CHỦ ĐỀ 1.
MỘT SỐ CÂU HỎI VÀ TÌNH HUỐNG CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
Câu hỏi 1. Năng lực pháp luật của cá nhân được hiểu như thế nào?
Trả lời:
Cá nhân là một trong các chủ thể của quan hệ dân sự. Để tham gia vào
các quan hệ dân sự, cá nhân phải có tư cách chủ thể hay năng lực chủ thể,
được tạo thành bởi năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được quy định tại Điều 14 Bộ luật
dân sự năm 2005:
“Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có
quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.
Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có được từ khi người đó sinh ra và
chấm dứt khi người đó chết”.
Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là tổng hợp các quyền và
nghĩa vụ mà pháp luật dân sự quy định cho cá nhân. Các quyền và nghĩa vụ dân
sự của cá nhân được ghi nhận ở Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001),
Bộ luật dân sự năm 2005 và nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
Theo quy định của pháp luật dân sự cá nhân có các quyền, nghĩa vụ dân
sự sau đây:
- Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài
sản;
- Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản;
- Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp
do pháp luật quy định (Điều 16 Bộ luật dân sự năm 2005).
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng, là tiền đề, là thành
phần không thể thiếu được của cá nhân với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp
luật dân sự, là một mặt của năng lực chủ thể.
Câu hỏi 2. Năng lực hành vi dân sự là gì? Phân biệt năng lực hành vi
án ra quyết định tuyên bố là người hạn chế năng lực hành vi dân sự theo yêu
cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan.
- Đối với người chưa thành niên:
+ Người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổikhi xác
lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý,
trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi
hoặc pháp luật có quy định khác.
+ Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám
tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo
pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
+ Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự.
Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo
pháp luật xác lập, thực hiện.
Tình huống 3. Sau giờ học, Huyền và Ngọc - hai em học sinh lớp 6
trao đổi với nhau về các quy định của pháp luật dân sự. Huyền cho rằng
mình có quyền thực hiện các giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt
hàng ngày phù hợp với lứa tuổi của mình. Còn Ngọc chưa hiểu rõ lắm các
quy định đó. Em muốn hỏi ý kiến của Huyền có chính xác không?
Trả lời
ý kiến của Huyền là chính xác.
Theo quy định của pháp luật dân sự (Khoản 1 Điều 20 Bộ luật Dân sự
năm 2005) người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được xác
lập, thực hiện các giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp
với lứa tuổi.
Giao dịch này thường là các giao dịch có giá trị nhỏ, mục đích là để phục
vụ nhu cầu sinh hoạt, học tập, vui chơi hàng ngày trong cuộc sống, được người
đại diện của họ cho phép thực hiện mà không cần sự đồng ý trực tiếp của người
- Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 37)
- Quyền bí mật đời tư (Điều 38)
- Quyền kết hôn (Điều 39)
- Quyền bình đẳng vợ chồng (Điều 40)
- Quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình
(Điều 41)
- Quyền ly hôn (Điều 42)
- Quyền nhận, không nhận cha, mẹ (Điều 43)
- Quyền được nhận làm con nuôi (Điều 44)
- Quyền đối với quốc tịch (Điều 45)
- Quyền được bảo đảm an toàn về chỗ ở (Điều 46)
- Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 47)
- Quyền tự do đi lại, cư trú (Điều 48)
- Quyền lao động (Điều 49)
- Quyền tự do kinh doanh (Điều 50)
- Quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo (Điều 51)
Câu hỏi 5. Các phương thức bảo vệ quyền nhân thân được Bộ luật
dân sự 2005 quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 25 của Bộ luật dân sự 2005, khi quyền nhân thân
của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền sử dụng các phương thức sau
để bảo vệ:
- Tự mình cải chính
- Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai;
- Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại.
Tình huống số 6. Khi sinh Hận, bố em đi làm xa, bỏ mặc mẹ con em,
nhân?
Trả lời
Theo quy định tại Điều 29 Bộ luật dân sự năm 2005 thì cá nhân khi sinh ra
có quyền được khai sinh.
Quyền được khai sinh là một trong những quyền quan trọng của mỗi cá
nhân để khẳng định sự tồn tại của cá nhân đó trong một Nhà nước và được nhà
nước công nhận là một công dân của Nhà nước đó. Quyền được khai sinh là cơ
sở pháp lý quan trọng để cá nhân thực hiện các quyền khác như quyền có họ
tên, có quốc tịch và các quyền dân sự khác.
Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ
của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới
tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy
khai sinh của người đó.
Để thực hiện quyền được khai sinh đối với trẻ em pháp luật về quản lý và
đăng ký hộ tịch quy định trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có
trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà
hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em.
Thẩm quyền đăng ký khai sinh:
Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký
khai sinh cho trẻ em; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì Ủy
ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh.
Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ và người
cha, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực
hiện việc đăng ký khai sinh.
Trường hợp không thực hiện việc đăng ký khai sinh trong thời hạn quy
định thì phải đăng ký theo thủ tục đăng ký quá hạn.
Thẩm quyền đăng ký khai sinh quá hạn quy định như sau :
Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi có thẩm quyền đăng ký khai sinh thực hiện
việc đăng ký khai sinh quá hạn.
Trong trường hợp người đã thành niên đăng ký khai sinh quá hạn cho
phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người
đó đồng ý.
Để bảo vệ quyền của cá nhận đối với hình ảnh của mình, Pháp luật
nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự,
nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.
Câu hỏi 9. Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe,
thân thể của cá nhân dược pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời
Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thểcủa cá
nhân được quy định tại Điều 32 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:
- Cá nhân có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân
thể.
- Khi phát hiện người bị tai nạn, bệnh tật mà tính mạng bị đe dọa thì người
phát hiện có trách nhiệm đưa đến cơ sở y tế; cơ sở y tế không được từ chối việc
cứu chữa mà phải tận dụng mọi phương tiện, khả năng hiện có để cứu chữa.
- Việc thực hiện phương pháp chữa bệnh mới trên cơ thể một người, việc
gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép bộ phận của cơ thể phải được sự đồng ý của
người đó; nếu người đó chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc là
bệnh nhân bất tỉnh thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc
người giám hộ của người đó đồng ý; trong trường hợp có nguy cơ đe dọa đến
tính mạng của bệnh nhân mà không chờ được ý kiến của những người trên thì
phải có quyết định của người đứng đầu cơ sở y tế.
- Việc mổ tử thi được thực hiện trong các trường hợp:
+ Có sự đồng ý của người quá cố trước khi người đó chết;
+ Có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người
giám hộ khi không có ý kiến của người quá cố trước khi người đó chết;
+ Theo quyết định của tổ chức y tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền
trong trường hợp cần thiết.
vệ.
”...Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá
nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử
khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và
phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.
Tình huống 12. Khi mẹ Minh sinh được em Thịnh là con trai, bố mẹ
Minh rất hạnh phúc. Song từ đó, Minh, vì là con gái, nên không còn được
bố mẹ yêu thương, chăm sóc như trước đây. Đặc biệt, nhiều hôm, mẹ Minh
còn bắt Minh nghỉ học phụ mẹ, trông em khi em ốm. Minh rất buồn. Thấy
Minh gày gò và ốm yếu, hay nghỉ học cô giáo Minh đã hỏi chuyện và đến
nhà động viên bố mẹ Minh cho Minh tiếp tục đi học và quan tâm chăm sóc
cho em. Xin hỏi pháp luật quyđịnh thế nào về quyền được hưởng sự chăm
sóc giữa các thành viên trong gia đình ?
Trả lời:
Quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình được
quy định tại Điều 41 Bộ luật dân sự năm 2005, theo đó
Các thành viên trong gia đình có quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp
đỡ nhau phù hợp với truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam.
Con, cháu chưa thành niên được hưởng sự chăm sóc, nuôi dưỡng của
cha mẹ, ông bà; con, cháu có bổn phận kính trọng, chăm sóc và phụng dưỡng
cha mẹ, ông bà.
Đối với người chưa thành niên, được chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm đáp
ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần ở mức cao nhất có thể có, với mức sống
ngày càng được nâng cao là quyền của trẻ em và là mục tiêu phấn đấu chung
của gia đình, Nhà nước và xã hội.
Điều 12 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 cụ thể hóa
quyền của trẻ em do Hiến pháp năm 1992 ghi nhận trẻ em có “quyền được chăm
được pháp luật công nhận và bảo hộ.
