ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ VĂN TÚ
HOµN THIÖN PH¸P LUËT VÒ B¸N HµNG §A CÊP T¹I VIÖT NAM
THEO KINH NGHIÖM MéT Sè N¦íC TR£N THÕ GIíI
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. VŨ QUANG
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo
độ chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn
học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của
Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vấn đề học hỏi kinh nghiệm một số nước trên thế giới về bán hàng
đa cấp của Việt Nam ..................................................................................14
1.3.1. Nhu cầu học hỏi kinh nghiệm quốc tế để hoàn thiện pháp luật Việt
Nam về bán hàng đa cấp ..............................................................................14
1.3.2. Nguyên tắc học hỏi kinh nghiệm quốc tế .....................................................16
1.3.3. Kinh nghiệm của một số nước .....................................................................16
Tiểu kết chương 1 ....................................................................................................41
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP CỦA
VIỆT NAM .................................................................................................42
2.1.
Một số nét về ngành công nghiệp bán hàng đa cấp tại Việt Nam ..........42
2.1.1. Lịch sử phát triển..........................................................................................42
2
2.1.2. Thực trạng ngành công nghiệp bán hàng đa cấp tại Việt Nam ....................44
2.2.
Thực trạng quy định pháp luật về bán hàng đa cấp của Việt Nam ......45
2.2.1. Chủ thể của quan hệ pháp luật bán hàng đa cấp ..........................................45
2.2.2. Quản lý nhà nước đối với hoạt động Bán hàng đa cấp ................................48
2.2.3. Các hiệp hội có liên quan .............................................................................49
2.2.4. Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp ............................................................50
2.2.5. Kiểm soát hoạt động bán hàng đa cấp ..........................................................55
hàng đa cấp ...................................................................................................79
3
3.2.6. Các điều chỉnh khác .....................................................................................82
Tiểu kết chương 3 ....................................................................................................85
KẾT LUẬN ..............................................................................................................86
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................87
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCT:
Bộ công thương
BHĐC:
Bán hàng đa cấp
BHTT:
Bán hàng trực tiếp
GĐK:
Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp
BHĐC trên thế giới có lịch sử phát triển gần 80 năm và có những bước phát triển
nhất định tại Việt Nam. Trên thế giới có hơn 30.000 công ty phân phối sản phẩm theo
phương thức BHĐC [53]. Tại Việt Nam tính đến tháng 10/2012 đã có sự xuất hiện của 77
doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức BHĐC với số lượng NPP ngày càng tăng
nhanh (khoảng 1 triệu người) [23]. Trong khi đó, làn sóng của các công ty Việt Nam và
các công ty có vốn đầu tư nước ngoài gia nhập thị trường Việt Nam sẽ chưa dừng lại
trong thời gian tới với sự xuất hiện của một số công ty lớn có thể kể đến như
TUPPERWARE (Indonesia), GANO EXCEL (Malaysia)…
Hiện nay, hệ thống pháp luật Việt Nam quản lý về hoạt động BHĐC còn đang
trong giai đoạn hoàn thiện với: Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11 ngày 03/12/2004 (Luật
Cạnh tranh 2004) [26]; Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/08/2005 của Chính phủ
về quản lý hoạt động BHĐC (Nghị định 110) [7] được thay thế bởi Nghị định số
42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động BHĐC (Nghị định
42) [10]; Thông tư số 19/2005/TT-BTM hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị
định 110 (Thông tư 19) [2] và Thông tư số 35/2011/TT-BCT sửa đổi, bổ sung một số nội
dung về thủ tục hành chính tại Thông tư 19 (Thông tư 35) [3] được thay thế bởi Thông tư
số 24/2014/TT-BCT hướng dẫn Nghị định 42 (Thông tư 24) [5]. Hệ thống pháp luật về
BHĐC vẫn còn nhiều lỗ hổng, hạn chế dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp lợi dụng gây
khó khăn trong công tác quản lý, tình trạng BHĐC bất chính diễn ra phổ biến, vi phạm
quy định hoạt động BHĐC xảy ra ngày một nhiều ảnh hưởng quyền lợi NTD. Do vậy,
nhu cầu sửa đổi, bổ sung là tất yếu để kiểm soát tốt sự phát triển ngành công nghiệp này.
