tiểu luận cao học môn quan hệ quốc tế TRANH CHẤP QUẦN đảo HOÀNG SA, TRƯỜNG SA GIỮA - Pdf 37

ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN:
TRANH CHẤP QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA GIỮA
TRUNG QUỐC VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á

TIỂU LUẬN MÔN QUAN HỆ QUỐC TẾ

Hà Nội, Ngày 23 - 5 - 2015


MỞ ĐẦU
Hiện nay, Biển Đông là một trong những khu vực hội tụ nhiều mâu thuẫn
căng thẳng về kinh tế, chính trị, thu hút sự quan tâm không chỉ ở khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương mà của hầu hết các nước lớn trên thế giới. Đây là
một khu vực có vị trí rất quan trọng cả về tài nguyên biển và đường hàng hải
quốc tế. Tuy nhiên, đây cũng là một trong những nơi có nguy cơ xảy ra xung
đột, có thể coi là một “điểm nóng” tiềm tàng về an ninh và ổn định của khu
vực châu Á – Thái Bình Dương. Các cuộc tranh chấp lãnh thổ ở biển Đông đã
bắt đầu diễn ra từ sau Chiến tranh thế giới II giữa nhiều quốc gia trong khu
vực như Trung Quốc, Việt Nam, Philippines… ,điển hình là trên hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa. Từ đó đến nay, vấn đề này vẫn không ngừng làm leo
thang mâu thuẫn trong quan hệ giữa các quốc gia, có nguy cơ gây chiến tranh
và trở thành vấn đề chính trị của toàn thế giới. Đề cập đến vấn đề này, các nhà
báo, nhà nghiên cứu chính trị khắp nơi trên thế giới đã tốn không biết bao
nhiêu công sức, giấy mực nhưng vẫn chưa tìm ra được giải pháp nào có thể
giải quyết triệt để, xóa bỏ được mâu thuẫn đang ngày càng lớn này. Trong
hoàn cảnh đó, Việt Nam- một quốc gia trong cuộc đã tuyên bố lãnh thổ trên
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cần phải có một cái nhìn rõ ràng và
những nước đi đúng đắn cho chính mình. Vì vậy, mỗi công dân Việt Nam
chúng ta cần phải nắm bắt được tình hình hiện tại, hiểu chính xác bản chất
vấn đề, tránh các luận điệu xuyên tạc, từ đó gấp rút tìm ra phương pháp xóa
bỏ những căng thẳng giữa các quốc gia trong khu vực, bảo toàn được lãnh

Tiên và Việt Nam trong
một hình dạng thay đổi của các đồng bằng rộng lớn, các sa mạc mênh mông
và các dãy núi cao chót vót, bao gồm các khu vực rộng lớn đất không thể ở
được. Nửa phía Đông của quốc gia này là các vùng duyên hải rìa các đảo là
một vùng bình nguyên phì nhiêu, đồi và núi, các sa mạc và các thảo nguyên
và các khu vực cận nhiệt đới. Nửa phía Tây của Trung Quốc là một vùng các
lưu vực chìm trong các cao nguyên, các khối núi, bao gồm phần cao nguyên
cao nhất trên trái đất.
b, Chính trị:
Từ thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, ảnh hưởng kinh tế, chính trị, quân sự của
Trung Quốc giảm sút nhiều do tác động của sức mạnh phương Tây cũng như
3