Việc nhận con nuôi và được nhận làm con nuôi được thực hiện theo quy định
của pháp luật.
Điều 8 Luật nuôi con nuôi quy định về người được nhận làm con nuôi gồm
:
- Trẻ em dưới 16 tuổi.
-. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
+ Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;
+ Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.
Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai
người là vợ chồng.
Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi.
Khoản 1 Điều 21 Luật nuôi con nuôi quy định : Việc nhận nuôi con nuôi
phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu
cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không
xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều
đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì
phải được sự đồng ý của người giám hộ; trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi
trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó.
Như vây, T có quyền được bác nhận làm con nuôi. Việc nhận con nuôi cần
có sự đồng ý của T.
Tình huống 14. Ngày chủ nhật, bố mẹ có việc đi vắng nên dặn dò em
K 12 tuổi phải ở nhà vừa học bài vừa trông nhà. Bỗng nhiên có một người
lạ gõ cửa tự xưng là nhân viên truyền hình cáp, đề nghị em K mở cửa cho
vào nhà kiểm tra đường dây truyền hình cáp của gia đình. Em K không
đồng ý và nói người đó phải chờ bố mẹ về vì mỗi cá nhân có quyền bất khả
xâm phạm về chỗ ở. Xin hỏi, ý kiến của em K có chính xác hay không?(bỏ)
Trả lời:
không? Nơi cư trú của người chưa thành niên được pháp luật quy định
như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 13 Luật Cư trú năm
2006, thì nơi cư trú của người chưa thành niên được quy định như sau:
- Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha,
mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư
trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống.
- Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha,
mẹ nếu được cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.
Như vậy, M có thể khai báo nơi cư trú của mình là nhà người dì ruột nếu
đã được bố mẹ M đồng ý.
Câu hỏi 17. Pháp luật quy định việc giám hộ cho người chưa thành
niên như thế nào?
Trả lời:
Giám hộ là chế định quan trọng trong Bộ luật dân sự nhằm mục đích thực
hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành
niên.
Theo quy định tại Điều 58 Bộ luật dân sự năm 2005:
“Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ)
được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi
dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ)”.
Như vậy, chế độ giám hộ là bắt buộc đối với người chưa thành niên bao
gồm:
- Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha,
mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện
Câu hỏi 19. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ cho người chưa
thành niên được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, quyền và nghĩa vụ của
người giám hộ đối với người được giám hộ là người chưa thành niên được quy
định như sau:
* Về quyền của người giám hộ, Điều 68, Điều 69 quy định:
- Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho
những nhu cầu cần thiết của người được giám hộ;
- Được thanh toán các chi phí cần thiết cho việc quản lý tài sản của người
được giám hộ;
- Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện các giao
dịch dân sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
- Người giám hộ có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ
như tài sản của chính mình. Người giám hộ được thực hiện các giao dịch liên
quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ.
Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và
các giao dịch khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải
được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ. Người giám hộ không được
đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Các giao dịch dân sự
giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người
được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích
của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
* Về nghĩa vụ của người giám hộ, Điều 65 quy định:
Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ chưa đủ mười
lăm tuổi:
- Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ;
- Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường
Theo quy định của pháp luật, có hai loại đại diện:
- Đại diện theo pháp luật;
- Đại diện theo ủy quyền.
Người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên bao gồm:
- Cha, mẹ đối với người chưa thành niên;
- Người giám hộ đối với người được giám hộ:
Đại diện theo ủy quyền: là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền của
người đại diện và người được đại diện. Việc ủy quyền phải được lập thành văn
bản.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 143 Bộ luật dân sự năm 2005 thì người từ
đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy
quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ
mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.
Tình huống 21. Em D là học sinh lớp 7 muốn hỏi pháp luật quy định
quyền sở hữu được xác lập và chấm dứt trong những trường hợp nào?
Trong trường hợp em vô tình nhặt được một vật do người khác bỏ quên
mà em không biết địa chỉ của người đó thì vật đó có đương nhiên thuộc
quyền sở hữu của em hay không?
Trả lời:
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định
đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có đủ ba quyền là
quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản.