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, Việt Nam là một thành viên tích cực và có
trách nhiệm trong hội nhập kinh tế quốc tế. Chúng ta là thành viên của tổ chức thương
mại thế giới – WTO (2007), Diễn đàn hợp tác Châu Á – Thái Bình Dương – APEC
(1998)… Do vậy, chúng ta cũng tranh thủ cơ hội để tiếp thu những thành tựu của nền lập
pháp thế giới để giải quyết vấn đề cấp bách hiện nay.
6
7
chú trọng tìm hiểu quy định pháp luật các nước: Malaysia, New Zealand, Canada để học
hỏi kinh nghiệm, hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích chung nhất là hoàn thiện pháp luật về BHĐC Việt Nam để quản lý tốt
hơn phương thức này trở thành một phương thức bán hàng đúng nghĩa của nó. Trên cơ sở
đó, xây dựng cơ chế quản lý, điều hành tốt hơn đem lại lợi ích cho các bên liên quan. Để
thực hiện mục đích nghiên cứu ở trên, tác giả sẽ triển khai đồng bộ các nhiệm vụ sau:
Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề chung về BHĐC; Phân tích, đánh giá thực trạng
pháp luật về BHĐC của Việt Nam để thấy những điểm còn hạn chế, chưa hợp lí; Phân
tích, đánh giá thực trạng vi phạm, thực tiễn xử lý vi phạm pháp luật về BHĐC tại Việt
Nam và nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật về BHĐC; Nghiên cứu, tìm
hiểu quy định pháp luật về BHĐC của một số quốc gia trên thế giới để rút ra bài học cho
Việt Nam; Đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản
lý hoạt động BHĐC.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Tác giả đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học trên cơ sở
phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử bao gồm: Phương pháp tổng
hợp, phân tích, thống kê, so sánh, đối chiếu...
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu ra thành ba phần gồm lời mở đầu, nội dung chính và kết
luận. Phần nội dung chính tác giả bố cục thành ba chương theo hướng đi từ những vấn đề
chung mang tính khái quát đến những vấn đề cụ thể hơn. Chi tiết:
Chương 1: Những vấn đề chung về BHĐC và việc học hỏi kinh nghiệm một số
nước trên thế giới về BHĐC của Việt Nam
Chương 2: Thực trạng pháp luật về BHĐC của Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về BHĐC tại Việt Nam theo kinh nghiệm một số
nước trên thế giới
Tại Việt Nam, BHĐC được định nghĩa trong Luật Cạnh tranh 2004 cũng mang
những đặc điểm chung của BHĐC như sau:
BHĐC là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện
sau đây:
9
a) Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới
người tham gia BHĐC gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau;
b) Hàng hóa được người tham gia BHĐC tiếp thị trực tiếp cho NTD tại
nơi ở, nơi làm việc của NTD hoặc địa điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ
thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của người tham gia;
c) Người tham gia BHĐC được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc
lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham
gia BHĐC cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được
doanh nghiệp BHĐC chấp thuận [26, Điều 3 khoản 11]
Căn cứ vào định nghĩa được nêu ra tại khoản 11 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004, các
đặc trưng của phương thức BHĐC bao gồm:
- BHĐC là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa
Với phương thức bán lẻ hàng hoá thông qua mạng lưới tiếp thị, doanh nghiệp
BHĐC thiết lập mối quan hệ mua bán sản phẩm trực tiếp với NTD không cần đầu tư
thành lập, duy trì mạng lưới phân phối dạng cửa hàng giới thiệu sản phẩm, đại lý phân
phối. Doanh nghiệp BHĐC có thể là doanh nghiệp sản xuất trực tiếp tiếp thị và bán lẻ
bằng phương thức đa cấp (Công ty TNHH Amway Việt Nam, Công ty TNHH Mỹ phẩm
AVON Việt Nam…) hoặc là các doanh nghiệp phân phối hàng hóa do doanh nghiệp khác
sản xuất (Công ty TNHH Kangzen-Kenko Việt Nam, Công ty TNHH Nu Skin
Enterprises Việt Nam, Công ty TNHH Tupperware Việt Nam…). Cầu nối giữa doanh
nghiệp và NTD là hệ thống NPP. Họ được cung cấp tài liệu và hướng dẫn các thông tin
về đặc tính của sản phẩm để họ có thể giới thiệu chi tiết tới khách hàng. Họ được trả hoa
doanh nghiệp hay của người tham gia” [26, Điều 3 khoản 11]. Do trực tiếp gặp gỡ NTD để
giới thiệu và bán lẻ sản phẩm, người tham gia không phải đăng ký kinh doanh khi tham
gia BHĐC.
