Thành Tây Đô trở
thành một tòa thành quân sự kiên cố chỉ trong thời gianngắn.
- Vị trí chọn xâythành
Trên cơ sở khảo sát vùng Tây Đô thuộc các xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến,
huyện Vĩnh Lộc, ngày nay chúng ta thấy hiện ra một vùng đất bằng phẳng
rộng rãi thuộc trung du lắm sông, nhiều núi vây bọc, địa thế hiểm trở nhưng
tiện đường thủy bộ thông thương ra Bắc và Nam. Địa thế đó mà Lê Tạo đã
từng đánh giá: “Thành Tây Đô cát cứ nơi đất chật, hẹp, hẻo lánh. Được án
thông qua lại ở thành cũng rất thuận tiện nên kinh thành Tây Đô không bị cô
lập với bên ngoài. Lựa chọn vùng đất mới Tây Đô xây dựng kinh thành là một
lựa chọn vô cùng táo bạo của Hồ Quý Ly. Qua việc lựa chọn và phân tích địa
thế kỹ lưỡng và đưa ra quyết định dứt khoát táo bạo mặc cho sự can ngăn của
triều thần càng khẳng định tài mưu quân sự củaông.
- Nguyên vậtliệu
Việc lựa chọn nguyên liệu là khâu quan trọng nhất trong việc xây
thành. Nguyên vật liệu nhà Hồ sử dụng xây thành có loại nguyên liệu độc đáo
mang tính chất bản địa của vùng Yên Tôn. Khác với các thành khác như:
Thành Cổ Loa kinh đô Âu Lạc, hay thành Hoa Lư kinh đô Đại Cồ Việt,
Hoàng thành Thăng Long vật liệu xây dựng chủ yếu là đất và gạch. Nếu có sử
dụng vật liệu đá khối nhỏ thì chỉ có ở một vài vị trí xung yếu để kè móng chân
thành hay mép cửa thành. Ngay cả trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á thì
cũng chưa có kinh thành nào xây dựng nên những tường thành đá kiên cố và
đồ sộ như vậy. Thành Tây Đô được xây dựng bằng những khối đá vôi xanh
lớn được đẽo mài cẩn thận xếp khít lên nhau vô cùng kiên cố, vững chắc.
Vòng Thành Tây Đô được xây dựng với những khối đá xanh khổng lồ được
đẽo gọt tinh luyện, đều đặn, cân đối, vuông thành sắc cạnh ít nhất cũng tạo
được từ 4-5 mặt phẳng có tấm rất to ở cửa Tây dài tới 5,1m, rộng 1,59m, cao
1,3m được xếp chồng lên nhau mà không cần chất kết dính nhưng vẫn đảm
bảo được độ vững chắc. Loại vật liệu không kém phần quan trọng tạo nên
Thành nhà Hồ là gạch nung hình rồng, các viên gạch tìm thấy ở khu di tích
hiện còn ghi các địa danh gần thành. Cùng với đó là sự gia cố đất đá lợi dụng
địathếhiểmtrởtạothànhhàolũychechắnchothành.Tổngkhốilượngđá
được sử dụng để xây thành khoảng hơn 25.000m 3 trọng lượng trung bình mỗi
khối đá khoảng 10-20 tấn và gần 100.000m 3 đất được đào đắp [3]. Một khối
lượng lớn đất đá để gia cố đắp la thành. Khu vực la thành sau khi bóc các lớp
đất ở độ sâu 4,5m từ lớp mặt trở xuống, các nhà khảo cổ đã xác định được bảy
một biểu tượng của vương quyền và vua là thiên tử theo Thiên mệnh. Đối với
các vương triều khác ở phương Đông đều có tư tưởng này nhưng ở vương
triều Hồ thì tư tưởng này được thực hiện triệt để hơn.
