MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mùa xuân năm 1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sáng lập Đảng
Cộng sản Việt Nam. Đó là sự kiện có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, chấm dứt những năm
tháng khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước và mở ra hướng đi mới cho toàn
dân tộc. Với Cương lĩnh, đường lối đấu tranh làm cho nước Việt Nam hoàn toàn
độc lập và đi tới xã hội cộng sản, Đảng đã lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân
lao động và dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao gian khổ, hy sinh đi đến những
thắng lợi vẻ vang.
Trải qua 45 năm lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc và kháng chiến cứu
nước với những thắng lợi vĩ đại: Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chiến thắng
lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 và Đại thắng Mùa Xuân năm 1975, đất nước đã
được hoàn toàn độc lập, thống nhất. Những năm 1930 - 1954, chủ nghĩa xã hội mới
chỉ là định hướng phát triển. Từ năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng,
nhiệm vụ, mục tiêu xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội được thực hiện trên phạm vi miền
Bắc. Tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền
Bắc (1954 - 1975) và trên cả nước (1975 - 1986) đã đạt được những thành tựu quan
trọng, tỏ rõ tính ưu việt và sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa trong xây dựng
và phát triển đất nước, nhất là trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy
vậy, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã bộc lộ những khuyết điểm và hạn chế
trên nhiều mặt, nhất là về chính sách và cơ chế quản lý kinh tế. Bệnh chủ quan,
duy ý chí, nóng vội, làm trái quy luật khách quan, quan liêu, không nắm vững thực
tiễn đất nước và cả chủ nghĩa giáo điều là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng
khủng hoảng kinh tế - xã hội từ năm 1979. Đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng tạo
tiền đề cho sự phát triển, cải thiện đời sống của nhân dân trở thành yêu cầu bức
thiết và mệnh lệnh của cuộc sống
1
Trước yêu cầu bức thiết đó tại Đại hội lần thứ VI (12/1986), Đảng đã tự phê
bình và đề ra đường lối đổi mới. Đại hội VI là cột mốc lịch sử quan trọng trong sự
và phương thức lãnh đạo của Đảng chậm đổi mới, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát
triển của đất nước. Tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều hạn chế.
Tổ chức thực hiện còn nhiều yếu kém…vv. Nắm bắt tình hình đó tại Đại hội XI
(tháng 1-2011)Đảng Cộng sản Việt Nam bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Với đường lối đổi mới và
Cương lĩnh đúng đắn, cùng hoạt động thực tiễn sôi động, phong phú, sáng tạo của
toàn Đảng, toàn dân, công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn có ý
nghĩa lịch sử. Một trong những thành tựu đó là nhận thức về chủ nghĩa xã hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn. Cũng chính lí do đó, tác
giả mạnh dạn chọn đề tài: “Những nhận thức mới của Đảng về thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” làm đề tài tiểu luận học phần Các chuyên đề
Chủ nghĩa xã hội khoa học.
2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài tiểu luận
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là rất quan trọng, rất rộng lớn nên
đối tượng nghiên cứu của đề tài chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu những nhận thức
mới của Đảng về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài tiểu luận
Mục tiêu nghiên cứu của tiểu luận nhằm làm rõ những nhận thức mới của
Đảng Cộng sản Việt Nam về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Để thực
hiện được những mục tiêu nói trên, tác giả xác định cần phải thực hiện những mục tiêu
sau:
Thứ nhất, tìm hiểu cơ sở lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Thứ hai, nội dung nhận thức mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
3
Thứ ba, ý nghĩa nhận thức mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
2.1. Nội dung về kinh tế
2.2. Nội dung về chính trị – xã hội
2.3. Nội dung về văn hóa – tư tưởng
Chương 3. Ý nghĩa nhận thức mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
3.1. Ý nghĩa lý luận
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
5
NỘI DUNG
Chương 1 Cơ sở lý luận - thực tiễn của nhận thức mới của Đảng Cộng sản
Việt Nam về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
1.1. Khái niệm về thời kỳ quá độ
Định nghĩa kinh điển về thời kỳ quá độ được C. Mác nêu lên trong tác phẩm
Phê phán cương lĩnh Gôtha, rằng: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng
sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia.
Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ
ấy không thể cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”.
Trong tác phẩm này, C.Mác chỉ rõ TKQĐ có một số điểm đáng lưu ý sau: xã
hội TKQĐ là xã hội vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do đó, mọi mặt của
nó đều mang dấu ấn sâu sắc của xã hội tư bản chủ nghĩa (TBCN); TKQĐ là thời kỳ
cải biến cách mạng một cách sâu sắc từ xã hội TBCN sang xã hội xã hội chủ nghĩa
(XHCN); Công cụ để thực hiện sự cải biến đó là nhà nước, đó là nhà nước chuyên
chính cách mạng của giai cấp vô sản; TKQĐ là thời kỳ “sinh đẻ lâu dài và đau
đớn”.
Những tư tưởng trong tác phẩm trên đã được V.I. Lênin cụ thể hóa và làm
phong phú thêm nhiều. Ông đã đưa ra một định nghĩa về thời kỳ quá độ như sau:
“... Danh từ quá độ có nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tế, có phải nó có nghĩa là
hợp với điều kiện cụ thể của nước mình.
Thực tiễn cách mạng thế giới đã và đang chứng minh sức sống, giá trị bền
vững của những “nguyên lý tổng quát” – những quan điểm thể hiện tính phổ biến
về chủ nghĩa xã hội và về xây dựng chủ nghĩa xã hội của C.Mác, Ph.Ăngghen,
V.I.Lênin.
7
C.Mác và Ph.Ăngghen, với rất nhiều công trình nghiên cứu đã khái quát nên
những đặc trưng (mang tính dự báo) về xã hội cộng sản chủ nghĩa (giai đoạn cao)
mà chủ nghĩa xã hội là giai đoạn đầu (giai đoạn thấp) của hình thái kinh tế - xã hội
cộng sản chủ nghĩa. Khi mà “thay thế cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và
đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do
của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” [1, 628].
Đồng thời với việc phác thảo những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, chủ
nghĩa cộng sản, C.Mác, Ph.Ăngghen cũng đã chỉ ra tính quy luật phổ biến của công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là: Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa phải do giai
cấp công nhân lãnh đạo thông qua đội tiền phong của họ là Đảng Cộng sản; cuộc
cách mạng phải được tiến hành thường xuyên liên tục, không ngừng qua từng thời
kỳ với các nhiệm vụ cụ thể; sau khi giai cấp công nhân đã giành được chính quyền
thì phải sử dụng chính quyền phát triển lực lượng sản xuất, giải quyết tốt các mối
quan hệ lợi ích giữa giai cấp công nhân với dân tộc, dân tộc và quốc tế v.v…
V.I.Lênin, người kế tục sự nghiệp vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen đã vừa
bảo vệ, vừa bổ sung, phát triển những quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, cụ
thể hóa quan niệm về chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô viết và cách thức con đường
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga.
Chính sách kinh tế mới (NEP) của V.I.Lênin đã cho thấy sự vận dụng, phát
triển sáng tạo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về chủ nghĩa xã hội và xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga.
khi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga nổ ra, từ năm 1916, trong tác
phẩm “Về một sự biếm họa chủ nghĩa Mác”, V.I.Lênin từng khẳng định: “Tất cả các dân
tộc đều sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội, đó là điều không tránh khỏi, những tất cả các dân tộc
đều tiến lên chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ
đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào
loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của
9
việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội” [16, 160].
Sau Cách mạng tháng Mười năm 1917, Người còn khẳng định: “với sự giúp đỡ của giai
cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ Xô viết và qua
những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai
đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” [17, 295].
