ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
U
PHÁP LUẬT
VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP Ở VIỆT NAM
Ngành
: Luật Kinh tế
Chuyên ngành
: Luật Tổ chức kinh doanh
Niên khóa
: 2012 2016
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
SINH VIÊN THỰC HIỆN : HOÀNG ĐỖ THANH NHÂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN
: TS. LÊ THỊ PHÚC
THỪA THIÊN HUẾ, năm 2016
LỜI CAM ĐOAN
tất cả bạn bè, và đặc biệt là cha mẹ và người thân,
những người luôn kịp thời động viên và giúp đỡ em
vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.
Thừa Thiên Huế, ngày 5 tháng 4 năm 2016
Sinh viên
4
Hoàng Đỗ Thanh Nhân
THỐNG KÊ TRÍCH DẪN
STT
Tác giả tài liệu trích dẫn
Trang
Tần suất
Khóa luận
trích dẫn
1.
2.
3.
Bạch Hoàng (2016)
Nam (2016a)
Báo điện tử đài truyền hình Việt
78
01
7.
8.
9.
10.
Nam (2016b)
Báo điện tử VTV NEWS (2016)
Báo kinh doanh và pháp luật (2015)
Báo kinh doanh và pháp luật (2016)
Cổng thông tin điện tử kinh doanh
78
61
82
13
01
01
01
01
11.
77
79
64
79, 81
14, 23
01
01
01
01
01
01
02
02
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
Vũ Văn Tú (2014)
Xuân Hải (2014)
62
62
76, 79
31, 33, 35
59
22
22, 24
69
77
65
59
88
75
63
85
44, 64
69
46
92
38
87
01
01
02
04
01
Bán hàng đa cấp
NTD:
Người tiêu dùng
SCT:
Sở Công Thương
STM:
Sở Thương Mại
VCA:
VietNam Competition Authority
Cục quản lý cạnh tranh
WFDSA:
World Federation of Direct Selling Associations
Liên đoàn các hiệp hội bán hàng trực tiếp thế giới
8
MỤC LỤC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
9
với đó là Nghị định 110/2005/NĐCP2 về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp,
Thông tư 19/2005/TTBTM hướng dẫn một số nội dung tại Nghị định
110/2005/NĐCP3… Các văn bản trên đã góp phần quan trọng vào việc đưa hoạt
động bán hàng đa cấp tại Việt Nam đi vào khuôn khổ. Tuy nhiên, do được soạn
1 Quốc hội (2004), Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11, Hà Nội.
2 Chính phủ (2005), Nghị định số 110/2005/NĐCP ngày 24 tháng 8 năm 2005 nghị định về quản lý hoạt
động bán hàng đa cấp, Hà Nội.
3 Bộ Thương mại (2005), Thông tư số 19/2005/TTBTM ngày 8/11/2005 hướng dẫn một số nội dung quy
định tại Nghị định 110, Hà Nội.
11
thảo lần đầu tiên cũng như chưa có kinh nghiệm quản lý thực tiễn nên nội dung
Nghị định 110/2005/NĐCP, Thông tư 19/2005/TTBTM tới nay đã bộc lộ nhiều
bất cập, không đáp ứng được sự phát triển nhanh chóng của phương thức kinh
doanh này. Từ đó, Nghị định 42/2014/NĐCP về quản lý hoạt động bán hàng đa
cấp4 và Thông tư 24/2014/TTBCT quy định chi tiết thi hành một số điều của
Nghị định số 42/2014/NĐCP5 được ban hành, là một tín hiệu tích cực trong công
tác quản lý và chấn chỉnh hoạt động kinh doanh đa cấp.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận một cách thực tế rằng với kinh nghiệm 12 năm
kể từ khi Luật cạnh tranh 2004 ra đời, pháp luật về BHĐC còn gặp rất nhiều
vướng mắt, nhận thức từ phía cơ quan quản lý chưa thực sự đầy đủ, kinh
nghiệm quản lý nhà nước chưa nhiều. Lợi dụng kẽ hở của pháp luật, các công ty
BHĐC bất chính đã lừa đảo chiếm đoạt hàng trăm tỷ đồng của hàng trăm nghìn
người dân, từ những người tri thức, những người đã có kinh nghiệm làm việc lâu
năm ở các cơ quan, doanh nghiệp, các sinh viên đại học cho đến những người
dân vùng sâu vùng xa. Thực trạng đó làm nổi lên làn sóng bức xúc trong nhân dân,
tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh (2010), Đại học Luật Hà Nội; Khóa luận
tốt nghiệp "Những vấn đề pháp lý về hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt
Nam" của tác giả Nguyễn Thị Hằng (2011), Đại học Luật Hà Nội; Khóa
luận tốt nghiệp "Bán hàng đa cấp bất chính theo pháp luật cạnh tranh Việt
Nam" của tác giả Nghiêm Xuân Tuyên (2011), Đại học Luật Hà Nội; Luận
văn Thạc sĩ “Pháp luật về Bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam” của tác giả
Ninh Thị Minh Phương bảo vệ năm 2012 do TS. Bùi Nguyên Khánh hướng
dẫn khoa học và một số bài báo, tạp chí chuyên ngành cũng như rất nhiều công
trình nghiên cứu về vấn đề cạnh tranh không lành mạnh, trong đó có đề cập
đến vấn đề BHĐC.