Người tham gia được tổ chức thành những cấp khác nhau. Trong quan hệ nội bộ,
người tham gia ở cấp trên có vai trò tổ chức và điều hành hoạt động của những người
trong mạng lưới cấp dưới của mình và khi số người trong hệ thống đạt đến một mức độ
nhất định thì hệ thống sẽ tách nhánh. Số lượng bao nhiêu để một hệ thống tách nhánh tùy
thuộc vào chính sách của mỗi doanh nghiệp.
- Người tham gia được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác từ
kết quả bán hàng của mình và của người tham gia khác trong mạng lưới do mình tổ chức
11
ra và được doanh nghiệp BHĐC chấp nhận.
Như vậy, thù lao của người tham gia được hưởng xuất phát từ hai nguồn: Hoa hồng
trực tiếp được tính trên doanh số BHTT của người tham gia; Hoa hồng gián tiếp: là khoản
tiền thưởng cho công sức xây dựng mạng lưới tiêu thụ của người tham gia. Cách thức phân
chia lợi ích như trên vừa kích thích người tham gia tích cực tiêu thụ hàng hoá, vừa kích
thích họ tích cực tạo lập hệ thống phân phối cấp dưới. Tùy vào chính sách cụ thể của từng
doanh nghiệp mà người tham gia BHĐC được hưởng các khoản hoa hồng khác nhau.
Nhưng, nhìn chung hoa hồng được trích cho người tham gia từ khoản tiền chênh lệch giá
mà họ lấy từ hàng hóa của doanh nghiệp với giá sỉ và bán ra với giá bán lẻ đã được công ty
ấn định và số hoa hồng trích ra từ phần trăm hoa hồng của những người tham gia cấp dưới
do mình xây dựng lên.
1.1.2. Vai trò của bán hàng đa cấp
- BHĐC là phương thức tiếp cận NTD hữu hiệu, có thể đem lại nhiều lợi ích thiết
thực cho NTD như: mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất, tránh được nạn hàng giả, hàng
kém chất lượng. Vào năm 1990, BHĐC đã được nhận định là phương thức tiếp cận NTD
hữu hiệu nhất những năm 90 trên tạp chí Business – một tạp chí kinh doanh hàng đầu của
liên quan về BHĐC. Do đó từ những người nội trợ đến học sinh, sinh viên đều có thể
tranh thủ thời gian nhàn rỗi của mình để BHĐC tăng thêm thu nhập. Thực tế trong thời
gian qua đã có số lượng người tham gia BHĐC ngày càng tăng với rất nhiều thành phần
khác nhau trong xã hội.
1.1.3. Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động bán hàng đa cấp tại
Việt Nam
Một trong những đặc trưng của pháp luật là tính dự báo và định hướng. Tuy nhiên,
nhà làm luật Việt Nam chưa làm tốt công tác này đối với vấn đề quản lý hoạt động
BHĐC. Chúng ta không thấy trong chương trình của các nhà lập pháp có định hướng lập
pháp trong vấn đề này khi chúng chưa vào Việt Nam.
Một trong những yêu cầu của pháp luật là bám sát đòi hỏi thực tiễn quản lý. Tuy
nhiên, chúng ta đã cũng không làm tốt được khâu này khi điều chỉnh hoạt động BHĐC
quá chậm. Năm 1998 manh nha của phương thức BHĐC tiếp cận với thị trường Việt
Nam và liền sau đó chúng ta đã bắt đầu chứng kiến mặt trái của nó. Tuy nhiên, phải đến
khi các hiện tượng tiêu cực do hoạt động này gây ra đã gần như vượt xa mức kiểm soát
thì các nhà làm luật mới loay hoay để xây dựng các quy định pháp luật điều chỉnh.