Theo quy định tại Điều 170 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì quyền sở hữu
được xác lập đối với tài sản trong các trường hợp sau đây:
- Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp;
- Được chuyển giao quyền sở hữu theo thoả thuận hoặc theo quyết định
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Thu hoa lợi, lợi tức;
- Tạo thành vật mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến;
người phát hiện về kết quả xác định chủ sở hữu.
Trong trường hợp vật không xác định được ai là chủ sở hữu là động sản thì
sau một năm, kể từ ngày thông báo công khai, mà vẫn không xác định được ai là
chủ sở hữu thì động sản đó thuộc sở hữu của người phát hiện theo quy định của
pháp luật; nếu vật là bất động sản thì sau năm năm, kể từ ngày thông báo công
khai vẫn chưa xác định được ai là chủ sở hữu thì bất động sản đó thuộc Nhà
nước; người phát hiện được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của
pháp luật.
Trường hợp D vô tình nhặt được vật do người khác bỏ quên mà D không
biết địa chỉ của người đó thì vật đó không đương nhiên thuộc quyền sở hữu của
em mà phải tuân theo các quy đinh pháp luật nêu trên.
Tình huống 22. Bé Quân 11 tuổi là con trai của anh chị Quỳnh. Buổi
chiều chủ nhật được nghỉ học Quân đã cùng bạn bè xuống đường đá
bóng, chơi đùa rất vui vẻ. Trong lúc thể hiện chân sút với các bạn, trái
bóng của Quân đã bay thẳng vào cửa kính nhà bà Kim làm kính vỡ tan. Bà
Kim phải đi thay cửa kính mới hết 2.000.000 đồng. Bà yêu cầu gia đình của
Quân phải bồi thường thiệt hại mà Quân đã gây ra. Xin hỏi, trách nhiệm bồi
thường của Quân được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Do Quân dưới 15 tuổi nên việc bồi thường thiệt hại cho bà Kim sẽ do bố
mẹ Quân chịu trách nhiệm.
Điều 606 Bộ luật dân sự quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại của cá nhân như sau:
- Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
- Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ
thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ
để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài
sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định bồi thường thiệt
chúc hay không? Di chúc thế nào được coi là hợp pháp?
Trả lời:
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình
cho người khác sau khi chết.
Theo quy định tại Điều 647, Khoản 2 Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2006,
người chưa thành niên có quyền lập di chúc:
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc,
nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Tuy nhiên, di chúc của người từ
đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và
phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị
lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;
b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc
không trái quy định của pháp luật.
Câu hỏi 25. Người chưa thành niên có quyền được hưởng thừa kế
mà không phụ thuộc vào nội dung của di chúc hay không?
Trả lời:
Điều 669 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về người thừa kế không phụ
thuộc vào nội dung của di chúc như sau:
Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất
của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật,
trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ
cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ
chối nhận di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy
định của pháp luât :
- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
- Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.
a) Theo Điều 5 của Bộ luật Lao động năm 2012, khi tham gia quan hệ lao
động, người lao động có các quyền sau đây:
- Người lao động được tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề,
nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử;
- Người lao động được hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề
trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động;
- Người lao động được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm
về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có
lương và được hưởng phúc lợi tập thể;
- Người lao động được thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức
nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật; yêu cầu và tham gia
đối thoại với người sử dụng lao động, thực hiện quy chế dân chủ và được tham
vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tham gia
quản lý theo nội quy của người sử dụng lao động;
- Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo
quy định của pháp luật;
- Người lao động có quyền đình công.
b) Đồng thời, người lao động có các nghĩa vụ sau đây:
- Thực hiện hợp đồng lao động và các thỏa thuận khác với người sử dụng
lao động
- Chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động, tuân theo sự điều hành
hợp pháp của người sử dụng lao động;
- Thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về
bảo hiểm y tế.
Tình huống 3. Nam cho rằng: “Người chủ sử dụng lao động đã bỏ
tiền ra để thuê người lao động làm việc cho mình nên xét về mặt pháp luật,
người sử dụng lao động có nhiều quyền hơn người lao động” Xin hỏi: Nam
nhận định như vậy có đúng không?