Trong các công trình xây dựng nhỏ ngày nay như: Nhà trường, đoàn
thể, nhà ở, cơ quan người ta cũng luôn đề cập cũng như chú trọng tới việc lựa
chọn đặt hướng sao cho hợp với phong thủy là phù hợp với trời đất. Bởi quan
niệm của người phương Đông đặt đúng hướng sẽ mang lại cho họ nhiều điều
mát mẻ, an lành, may mắn. Ở Thành Tây Đô, một công trình mang tầm quốc
gia quyết định sự sinh tồn và phát triển của đất nước việc lựa chọn hướng
cũng được Hồ Quý Ly vô cùng chú trọng. Thành Tây Đô quy hoạch gồm 4
cửa: Cửa tiền (Cửa Nam), cửa Hậu (cửa Bắc), Đông Môn và Tây Giai, (đây là
cách gọi tóm tắt của người bản địa: Cửa Đông nhưng kỳ thực nó là nằm giữa
hướng Đông và Bắc, cửa Bắc thì Tây - Bắc, cửa Tây thì là Tây - Nam, cửa
Nam là Đông – Nam theo đo đạc của các chuyên gia người Nhật) [3]. Việc
đặt lệch có thể một phần là do thuận yếu tố phong thủy phần nữa là phù hợp
với điều kiện tự nhiên của khuvực.
Về mặt kiến trúc của thành Nội tác giả sẽ trình bày cụ thể ở phần sau.
Dưới đây tác giả sẽ tiếp tục phân tích cách quy hoạch của La thành và Hào
thành.
Khu thành ngoại là kết hợp giữa tự nhiên và có sự gia cố đào đắp. Lợi
dụng các điều kiện núi, đồi, sông, hồ, đầm vực đã được khai thác theo yêu cầu
của kỹ thuật quốc phòng: Như dùng 2 tuyến sông Mã và sông Bưởi như hai
dải lụa uốn quanh gần như ôm chọn lấy thành làm hào ngăn địch, dùng núi
đồi cao làm nơi quan sát và khống chế địch, cùng với việc lợi dụng các dải đất
cao kết hợp với đào đắp tạo thành lũy, la thành. Khối lượng đất đắp thành
khoảng gần 10 vạn met khối đất, trên trồng tre gai dày đặc cùng với mộtvùng
hào sâu gồm hào nước, hào đất hào trông để bảo vệ khu thành nội, có bề mặt
rộng gần 50m bao quanh thành [3].
với Chiêm Thành vậy mà toà thành từ khi khảo sát đến khi thi công về cơ bản
có 3tháng.
Với tài năng và nghệ thuật quân sự tài tình Hồ Quý Ly đã cho dựng nên
một pháo đài quân sự vô cùng đồ sộ, kiên cố và vững chắc. Giá trị phòng thủ
của thành là rất lớn nhưng điều đáng tiếc là nó chưa được phát huy nhưng
những bài học kinh nghiệm, công nghệ xây dựng thành để lại cho đời sau là
vô cùnglớn
Phải khẳng định rằng, nhà Hồ dù chỉ tồn tại trong 7 năm nhưng triều
đại này đã đóng góp rất nhiều cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Ngoài công trình quân sự kiên cố Thành Tây Đô, nhà Hồ còn để lại cho hậu
thế nhiều phát minh quan trọng nhằm bảo vệ đất nước. Trong đó phải kể tới
phát minh ra súng thần cơ của Hồ Nguyên Trừng (1). Trong quân sự, súng thần
cơ được xem là loại vũ khí nóng (hỏa khí) dùng sức mạnh của thuốc nổ. Súng
thần cơ thời Hồ có 3 loại: Súng lớn đặt trên lưng voi, súng nhỡ hai người
khiêng, súng nhỏ vác vai [10, tr229]. Năm 1407 khi quân của nhà Hồ bị thất
thế, quân lính của Hồ Nguyên Trừng đã lui về cửa Muộn Hải (nay là cửa sông
Hồng thuộc huyện Giao Chỉ tỉnh Nam Định) để đắp lũy đúc súng, đóng
thuyền chiến để đánh giặc [8, tr682]. Thật vậy, tài chế súng thần cơ của Hồ
Nguyên Trừng lan truyền cả sang nước Minh. Tháng 6/1407 ông bị bắt ở biển
Kỳ La (Hà Tĩnh) bị giải sang Kim Lang (Nam Ninh – Trung Quốc). Nhà Minh
phong cho ông chức Tả thị lang Bộ công trông coi xưởng đúc súng, sau này
nhà Minh còn coi ông là ông tổ của súng thần cơ [10, tr228]. Là quannhà
Minh nhưng tinh thần ông lúc nào cũng hướng về quê hương đất nước. Ông
có làm sách “Nam ông mộng dục”chép các truyện vặt đời Lý, Trần có nhiều
truyện hợp với quốc sử [10, tr229]. Chế tạo ra súng thần cơ góp phần quan
trọng trong công cuộc bảo vệ đấtnước.