13
Khi vấn đề trở nên nóng trên diễn đàn lập pháp bởi các hậu quả của BHĐC, nhiều
quan điểm về hướng điều chỉnh đã được đưa ra. Có quan điểm cho rằng cần phải cấm
toàn diện hoạt động này do nó gây ảnh hưởng xấu đến xã hội và gây thiệt hại đến lợi ích
của nhà nước, người tham gia và NTD. Quan điểm này không thừa nhận rằng nó tồn tại
khách quan và chúng ta không có cách nào khác là phải kiểm soát nó. Một quan điểm
khác đã nhìn ra được vấn đề là BHĐC tự nó đã có đời sống riêng, nhà làm luật có trách
nhiệm là định hướng và kiểm soát đời sống riêng đó.
Quan điểm thứ hai được thừa nhận rộng rãi và từ đó, các nhà làm luật tập trung
vào cách thức điều chỉnh BHĐC. Nhiều quan điểm đã được đưa ra. Có quan điểm cho
rằng BHĐC là hành vi thương mại tương tự như quảng cáo, khuyến mại hay đại lí…
1.2. Pháp luật về bán hàng đa cấp
1.2.1. Khái niệm pháp luật về bán hàng đa cấp
Hiện tại, chưa có một nhà nghiên cứu pháp lý nào đưa ra khái niệm pháp luật về
BHĐC. Qua khảo cứu các giáo trình, bài báo, tạp chí, bài nghiên cứu… các tác giả mới
chỉ bàn đến khái niệm BHĐC bất chính hay tính không lành mạnh của hành vi BHĐC bất
chính [33, tr.149-151] [35, tr.190-198]. Bởi vậy, việc xây dựng một khái niệm pháp luật
về BHĐC là một vấn đề mới và cần thiết trong khoa học pháp lý. Để xây dựng được khái
niệm này, chúng ta cần nhận thức rõ được nội hàm của nó và mối quan hệ với pháp luật
khác.
Pháp luật về BHĐC có phạm vi điều chỉnh là hoạt động BHĐC và quản lý hoạt
động BHĐC. Vậy nên, đối tượng điều chỉnh chủ yếu nó hướng đến là những đối tượng
chịu ảnh hưởng của hoạt động BHĐC là doanh nghiệp BHĐC, người tham gia BHĐC và
NTD. Tuy nhiên, quy định pháp luật Việt Nam hiện tại mới chỉ chú trọng đến hai đối
tượng là doanh nghiệp BHĐC và người tham gia. NTD là đối tượng cần được quan tâm
bảo vệ trong mối quan hệ này thì chưa được đề cập nhiều.
Tại Việt Nam, quy định pháp luật quản lý hoạt động BHĐC chủ yếu ghi nhận tại
Nghị định 42 mà chưa đưa lên thành Luật như nhiều nước (Canada, Malaysia, …). Trong
phần căn cứ để ban hành Nghị định này có đề cập đến Luật Cạnh tranh. Tính đến thời
điểm tác giả viết luận văn này, luật duy nhất đề cập trực tiếp đến phương thức BHĐC là
luật Cạnh tranh. Theo tác giả, đó là lí do nhà làm luật đưa Luật cạnh tranh là căn cứ khi
ban hành Nghị định 42 và có thể khẳng định pháp luật về BHĐC là một bộ phận quan
trọng trong pháp luật Cạnh tranh.
15
Tuy nhiên, pháp luật cạnh tranh chỉ điều chỉnh một phần trong các nội dung quản
lý hoạt động BHĐC khi có dấu hiệu bất chính xảy ra. Cụ thể, hành vi BHĐC bất chính là
một hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Phần điều chỉnh liên quan đến quản lý hành
chính đối với hoạt động BHĐC không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật Cạnh tranh. Nó
đến tay NTD. Pháp luật của mỗi quốc gia quy định những điều kiện đối với người tham
gia căn cứ vào đặc điểm nhân thân, mức độ nhận thức, mật độ dân cư, chính sách lao
động…
1.2.2.2. Nhà nước-chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật bán hàng đa cấp
Nhà nước là chủ thể đặc biệt trong quan hệ pháp luật BHĐC. Sự tham gia của
nhà nước giữ vai trò điều tiết và quản lý. Ví dụ: Mức hoa hồng trả cho người tham gia
thường bị khống chế ở một mức độ nhất định (Việt Nam không quá 40% [26, Điều 27,
Khoản 2]).