sức mạnh khu vực của Nhật Bản. Cuối thế kỷ 19 nhiều khu vực tại Trung
Quốc đã bị cắt hoặc nhường cho nước ngoài làm tô giới, nhượng địa, thuộc
địa và phần lớn nước này bị Nhật xâm chiếm vào Thế chiến thứ hai và người
Nhật đã tách lãnh thổ Mãn châu ra khỏi Trung quốc, dựng nên chính phủ Mãn
Châu Quốc. Năm 1912, chế độ quân chủ tại Trung Quốc chấm dứt và Trung
Hoa Dân Quốc (THDQ) ra đời dưới sự lãnh đạo của Tôn Dật Tiên; tuy nhiên
Trung Quốc trong suốt bốn thập kỷ của THDQ đã hỗn loạn vì kiểu lãnh đạo
quân phiệt, Chiến tranh Trung-Nhật lần II và nội chiến giữa Quốc Dân Đảng
và Cộng Sản Đảng.
Đảng Cộng sản Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông sau khi
giành chiến thắng đã thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
(CHNDTH) vào năm 1949, buộc chính phủ Trung Hoa Dân Quốc rút ra đảo
Đài Loan, nơi mà họ tiếp tục được khối phương Tây và Liên Hiệp Quốc công
nhận là chính quyền hợp pháp của toàn Trung Quốc mãi tới thập niên 1970,
sau đó hầu hết các nước và Liên Hiệp Quốc chuyển sang công nhận
CHNDTH. CHNDTH và THDQ (từ năm 1949 đến nay) không công nhận

qua kênh đào Suê, và nhiều gấp năm lần so với lượng tàu qua kênh đào
Panama, hơn 80% lượng dầu khí nhập khẩu của Nhật từ Trung Đông, Brunei,
Malaysia, Indonesia phải đi ngang vùng biển này. Vùng biển này còn là khu
vực cung cấp nguồn hải sản quan trọng cho các đội tàu đánh cá của Nhật Bản,
Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Brunei,
Singapore và Thái Lan. Ngoài việc đây là con đường hàng hải quan trọng thì
Biển Đông cũng là một khu vực giàu tài nguyên gồm cả nguồn hải sản và
tiềm năng dầu khí. Các chuyên gia Trung Quốc ước tính là khu vực này chứa
khoảng 225 tỷ barrels dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên. Với công nghệ khai thác
dầu khí như hiện nay, với những tiềm năng rất lớn về dầu khí trên các thềm
lục địa và các khu vực biển khác thì biển Đông sẽ thực sự là một khu vực
chiến lược quan trọng đối với bất cứ quốc gia nào trong khu vực và đặc biệt
quan trọng đối với Trung Quốc, một quốc gia đầy tham vọng muốn gây ảnh
hưởng đến toàn thế giới.
b, Tranh chấp chủ quyền trên biển Đông:
Có rất nhiều tranh cãi về lãnh hải trên vùng Biển Đông và các nguồn tài
nguyên của nó. Bởi Luật biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc cho phép các
nước có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) mở rộng 200 hải lí (370,6 km) từ lãnh
hải của họ, tất cả các nước quanh vùng biển có thể đưa ra tuyên bố chủ quyền
với những phần rộng lớn của nó. Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã tuyên bố
chủ quyền hầu như toàn bộ vùng biển. Những báo cáo gần đây cho thấy
CHND Trung Hoa đang phát triển một nhóm tàu sân bay để bảo vệ những
đường vận chuyển nhiên liệu ở Biển Đông. Những vùng có nguy cơ tranh
chấp gồm:
-Indonesia và CHNDTH về vùng biển phía đông bắc quần đảo Natuna.
-Philippines và CHNDTH về những khu khai thác khí gas Malampaya và
Camago.
-Philippines và CHNDTH về bãi cát ngầm Scarborough.
5


2.1, Các tranh chấp:
Trung Quốc từ lâu đã có ý định phát triển thành một cường quốc biển,
từ đó có thể thống trị thế giới. Và trong ý đồ đó, biển Đông có một vị trí chiến
lược hết sức quan trọng. Hiện nay, ngoài quần đảo Hoàng Sa đang là đối
tượng tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc (bao gồm cả Đài Loan), thì
quần đảo Trường Sa cùng là đối tượng tranh chấp của Brunei, Trung quốc
(bao gồm cả Đài Loan), Malaysia, Philippines và Việt Nam. Các tranh chấp
này bị chi phối rất nhiều bởi các yếu tố kinh tế, luật pháp, ngoại giao chiến
lược và các lợi ích địa - chính trị khác nhau cùng đan xen. Quan điểm của
Trung Quốc cho rằng Biển Đông là biển đặc quyền của Trung Quốc và họ yêu
sách chủ quyền đối với gần 80% Biển Đông thông qua ‘đường lưỡi bò’ (*) Xem phụ
lục
.
a, Tranh chấp Hoàng Sa:
Hoàng Sa nằm giữa một khu
vực có tiềm năng cao về hải sản
và trữ lượng dầu mỏ nhưng
không có dân bản địa sinh sống.
Vào năm 1932, chính quyền
Pháp ở Đông Dương chiếm giữ
quần đảo này và Việt Nam tiếp
tục nắm giữ chủ quyền cho đến
năm 1974 (trừ hai đảo Phú Lâm
và Linh Côn do Trung Quốc
chiếm giữ từ năm 1956). Trung
Quốc chiếm giữ toàn bộ Hoàng
Sa từ năm 1974 sau khi dùng
hải quân, lính thủy đánh bộ và
không quân tấn công căn cứ
quân sự của Việt Nam Cộng