Trả lời: Nam nhận định như vậy là không đúng vì:
Theo Điều 7 của Bộ luật Lao động năm 2012 thì “Quan hệ lao động giữa
- Thiện chí, hợp tác: Người lao động và người sử dụng lao động phải có
thái độ thiện chí, hợp tác với nhau;
- Trung thực: Người lao động và người sử dụng lao động phải trung thực
với nhau, không bên nào được lừa dối bên nào
Việc giao kết hợp đồng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội
Trong trường hợp người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì việc
giao kết hợp đồng lao động phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp
luật của người lao động. Người đại diện theo pháp luật ở đây bao gồm: cha, mẹ
hoặc người giám hộ của người chưa thành niên.
Theo quy định tại Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2012, hợp đồng lao
động có hai hình thức:
- Hình thức văn bản: Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản
và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động
giữ 01 bản
- Hình thức thỏa thuận bằng lời nói: Đối với công việc tạm thời có thời hạn
dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói.
Như vậy, hợp đồng lao động có thể thỏa thuận bằng lời nói.
Tình huống 5. Được sự đồng ý của bố mẹ, Hải đã ký một hợp đồng
lao động với chú An với thời hạn là 1 năm. Tuy nhiên, trong quá trình làm
việc, chú An thường xuyên trả lương không đúng thời hạn, thậm chí còn
trả lương không đủ theo như quy định trong hợp đồng. Sau 3 tháng làm
việc, Hải muốn chấm dứt hợp đồng lao động với chú An. Chú An không
cho phép và cho rằng: vì Hải đã ký hợp đồng một năm nên phải làm hết
một năm mới được nghỉ. Xin hỏi theo quy định của pháp luật, Hải có thể
chấm dứt hợp đồng lao động này không?
Trả lời:
Theo quy định của Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Lao động năm 2012 thì:
Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng
tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình, thì không phải đăng
ký hoạt động dạy nghề và không được thu học phí.
Trong thời gian học nghề, tập nghề, nếu người học nghề, tập nghề trực
tiếp hoặc tham gia lao động làm ra sản phẩm hợp quy cách, thì được người sử
dụng lao động trả lương theo mức do hai bên thoả thuận.
Như vậy, căn cứ vào quy định của pháp luật, việc làm của chủ quán sửa
xe là hoàn toàn sai vì:
- Hình thức học nghề của Chung là vừa học nghề, vừa làm việc cho người
sử dụng lao động. Đối với hình thức học nghề này, pháp luật quy định người sử
dụng lao động không được phép thu học phí. Vì vậy, việc chủ quán sửa xe thu
học phí một triệu đồng mỗi tháng là sai với quy định của pháp luật
- Chung đã có thể sửa hoàn chỉnh những hỏng hóc nhỏ, tạo ra được thu
nhập cho quán nên em có quyền được hưởng một mức lương theo sự thỏa
thuận với người sử dụng lao động.
Câu hỏi 7. Pháp luật lao động quy định về tiền lương và việc trả
lương như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định của Điều 90 Bộ luật lao động thì tiền lương là khoản tiền
mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo
thỏa thuận. Tiền lương trả cho người lao động phải căn cứ vào năng suất lao
động và chất lượng công việc. Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả
lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối vớingười lao động làm công
việc có giá trị như nhau.
Câu hỏi 8. Thời giờ làm việc của người chưa thành niên được pháp
luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định của Điều 163 Bộ luật Lao động năm 2012, thời giờ làm việc
của người chưa thành niên được quy định như sau:
ngày làm thêm và mức tiền lương của Dũng để xác định và trả cho Dũng tiền
lương làm thêm theo quy định.
Câu hỏi 10. Người lao động có trách nhiệm tuân thủ kỷ luật lao động
như thế nào?
Trả lời:
Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ
và điều hành sản xuất, kinh doanh trong nội quy lao động.
Người lao động có trách nhiệm phải tuân thủ kỷ luật lao động, cụ thể:
- Thực hiện các quy định cụ thể về thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và
trật tự trong đơn vị.
- Thực hiện nghiêm túc các quy định về an toàn lao động, vệ sinh nơi làm
việc, tuân thủ các quy định về kỹ thuật, công nghệ.
- Bảo vệ tài sản, bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ của đơn vị.
Khi người lao động vi phạm kỷ luật lao động thì có thể bị xử lý kỷ luật lao
động; trong trưởng hợp người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, gây thiệt hại
đến tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật.
Câu hỏi 11. An toàn lao động, vệ sinh lao động là gì? Người sử dụng lao
động và người lao động phải làm gì để bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh
lao động?