Nhà nước thể hiện vai trò của mình thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật
điều chỉnh về BHĐC; ban hành bộ thủ tục đăng ký để được cấp GĐK, chế độ báo cáo,
chế độ thanh, kiểm tra phát hiện và xử lý vi phạm (nếu có)… Nhà nước có chính sách
khuyến khích tạo điều kiện hoặc kìm hãm sự phát triển của ngành công nghiệp này tùy
thuộc quan điểm của họ theo từng thời kỳ khác nhau.
Ngoài ra, nhà nước còn là một chủ thể có quyền năng đặc biệt vì chỉ có nhà nước mới
quyết định được việc có hay không cho phép sự tồn tại của phương thức BHĐC ở mỗi nước.
1.2.2.3. Các hiệp hội có liên quan
Sự ra đời cũng như tham gia vào các hiệp hội đánh dấu sự phát triển quan hệ hợp
tác của các doanh nghiệp BHĐC. Hiệp hội ra đời và tồn tại đem lại nhiều lợi ích cho
thành viên, đặc biệt hiệp hội có tiếng nói lớn hơn và giúp truyền tải tốt hơn nguyện vọng
của các thành viên tới cơ quan có thẩm quyền và cộng đồng.
1.2.2.4. Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp
Quan hệ BHĐC giữa doanh nghiệp BHĐC với người tham gia vào mạng lưới
BHĐC được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lí là hợp đồng. Có thể hiểu
rằng hợp đồng tham gia BHĐC là việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa
vụ trong quan hệ BHĐC giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật này. Với tư
cách là hình thức pháp lí của quan hệ pháp luật BHĐC, hợp đồng tham gia BHĐC có
17
Bộ Thương mại (2005), Thông tư số 19/2005/TT-BTM ngày 8/11/2005 hướng dẫn
một số nội dung quy định tại NĐ 110, Hà Nội.
18
3.
Bộ Công thương (2011), Thông tư số 35/2011/TT-BCT ngày 23/9/2011 sửa đổi, bổ
sung một số nội dung về thủ tục hành chính tại TT 19.
4.
Bộ Công thương (2013), Báo cáo đánh giá tác động dự thảo nghị định quy định về
quản lý hoạt động BHĐC, Hà Nội.
5.
Bộ Công thương (2014), Thông tư 24/2014/TT-BCT ngày 30/7/2014 hướng dẫn NĐ
42, Hà Nội.
6.
Caikeo (2007), Bán hàng đa cấp, vòng xoáy lừa đảo kiếm tiền, http://archive
.saga.vn/Publics/PrintView.aspx?id=1624
7.
Chính phủ (2005), Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/08/2005 về quản lý hoạt
động BHĐC, Hà Nội.
17. Hồng Hà (2009), Bán hàng đa cấp - cần những biện pháp điều chỉnh phù hợp,
http://www.vca.gov.vn/NewsDetail.aspx?ID=1384&CateID=373.
18. Mai Hà - Lê Quân (2011), Đa cấp núp bóng thương mại điện tử, http://www.
thanhnien.com.vn/pages/20110816/da-cap-nup-bong-thuong-mai-dien-tu.aspx
19. Đoàn Trung Kiên (2008), “Bản chất pháp lý của hợp đồng tham gia BHĐC”, Tạp trí
Luật học, (10), tr.51-57.
20. Bảo Linh (2012), Bóc trần các chiêu kinh điển bán hàng đa cấp, http://vtc.vn/ boctran-cac-chieu-kinh-dien-ban-hang-da-cap.1.358688.htm
21. Ngô Thanh Loan (2007), Khởi nghiệp từ kinh doanh theo mạng, Nxb Lao động.
22. Hoàng Lực (2014), Amway bị tố gây hại sức khỏe: “Con dao hai lưỡi” thực phẩm
chức năng, http://giaoduc.net.vn/Kinh-te/Amway-bi-to-gay-hai-suc-khoe -Con-daohai-luoi-thuc-pham-chuc-nang-post145486.gd
23. N.B (2011), Hơn 1 triệu người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, http://
vietstock.vn/2012/05/hon-1-trieu-nguoi-tham-gia-mang-luoi-ban-hang-da-cap-768193909.aspx
24. Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam (2013), Công văn góp ý đối với dự thảo Nghị
định về Quản lý bán hàng đa cấp số 2613 /PTM-PC ngày 09/10/2013, Hà Nội.