1.2.2.Giá trị nghệ thuật tạo hình của kinh Thành TâyĐô
* Nghệ thuật kiến trúc của Thành Tây Đô
đối xứng, song song hai nửa trái phải Đông-Tây, Bắc-Nam, và quy tụ tại điểm
giữa lấy chục đường ở cửa Nam làm chục chính.
Trong các thành cổ còn biết đến ngày nay, Thành Tây Đô có diện tích
tương đối lớn. Với thành Sơn Tây S = 16ha đường thành xây bằng đá ong bốn
cổng thành xây bằng gạch cổ. Còn kinh thành Huế có hình chữ nhật P =
1300m, S = 10,5ha [41]. Thành Tây Đô có P = 3513,4m và S = 769,086m 2
(khoảng 77ha) [3]. So với các thành bang của nước ta được biết tới cho tới
giờ Thành Tây Đô là một trong những thành bằng đá có quy mô rộng lớn và
đồ sộnhất.
Thành được bố cục mặt phẳng hình chữ nhật, gần vuông, chiều dài 2
mặt Nam, Bắc là 880m, chiều Đông – Tây là 877m [3]. Toàn thành mặt ngoài
được ghép đá khối và mặt trong là đất. Trên mặt thành khá rộng (4m), ngựa
trận có thể đi lại dễ dàng. Tiếp nối truyền thống xây dựng của thành cổ Thăng
Long (có 5 cửa mở ra các hướng Bắc, Đông, Tây, Đông Nam và Tây Nam)
các cổng Thành Tây Đô được mở ra theo bốn hướng nhưng cách xây dựng và
bố trí các cổng thành có phần đặc biệt hơn. Thành quay mặt về hướng Nam,
bốn cửa được mở chính giữa của bốn mặt thành, mỗi cổng đều một cửa, riêng
cổng chính có 3 cửa. Các cổng đều được xây cao hơn thành, kích thước của
chúng đều lớn. “Hai cổng phía Đông và Tây cửa đều dài 6m, cao 7m, dầy
hơn 12m. Cổng phía Bắc dài hơn 20m20, cao 7m5, dày 13m7, riêng cửa đã
cao 5m4, rộng 8m85. Cổng chính phía Nam to hơn cả”[18, tr49]. Cửa Nam là
cửa chính của thành có bề thế và quy mô to hơn nhiều lần so với của Bắc,
gồm 3 cuốn, cuốn giữa cao 8m5cm, rộng 5m86cm, cuốn hai bên cao
7m65cm, rộng 5m42cm. Phía trên là mặt đá bằng phẳng có lầu son gác tía, là
nơi nhà vua ngự mỗi khi có những nghi lễ trọng đại, duyệt binh [18, tr49]. Hệ
thống các cửa thành được đóng bằng các cửa gỗ to dầy, cao tận vòm cửa che
kín cửa thành, ngày nay vẫn còn lại dấu vết đục đẽo để làm các lề cửa vẫn còn
ở các cửathành.