xuất hiện từ rất sớm như Nguyên sử hay Trịnh Hòa hàng hải đồ, nhưng vẫn
không có bằng chứng về việc xác nhận chủ quyền của họ trên quần đảo này
vào thời điểm này. Trong bản đồ thời Trịnh Hòa phía Trung Quốc đưa ra
nhằm chứng minh cho chủ quyền của Trung Quốc, họ cho rằng địa danh Vạn
Lý Thạch Đường là quần đảo Hoàng Sa ngày nay, điều này đã được nhiều tài
liệu của Việt Nam phản bác lại, trong bản đồ này không hề tồn tại cái tên Tây
Sa Quần Đảo.
b, Tranh chấp Trường Sa:
Tranh chấp trong vùng quần đảo Trường Sa và các vùng gần đó
không chỉ là tranh chấp chủ quyền đối với các đảo/đá mà còn là tranh chấp
tài nguyên thiên nhiên như dầu khí và hải sản. Đã có nhiều cuộc xung đột
xảy ra giữa các nước về những tàu đánh cá nước ngoài trong vùng đặc
quyền kinh tế của nước khác và báo chí cũng thường đưa tin về những vụ
bắt giữ ngư dân. Nhiều nước tuyên bố chủ quyền cũng chưa cấp phép khai
thác tài nguyên tại vùng biển thuộc quần đảo vì lo ngại hậu quả là một cuộc
xung đột ngay lập tức.
8


Từ năm 1956, Đài Loan đã chiếm giữ đảo Ba Bình đảo lớn nhất trong quần
đảo Trường Sa. Trung Quốc tỏ thái độ hỗ trợ Đài Loan trong cuộc tranh chấp
này. Các thành viên sáng lập ASEAN có liên quan đến tranh chấp này chủ
yếu đưa ra yêu sách dựa trên thuyết kéo dài thềm lục địa hơn là các yêu sách
về chủ quyền dựa trên các bằng chứng lịch sử. Với sự lớn mạnh và bộc lộ
những tham vọng chi phối khu vực này của Hải quân Trung Quốc, đã đặt khối
ASEAN trước những thử thách to lớn. Tuy nhiên, ngoại trừ Philippines và
Việt Nam, các nước ASEAN khác đều chưa cảm thấy sự đe dọa trực tiếp từ
các hành động của Trung Quốc đến an ninh của nước mình. Dường như các
quốc gia đang để mặc cho diễn biến cuộc tranh chấp theo hướng giữ nguyên
hiện trạng vì ai cũng có những toan tính cho riêng mình Trong khi các quốc