Về sau, bằng thực tế sinh động của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước Nga Xô viết trong tác phẩm: Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng
sản (1920) Người còn chỉ rõ: “ … nhiệm vụ của những người cộng sản là phải biết áp
dụng những nguyên tắc phổ biến và cơ bản của chủ nghĩa cộng sản vào đặc điểm của
những mối quan hệ giữa các giai cấp và các đảng, vào đặc điểm của sự phát triển
khách quan hướng tới chủ nghĩa cộng sản, những đặc điểm riêng của mỗi nước, mà
chúng ta phải biết nghiên cứu, phát hiện và dự đoán”.
Cơ sở lý luận và phương pháp luận để có những nhận thức mới về chủ nghĩa xã
hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội là phải biết kết hợp những nguyên lý phổ biến vào
đặc điểm riêng của từng quốc gia, dân tộc, phải nghiên cứu, phát hiện những nét đặc
thù của chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở từng nước.
Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
là kết quả vận dụng sáng tạo, phát triển sáng tạo lý luận Mác – Lênin về chủ nghĩa xã
hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội, kết quả của việc giải quyết mối quan hệ giữa “cái
phổ biến” và “cái đặc thù” phù hợp với điều kiện Việt Nam. “Cái phổ biến” cần được
quán triệt, vận dụng vào điều kiện Việt Nam là phải đưa cách mạng Việt Nam theo
chăm nom” [14, 175]; “chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao
động thoát khỏi nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn, việc làm, được ấm
no và sống một đời hạnh phúc” [15, 17].
Từ quan niệm cụ thể, thiết thực về chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh
cũng đã nêu lên rất nhiều luận điểm về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, con
đường và cách thức xây dựng để quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện cụ thể
11
của Việt Nam. Người đã xác định đặc điểm của thời kỳ quá độ và nhiệm vụ quan
trọng nhất cần thực hiện: “… đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một
nước nông nghiệp lạc hậu, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai
đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa… Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta
là xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa miền Bắc tiến
dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và
khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải
tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt
và lâu dài”[15, 13].
Những phân tích trên nhằm khẳng định cơ sở lý luận và phương pháp luận của
những nhận thức mới về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam hiện nay là những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ
nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ( mang tính phổ biến); những quan điểm
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam ( kết hợp tính phổ biến với tính đặc thù).
1.3. Cơ sở thực tiễn của những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam
Cơ sở thực tiễn của những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam chính là “mảnh đất hiện thực Việt Nam”, là thực tiễn của
đất nước trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trước và sau đổi mới, đặc biệt là
thực tiễn lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt
dung, nhiệm vụ cụ thể và cách thức thực hiện chúng trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Những bước phát triển về công tác tư tưởng, lý luận từ năm 1986 đến nay
và quá trình gắn lý luận với thực tiễn, tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận về
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trên cơ sở những quan điểm Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
13
- Đó là nhu cầu mới đòi hỏi lý luận phải giải đáp nhiều vấn đề, định hướng
cho hoạt động thực tiễn, cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định đường lối, chính
sách của Đảng, Nhà nước, bổ sung hoàn thiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Đó còn là những vấn đề thực tiễn đặt ra cần giải đáp một cách thuyết phục
liên quan đến nhận thức về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam như:
+ Phân tích, dự báo về sự tồn tại, phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại,
các mâu thuẫn lớn của thời đại và cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng.
+ Xu hướng, triển vọng của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa quốc tế của giai cấp
công nhân trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế.
+ Chủ nghĩa xã hội và định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trên các lĩnh vực
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh – quốc phòng, bảo vệ môi trường…
+ Cần phải làm gì và làm như thế nào để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức?
+ Giải quyết như thế nào cho đúng đắn, phù hợp với điều kiện Việt Nam
những mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển bền vững; giữa
tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội, thể hiện tính ưu việt của định
hướng xã hội chủ nghĩa; giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị; giữa độc lập tự
chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; những thời cơ, thuận lợi mới và những
thách thức, nguy cơ mới nảy sinh trên con đường phát triển của đất nước…
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nhằm xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật
15
hiện đại để đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh.