Luận văn này sẽ cố gắng đi sâu vào các khía cạnh khác nhau của
pháp luật về BHĐC, phân tích và đánh giá nó dựa trên các thực trạng về
pháp luật BHĐC đồng thời rút ra những kinh nghiệm từ thực tiễn để đưa
13
ra được định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật và kiện toàn công tác
quản lý trong thực tiễn hiện nay ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là: Nêu lên những điểm bất cập, hạn chế
trong hệ thống pháp luật về BHĐC, từ đó thấy được sự những điểm yếu trong
hệ thống pháp luật và trong hiệu quả quản lý nhà nước về BHĐC nhằm hoàn
thiện hệ thống pháp luật BHĐC, đưa phương thức BHĐC trở về đúng với bản
chất của nó tạo thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội.
Từ mục đích nghiên cứu, tác giả xác định nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
gồm: Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề chung về BHĐC; Phân tích, đánh
giá thực trạng pháp luật về BHĐC của Việt Nam để thấy những điểm còn hạn
chế, chưa hợp lí; Phân tích, đánh giá thực trạng vi phạm, thực tiễn xử lý vi phạm
pháp luật về BHĐC tại Việt Nam; đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn
thiện pháp luật Việt Nam về quản lý hoạt động BHĐC.
vướng mắt trong công tác quản lý nhà nước về BHĐC ở địa phương, những sai
phạm thực tế mà các doanh nghiệp BHĐC vi phạm.
6. Kết cấu đề tài
Khóa luận tốt nghiệp được kết cấu ra thành ba phần gồm lời mở đầu, nội
dung chính và kết luận. Phần nội dung chính tác giả bố cục thành ba chương theo
hướng đi từ những vấn đề chung mang tính khái quát đến những vấn đề cụ thể
hơn từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật BHĐC. Bao gồm:
Chương 1: Lý luận chung về pháp luật bán hàng đa cấp ở Việt Nam
Chương 2: Thực trạng về pháp luật bán hàng đa cấp ở Việt Nam
Chương 3: Đề xuất hoàn thiện pháp luật bán hàng đa cấp ở Việt Nam
Ngoài ra, khóa luận tốt nghiệp còn có danh mục tài liệu tham khảo, danh
mục các từ viết tắt, phụ lục, thống kê trích dẫn.
15
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BÁN HÀNG ĐA CẤP
1.1. Nguồn gốc của phương thức bán hàng đa cấp
Kinh doanh đa cấp là ngành kinh doanh hiện đại với phương thức kinh
doanh đa cấp hay còn gọi là kinh doanh theo mạng (Multi Level Marketing –
MLM) đã ra đời và phát triển mạnh mẽ ở thế kỷ 20, hứa hẹn là ngành kinh doanh
triển vọng ở thế kỷ 21. Phương thức BHĐC gắng liền với tên tuổi của nhà hóa
học người Mỹ Karl Renborg (18871973). Ông là người đầu tiên đã ứng dụng ý
tưởng tiếp thị mạng lưới vào trong cuộc sống, tạo ra một hệ thống kinh tế.