gỡ đã diễn ra giữa các bên tham gia tranh chấp và cả Indonesia nhưng thu
được rất ít kết quả. Đến năm 1998, Trung Quốc tuyên bố rằng "các chòi ngư
dân" ở đá Vành Khăn bị hư hại do bão và điều bảy tàu đến vùng này để sửa
chữa. Lần này Philippines tiếp tục có các hành động đáp trả như cho hải quân
bắn chìm một số tàu cá của Trung Quốc mà nước này cho rằng đã xâm phạm
vùng đặc quyền kinh tế của họ.
Tháng 6 năm 1999, Philippines phản đối Malaysia chiếm bãi Thám Hiểm và
đá Én Ca, hai thực thể mà Philippines gọi là Pawikan và Gabriela Silang. Đến
tháng 10, nước này còn cho máy bay do thám bãi Thám Hiểm khiến Malaysia
cũng chỉ thị máy bay bay theo. Tuy nhiên, không có đụng độ quân sự diễn ra.
Ngày 28 cùng tháng, Philippines cáo buộc quân đội Việt Nam trên đá Tiên
Nữ đã bắn vào máy bay của Philippines khi máy bay này bay thấp để nhìn rõ
toà nhà ba tầng của Việt Nam vào ngày 13 tháng 10.
Ngày 10 tháng 4 năm 2007, trước câu hỏi của phóng viên về phản ứng của
Trung Quốc trước việc chính phủ Việt Nam phân lô dầu khí, gọi thầu, hợp tác
với hãng BP của Anh để xây dựng đường ống dẫn khí thiên nhiên (ở khu vực
mà Trung Quốc quan niệm thuộc Nam Sa và Việt Nam quan niệm thuộc vùng
đặc quyền kinh tế - thềm lục địa) đồng thời tổ chức bầu cử Quốc hội Việt
Nam (khóa XII) tại quần đảo Trường Sa, người phát ngôn Bộ Ngoại giao
Trung Quốc Tần Cương trả lời rằng "Việt Nam đưa ra hàng loạt hành động
mới xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung
Quốc ở Nam Sa, đi ngược lại với đồng thuận mà lãnh đạo hai bên Trung-Việt
đã đạt được về vấn đề trên biển", và "Trung Quốc đã biểu thị mối quan ngại
sâu sắc và giao thiệp nghiêm khắc với Việt Nam" ngay trong thời gian Chủ
tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đang thăm chính thức nước này.
Ngày 9 tháng 7 năm 2007, tàu hải quân Trung Quốc đã nã súng vào một số
thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vùng biển gần Trường Sa, làm
chìm một thuyền đánh cá của Việt Nam, khiến ít nhất một ngư dân thiệt mạng
và một số người khác bị thương.
Ngày 31 tháng 5 năm 2011, chỉ vài ngày sau sự kiện tàu Bình Minh 02 khi

có thể đưa ra một Bộ luật về ứng xử trên biển Đông, giúp duy trì vị trí của họ
trên biển Đông trước một đối thủ mạnh hơn. Tháng 7 năm 1992, các Ngoại
trưởng của các nước ASEAN đã cùng nhau ký Tuyên bố biển Đông tại
Manila – thủ đô Philippines. Tuyên bố này không nhằm vào vấn đề giải quyết
chủ quyền mà tập trung vào chính sách ngoại giao phòng ngừa, các biện pháp
giải quyết các tranh chấp bằng phương pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực.
Cho dù vẫn còn tồn tại những yêu sách chồng lấn khác biệt nhau, nhưng các
quốc gia thành viên vẫn cùng nhau chia sẻ quan điểm là duy trì sự ổn định
trong khu vực và tránh đối đầu với Trung Quốc. Tuy nhiên, thành công của
Tuyên bố Manila bị giảm bớt rất nhiều bởi thiếu sự ủng hộ từ các quốc gia
trực tiếp liên quan. Trong khi Việt Nam sẵn sàng ủng hộ thì Trung Quốc kiên
quyết không thừa nhận Tuyên bố Manila và không chấp nhận các nguyên tắc
11