Trả lời:
An toàn lao động là việc ngăn ngừa sự cố tai nạn xảy ra trong quá trình
lao động, gây thương tích đối với cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động.
Vệ sinh lao động là việc ngăn ngừa bệnh tật do những chất độc hại tiếp
xúc trong quá trình lao động gây ra đối với nội tạng hoặc gây tử vong cho người
lao động.
Theo Điều 138 Bộ luật Lao động năm 2012, nhằm đảm bảo an toàn lao
động, vệ sinh lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm:
- Bảo đảm nơi làm việc đạt yêu cầu về không gian, độ thoáng; hạn chế các
yếu tố có hại (bụi, hơi, khí độc, phóng xạ, )...trong mức mà pháp luật quy định;
chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khoẻ để bảo đảm sự
phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người
lao động chưa thành niên về các mặt lao động, tiền lương, sức khoẻ, học tập
trong quá trình lao động.
Cụ thể hơn, theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Lao động năm 2012 thì
người sử dụng lao động không được phép sử dụng người chưa thành niên sản
xuất và kinh doanh rượu, cồn, bia, thuốc lá, chất tác động đến thần kinh và các
chất gây nghiện khác. Bên cạnh đó, người sử dụng lao động phải tạo cơ hội để
người lao động chưa thành niên và người dưới 15 tuổi tham gia lao động được
học văn hóa.
Như vậy, việc bà Vân giao cho Lam công việc nấu và bán rượu là trái pháp
luật vì việc này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của Lam. Mặt khác,
bà Vân không có quyền bắt Lam nghỉ học để bán rượu vào những dịp lễ tết.
Hành vi vi phạm pháp luật của bà Vân có thể bị xử phạt theo quy định của pháp
luật.
Đối với Lam, em có thể lựa chọn một công việc khác phù hợp với bản thân
để có thể tiếp tục phụ giúp gia đình.
Tình huống 13. Năm nay Quân 17 tuổi. Vì có sức khỏe nên Quân xin
vào làm việc tại một xưởng cơ khí. Tuy nhiên, khi biết Quân chưa đủ 18
tuổi, người chủ của xưởng cơ khí đã từ chối và cho biết rằng công việc ở
xưởng cơ khí này không được phép nhận người chưa thành niên. Quân
thắc mắc và muốn biết những công việc nào không được phép nhận người
lao động chưa thành niên?
Trả lời:
Ở giai đoạn dưới 18 tuổi, thể lực và trí tuệ của con người đang ở gia đoạn
phát triển và chưa ổn định. Vì vậy, những công việc nặng nhọc, độc hại sẽ ảnh
hưởng đến sức khỏe của người chưa thành niên. Nhằm mục đích bảo vệ người
lao động chưa thành niên, Bộ luật Lao động năm 2012 (Điều 165) đã quy định
Tình huống 15. Ở khu vực dân cư mà Lan sinh sống có một số quán
bar, quán karaoke thuê người lao động dưới 18 tuổi phục vụ, trong đó hầu
hết là nữ. Xin hỏi việc làm như vậy có đúng pháp luật không?
Trả lời:
Nhằm bảo đảm sự phát triển về thể lực, trí tuệ và nhân cách, một số nơi
và môi trường làm việc sau đây không được phép sử dụng người lao động chưa
thành niên: (Điều 165 Bộ luật Lao động năm 2012)
- Dưới nước, dưới lòng đất, trong hang động, trong đường hầm;
- Công trường xây dựng;
- Cơ sở giết mổ gia súc;
- Sòng bạc, quán bar, vũ trường, phòng hát karaoke, khách sạn, nhà nghỉ,
phòng tắm hơi, phòng xoa bóp;
- Nơi làm việc khác gây tổn hại đến sức khoẻ, sự an toàn và đạo đức của
người chưa thành niên.
Như vậy, căn cứ theo quy định của pháp luật, việc sử dụng người lao động
chưa thành niên (dưới 18 tuổi) trong các quán bar, phòng hát karaoke là hoàn
toàn sai trái và sẽ bị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Môi trường làm việc trong các
quán bar, karaoke sẽ ảnh hưởng không tốt đến nhân cách của người chưa thành
niên, mặt khác, những lao động nữ này có thể bị lợi dụng hoạt động mại dâm.