25. Minh Quang (2012), 87.000 người bị Diamond Holiday lừa đảo, http://
m.tuoitre.vn/tin-tuc/Chinh-tri-Xa-hoi/Phap-luat/110515,87-000-nguoi-bi-DiamondHoliday-lua-dao.ttm
26. Quốc hội (2004), Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11, Hà Nội.
27. Quốc hội (2005), Luật Dân sự số 33/2005/QH11, Hà Nội.
28. Quốc hội (2005), Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11, Hà Nội.
29. Quốc hội (2005), Luật Thương mại số 36/2005/QH11, Hà Nội.
30. Quốc hội (2008), Luật Thi hành án Dân sự số 26/2008/QH12, Hà Nội.
31. Quốc hội (2012), Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13, Hà Nội
32. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013, Hà Nội
33. Tăng Văn Nghĩa (2009), Giáo trình Luật Cạnh tranh, Trường Đại học Ngoại
20
Thương, tr.149-151.
34. Duy Tính (2012), Lột da lưng do uống thực phẩm chức năng, http://plo.vn/ dinhduong/lot-da-lung-do-uong-thuc-pham-chuc-nang-18011.html
0nghe%20co%20von%20phap%20dinh.pdf
53. http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Kinh-te/590383/hoi-thao-cong-tac-quan-ly-nhanuoc-doi-voi-nganh-ban-hang-da-cap.
54. http://mlma.org.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=249%3Akhoa
ng-sang-cua-kinh-doanh-da-cap&catid=38%3Atim-hiu-v-mlm&Itemid=77&lang=vi.
55. http://mlma.org.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=137%3Abaocao-cua-cuc-quan-ly-canh-tranh-tong-ket-cong-tac-quan-ly-ban-hang-dacap&catid=37%3Atin-tc&Itemid=93&lang=vi
56. http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=702&p=&id=47509
57. http://vtc.vn/ba-ke-lua-dao-hang-chuc-ti-qua-web-muaban24vn-hautoa.7.493641.htm
58. http://news.go.vn/phap-luat/tin-1811809/tuyen-phat-thich-dang-bo-sau-kinh-doanhda-cap-bang-cac-gian-hang-ao.htm
59. http://cand.com.vn/Phap-luat/Truy-to-3-dong-pham-lap-website-ban-hang-da-capchiem-doat-gan-108-ty-dong-266866/
60. http://vietnamexport.com/nuoc-lanh-tho/117/tong-quan.html
61. http://img.vcci.com.vn/Images/Uploaded/Share/2013/02/25/Malaysia-2012.pdf
62. http://36mfjx1a0yt01ki78v3bb46n15gp.wpengine.netdna-cdn.com/wpcontent/uploads/2013/04/121207.5-Direct-Selling-in-Malaysia-VN.pdf
63. http://www.kpdnkk.gov.my/kpdnkkv3/index.php?option=com_content&view=article
&id=82&Itemid=270&lang=en
64. http://vietnamexport.com/nuoc-lanh-tho/138/tong-quan.html
65. http://www.vietnamembassy-newzealand.org/vi/nr141126090648/
66. http://www.dsanz.co.nz/statistics/lateststats.html
67. http://www.justice.govt.nz/publications/global-publications/d/directory-of-officialinformation-archive/directory-of-official-information-december-2011/alphabeticallist-of-entries-1/c/commerce-commission
22
68. http://www.comcom.govt.nz/fair-trading/fair-trading-act-fact-sheets/pyramidselling-and-multi-level-marketing-claims/
69. http://www.canada.ca/en/gov/system/index.html
70. http://vietnamexport.com/nuoc-lanh-tho/34/tong-quan.html
71. http://dsa.ca/the-industry/industry-stats/
72. http://www.competitionbureau.gc.ca/eic/site/cb-bc.nsf/eng/h_00125.html
73. http://dsa.ca/the-association/faq/
74. http://dsa.ca/the-association/
75. http://vnn.vietnamnet.vn/psks/2007/10/752268/