“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(Bổ sung, phát triển năm 2011)” nêu rõ: “Nước ta quá độ lên CNXH”, “nhất thiết
phải trải qua một thời kỳ quá độ (TKQĐ) lâu dài” và “đây là một quá trình cách
mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự
biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội” .
2.1.1. Về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Nhận thức của Đảng ta về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
một quá trình tư duy lý luận về kinh tế dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết
thực tiễn đổi mới của đất nước. Ngay từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng
ta đã phê phán những hạn chế, yếu kém của cơ chế tập trung quan lieu bao cấp, đưa ra
những quan niệm mới về cơ chế kinh tế và thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản
xuất hàng hóa, thị trường, đồng thời chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần với các hình thức kinh doanh phù hợp.
Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta nhận định, nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước đã bước đầu được hình thành và khẳng định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần là một chủ trương chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội”.
Tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VIII, với những thành tựu của 10
năm đổi mới, Đảng ta nhận định: “Cơ chế thị trường đã phát huy tác dụng tích cực
to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Nó chẳng những không đối lập mà còn là
một nhân tố khách quan cần thiết của việc xây dựng và phát triển đất nước theo
Công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Từ một nước nông nghiệp tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai
đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa cái thiếu nhất là cơ sở vật chất kỹ thuật của một
17
nền sản xuất hiện đại, vì vậy Công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Năm 1975 sau khi thống nhất đất
nước, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của
thời kỳ quá độ là chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp
hoá xã hội chủ nghĩa. Đến Đại hội Đảng lần thứ VIII, Đảng ta nhận định nước ta
đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội và khẳng định cần chuyển sang thời kỳ
mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước … để đến năm 2020 đưa
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Đại hội IX xác định rõ thêm: trở
thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
“Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện
các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng
lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với
công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển
của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội
cao” (Nghị quyết Hội nghị TƯ 7 , khóa VII).
Đảng ta coi khoa học - công nghệ và giáo dục - đào tạo là nền tảng và động
lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chiến lược kinh tế đến năm 2000 được Đại
hội Đảng lần thứ VII thông qua đã nêu: Phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, không
ngừng nâng cao năng lực khoa học và công nghệ, để công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước. Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng định: giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ làm nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chính sách
phát triển đất nước là chính sách phát triển dựa vào giáo dục – đào tạo và khoa học
– công nghệ.
Trong bối cảnh quốc tế mới, nước ta phải hội nhập vào xu thế phát triển nền
kinh tế tri thức toàn cầu hóa. Đại hội Đảng lần thứ IX nhận định: “Thế kỷ XXI sẽ
người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại”. Đổi mới không phải từ bỏ mục
19
tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho chủ nghĩa xã hội được nhận thức đúng đắn hơn
và được xây dựng có hiệu quả hơn.
Vấn đề đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri
thức đã được Đại hội X của Đảng đề cấp. Trong Dự thảo Cương lĩnh Xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã
phát triển và cụ thể hoá thêm một bước “Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm;
thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri
thức; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết
chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ… Phát triển khoa học và công nghệ
nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế
tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”.
2.1.3 Chiến lược kinh tế mở
Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, đã tiến hành đổi mới, chuyển sang cơ
chế thị trường và song song với nó là thực hiện chuyển hướng chiến lược trong
kinh tế đối ngoại, từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Tiếp đó
tại Đại hội VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1991 đã đề ra đường lối chiến
lược “thực hiện đa dạng hoa đa phương hoá quan hệ quốc tế, mở rộng quan hệ kinh
tế đối ngoại”.