trong Tuyên bố này. Trung Quốc lại từ chối tranh luận về vấn đề chủ quyền
trong một diễn đàn đa phương. Trung Quốc muốn hướng tới việc sẽ đóng vai
trò chi phối trong những cuộc đối thoại với các quốc gia tham gia tranh chấp
thông qua những cuộc đàm phán song phương. Trong cuộc gặp gỡ thượng
đỉnh ASEAN vào tháng 11 năm 1999, Philippines, với sự ủng hộ của Việt
Nam, đã trình bày ra một bản dự thảo cho bộ luật ứng xử trên biển Đông. Đây
chính các quy định dựa trên ý tưởng về các thỏa thuận nhằm kiểm soát hòa
bình các tranh chấp thông qua việc ngăn ngừa các tình huống xấu. Cụ thể, nó
nhằm vào việc ngăn ngừa các hành động chiếm đóng của các bên tranh chấp
và duy trì sự hiện diện quân sự trên các đảo nhỏ không có người ở. Các Ngoại
trưởng các nước ASEAN và Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Wang Yi
cuối cùng đã cùng nhau ký kết Tuyên bố chung về các quy tắc ứng xử trên
biển Đông bên lề cuộc gặp thượng đỉnh ASEAN diễn ra vào tháng 11 năm
2002 tại Phnom Penh, Campuchia. Tuyên bố này được ASEAN và Trung
Quốc đưa ra với ý định ngăn ngừa sự căng thẳng của các tranh chấp biển và

Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương của Hoa Kỳ
phát biểu: "Mỹ không đứng về bên nào trong một cuộc tranh chấp", "Đây là
một cam kết chắc chắn để cho thấy rằng các bên liên quan tới tranh chấp cần
phải cùng nhau giải quyết vấn đề một cách hòa bình và thông qua đối thoại,
chứ không phải bằng những va chạm trên biển hoặc trên không".
Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Jim Webb, chủ tịch tiểu ban Đông Á tại Thượng viện
và từng là Bộ trưởng Hải quân, cùng với James Inhofe, vào ngày 13 tháng 6
năm 2011 đã đưa ra một nghị quyết lên án Trung Quốc sử dụng vũ lực trong
việc tranh chấp chủ quyền. Nghị quyết đặc biệt nhắc đến vụ Bình Minh 02 và
Viking II cũng như một cuộc đụng độ khác giữa Trung Quốc và Philippines.
Ngày 17 tháng 6, Mỹ và Việt Nam đã ra thông cáo chung sau vòng Đối thoại
về chính trị, an ninh-quốc phòng Việt- Mỹ lần thứ 4 diễn ra va tại Washington
D.C., kêu gọi "duy trì hòa bình, ổn định, an toàn và tự do lưu thông hàng hải
tại Biển Đông" và "không sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp".
Trung Quốc và Hoa Kỳ hiện đang bất đồng về chính sách vận hành các tàu
quân sự và máy bay ở biển Đông của Hoa Kỳ. Bất đồng này càng trở nên trầm
trọng hơn bởi một thực tế là Mỹ là chưa phải là một thành viên của Công ước
Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS). Tuy nhiên, Mỹ đã tuyên bố rằng
"các hoạt động khảo sát thăm dò hòa bình và các hoạt động quân sự khác mà
không có sự cho phép trong vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia" được
Công ước cho phép. Ngoài ra, việc tự do lưu thông trong biển Đông nằm
trong tổng thể lợi ích kinh tế và địa chính trị của của Mỹ. Mặc dù Mỹ không
phải là một bên trong tranh chấp nhưng nếu Trung Quốc giành được đặc
quyền tại biển này thì Mỹ sẽ phải xin phép Trung Quốc nếu muốn lưu thông
qua biển Đông chứ không dựa vào UNCLOS được nữa. Với giả thuyết là Hoa
Kỳ muốn duy trì vị thế hàng đầu ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương thì việc
chịu thua áp lực từ Trung Quốc là một viễn cảnh nước này không hề mong
muốn. Liên quan đến tranh chấp, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã lên
tiếng ủng hộ quyền tự do hàng hải bằng cách nhắc lại rằng "tự do hàng hải và
tôn trọng luật pháp quốc tế" là một vấn đề thuộc lợi ích quốc gia của Mỹ. Ý

tác khai thác dầu khí trong thềm lục địa của Việt Nam. Việc Trung Quốc bành
trướng trên Biển Đông với cái gọi là "đường lưỡi bò" sẽ uy hiếp trực tiếp lợi
ích của Ấn Độ. Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh cũng từng tuyên bố: “Ấn
Độ và ASEAN cần tăng cường hợp tác an ninh, an toàn và tự do hàng hải,
giải quyết bằng hòa bình các tranh chấp hàng hải theo luật pháp quốc tế”.
Phản ứng mới nhất của Ấn Độ cho thấy nước này vẫn không đồng tình trong
vấn đề biển Đông của Trung Quốc. Từ cuối năm 2012, Ấn Độ cũng bắt đầu
đẩy mạnh liên minh an ninh với Nhật Bản nhằm tăng cường bảo vệ an ninh
biển Đông.