Nhận thức được vai trò của dinh dưỡng đối với sức khỏe, năm 1927 ông đã bắt
đầu chế biến các chất bổ sung dinh dưỡng khác nhau dựa trên cỏ linh lăng là một
loại cỏ có chứa rất nhiều vitamin, khoáng chất, đạm và nhiều vi chất có ích khác.
ngành kinh doanh theo mạng, ở đây ông chỉ mới áp dụng một tầng, và trong nhiều
17
tài liệu thì năm 1940 là năm khởi đầu của kinh doanh đa cấp và Renborg được coi
là ông tổ của ngành kinh doanh này7.
Nhận thấy được tiềm năng của ngành kinh doanh này, Rich De Vos và Jay
Van Andel (2 cộng tác viên của công ty) đã sáng lập ra công ty riêng của mình
mang tên American Way Corporation, viết tắt là Amway và hiện nay Amway đã
trở thành một trong những công ty hàng đầu thế giới trong ngành kinh doanh đa
cấp với chi nhánh trên 80 quốc gia.
Vào những năm đầu thuộc thập niên 70, kinh doanh đa cấp bắt đầu nhận
được sự quan tâm cũng như sự phản đối quyết liệt từ dư luận. Năm 1975, trong
hội đồng liên bang Hoa Kỳ có những người phản đối kinh doanh đa cấp và quy
kết nó với cái gọi là “hình tháp ảo” một hình thức kinh doanh bất hợp pháp bị
cấm ở Hoa Kỳ. Với sự nhầm lẫn đó, công ty Amway đã phải theo đuổi vụ kiện
kéo dài 4 năm (1975 – 1979). Cuối cùng Tòa án thương mại liên bang Hoa Kỳ cũng
tuyên bố phương thức kinh doanh đa cấp mà Amway đang áp dụng không phải là mô
hình “Kim thự tháp ảo” và được chấp nhận về mặt luật pháp. Từ vụ việc đó, những
quy định đầu tiên của pháp luật về BHĐC ra đời, đánh dấu những bước thăng trầm
của BHĐC.
Theo nhiều tài liệu ghi nhận kinh doanh đa cấp trên thế giới đã trải qua ba
thời kì như sau:
Từ năm 1940 đến 1979 chỉ có khoảng 30 công ty kinh doanh theo mạng
ra đời tại Mỹ, đây là giai đoạn được gọi tên là thời kì thứ nhất thời kì hình
thành phương thức BHĐC.
Từ 19791990 là thời kỳ bùng nổ của kinh doanh theo mạng. Mỗi ngày
chúng ta có thể thấy hàng trăm công ty kinh doanh theo mạng tuyên bố thành lập
19
cửa hàng bán lẻ nào. Với phương thức marketing sản phẩm trực tiếp thậm chí là
chào bán trực tiếp sản phẩm của mình đến tay người tiêu dùng là một phương
thức hữu hiệu nhằm tăng tính tương tác giữa nhà phân phối và người tiêu dùng
ngoài ra còn giúp tiết kiệm chi phí sân bãi, kho vận, quảng cáo,… do đó giá thành
của sản phẩm sẽ giảm so với phương thức bán hàng truyền thống là thông qua
các đại lý hay rất nhiều cửa hàng bán lẻ. Thay vào đó số tiền này sẽ đươc
chuyển thành những khoản tiền thưởng cho các người tham gia BHĐC khi bán
được sản phẩm, cải thiện chất lượng sản phẩm.
Phương thức bán hàng này dựa trên đặt tính “dây chuyền” trong thông tin
của con người, khi một người sử dụng loại sản phẩm này có hiệu quả, thì sẽ
giới thiệu thông tin về sản phẩm đó cho người thân, bạn bè cùng biết. Người
tham gia BHĐC không chỉ đơn thuần là nhà bán hàng mà còn chính là người tiêu
dùng sản phẩm trong trường hợp này, họ sử dụng những kinh nghiệm của mình
để tiếp thị cho sản phẩm. Từ đó đem về khách hàng cho công ty và cho chính bản
thân của mình. Mỗi người tham gia BHĐC tuyến trên sẽ có những nhà phân phối
tuyến dưới, việc quản lý nội bộ này sẽ thông qua một mã số.
Phương diện khoa học pháp luật ở Việt Nam, BHĐC được định nghĩa tại
khoản 11 Điều 3 Luật cạnh tranh 2004 như sau:
Bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các
điều kiện sau đây:
a) Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới
người tham gia bán hàng đa cấp gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau;
b) Hàng hóa được người tham gia bán hàng đa cấp tiếp thị trực tiếp cho
người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác
không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của người
tham gia;