Đến Đại hội VIII (1996) Đảng ta tiếp tục chủ trương chính sách đối ngoại độc
lập tự chủ mở rộng các quan hệ đối ngoại với tinh thần “muốn làm bạn với tất cả các
nước trong cộng đồng thế giới”. Tháng 12/1997 Nghị quyết Trung ương 4 khoá VIII đề
ra nhiệm vụ: Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu
vực, củng cố và nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc quốc tế. Và gần đây nhất là tại
Đại hội Đảng lần IX năm 2001 đã nêu rõ: “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tranh thủ
mọi thời cơ để phát triển trên nguyên tắc giữa vững độc lập tự chủ và định hướng xã
21
Thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội, phát triển
văn hóa, đảm bảo sự phát triển bền vững là một trong những định hướng quan trọng
trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cương lĩnh năm 1991, một mặt chỉ rõ phát triển lực lượng sản xuất bằng quá
trình công nghiệp hóa theo hướng hiện đại hóa, đồng thời nêu rõ những định
hướng lớn, trong đó có định hướng chính sách xã hội, chính sách tất cả vì con
người. Văn kiện Đại hội VIII xác định nước ta chuyển sang chặng đường mới “Đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” nhằm đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế, đồng
thời nhấn mạnh “tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội ngay
trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển”. Trong Văn kiện Đại hội Đảng
lần thứ X, Đảng ta đã có nhận thức cụ thể, rõ ràng hơn: “Kết hợp các mục tiêu kinh
tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương,
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách
phát triển, thực hiện tốt chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền
lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ tạo động lực mạnh mẽ và bền vững cho sự
phát triển kinh tế - xã hội”. Kinh tế phát triển, văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc cùng với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội thống nhất trong mục tiêu:
Tạo ra chất lượng mới của cuộc sống; xây dựng và hoàn thiện giá trị nhân cách con
người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Để đạt được những mục tiêu đó cần phải thực hiện các giải pháp sau:
- Xây dựng quỹ đến ơn đáp nghĩa.
- Nuôi dưỡng các bà mẹ Việt Nam anh hung.
- Cấp vốn hoặc cho vay vốn với lãi xuất ưu đãi cho các gia đình khó khăn,
nghèo đói để phát triển kinh tế, từng bước xóa đói giảm nghèo.
- Khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp, thu hẹp
khoảng cách về mức sống giữa các vùng, các dân tộc, các tầng lớp dân cư,…
23
vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản”. “Xã hội xã hội chủ nghĩa
mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xây dựng là một xã hội: dân giàu, nước
mạnh, công bằng, văn minh; do nhân dân lao động làm chủ. Có nền kinh tế
phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Có nền văn hoá tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có
cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong
cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ; có Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.
Có thể xem đây là những mục tiêu cơ bản, tổng quát đồng thời cũng là
mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cần đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ.
Bởi lẽ, mô hình này không còn dừng lại ở chỗ phản ánh cấu trúc tổng thể của
xã hội này với những bộ phận cấu thành, thống nhất giữa cơ sở kinh tế với
kiến trúc thượng tầng và toàn bộ những mối quan hệ xã hội; quan hệ sản xuất
phù hợp với tính chất và trình độ lực lượng sản xuất; sự bao quát các lĩnh vực
cơ bản của đời sống xã hội – chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội; sự thực hiện
các chức năng đối nội, đối ngoại… mô hình còn phản ánh và làm rõ mục tiêu
tối hậu của chủ nghĩa xã hội là “giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bất
công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện”, là thoả
mãn nhu cầu, lợi ích của người lao động, phản ánh những đặc trưng về chất
lượng; khẳng định rõ động lực cơ bản để thực hiện mục tiêu tối hậu vì con
người. Vấn đề căn bản nhất mà mô hình đem lại chính là việc khẳng định chủ
nghĩa xã hội phải phát triển kinh tế thị trường để phát triển lực lượng sản
xuất, giải phóng sức sản xuất, có nền kinh tế phát triển dựa trên lực lượng
24