15


KẾT LUẬN
Hiện nay, các tranh chấp trên biển Đông vẫn còn ở trạng thái để mặc cho nó
tồn tại. Các biện pháp ngoại giao nhằm mục đích kiểm soát các xung đột, hay
các giải pháp đưa ra cũng bị giới hạn rất nhiều. Tuyên bố biển Đông năm
1992 chỉ giới hạn được trong phạm vi các thành viên trong khối ASEAN, còn
Tuyên bố về các quy tắc ứng xử trên biển Đông năm 2002 dựa trên lập trường
đa phương nhằm giải quyết xung đột bằng những phương pháp hòa bình, tuy
vậy, trong khi vẫn chờ đợi để giải quyết một cách trực tiếp các tranh chấp thì
Tuyên bố năm 2002 vẫn chỉ giới hạn như là một thỏa thuận chính trị. Mặc dù
việc sử dụng vũ lực của Trung Quốc cũng như các bên tham gia tranh chấp
khác nhằm kiểm soát các đảo không người ở vẫn tiếp tục diễn ra, thì trên biển
Đông đến nay vẫn chỉ có thể duy trì các biện pháp mang tính chính trị hơn là
quân sự. Cho đến nay Trung Quốc vẫn thành công trong việc chia rẽ và đe
dọa về mặt quân sự đối với các thành viên ASEAN. Trong thời gian tới, một
cuộc xung đột vũ trang lớn dẫn đến tình trạng đối đầu giữa Trung Quốc và
ASEAN khó có thể xảy ra, thế nhưng những va chạm quân sự vẫn luôn có thể
xuất hiện. Trong tương lai xa hơn, các tranh chấp trên biển Đông có thể trở

là đường quốc giới trên biển Đông
do mười một đoạn liên tục tạo
thành, xuất hiện công khai lần đầu
tiên vào tháng 2 năm 1948 trong
phụ đồ "Bản đồ vị trí các đảo Nam
Hải" của "Bản đồ khu vực hành
chính Trung Hoa Dân Quốc" do
Cục Phương vực Bộ Nội chính
Trung Hoa Dân Quốc phát hành.
Nước Cộng hòa nhân dân Trung
Hoa sau khi thành lập vẫn xác
định cương vực trên biển Đông theo "đường mười một đoạn" của Trung Hoa
Dân Quốc, đến năm 1953 thì bỏ hai đoạn trong vịnh Bắc Bộ, trở thành
"đường chín đoạn".
Đường chín đoạn bao trọn bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên biển Đông
là quần đảo Hoàng Sa, Quần đảo Trường Sa, quần đảo Đông Sa và bãi
Macclesfield với khoảng 75% diện tích mặt nước của biển Đông, chỉ còn lại
khoảng 25% cho tất cả các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, và
Việt Nam, tức mỗi nước được trung bình 5%.
Sau vụ đụng độ giữa Hải quân Trung Quốc và Hải quân Việt Nam năm 1988,
một số học giả Trung Quốc nói rằng ranh giới chín đoạn là ranh giới biển lịch
sử của Trung Quốc. Tuy nhiên, dù Trung Quốc có đề cập tới chủ quyền lịch
sử của họ ở Biển Nam Trung Hoa hay chủ quyền của Trung Quốc đối với
Hoàng Sa, Trường Sa và những vùng biển lân cận, phát ngôn chính thức của
17


Trung Quốc cũng chưa bao giờ chính thức nói là phạm vi của những vùng
biển đó là ranh giới chín đoạn. Phản đối quan điểm của nhóm các học giả
trên, nhóm thứ hai cho rằng yêu sách vùng nước lịch sử của Cộng hoà Trung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status