CHỦ ĐỀ 1.
MỘT SỐ CÂU HỎI VÀ TÌNH HUỐNG CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
Câu hỏi 1. Năng lực pháp luật của cá nhân được hiểu như thế nào?
Trả lời:
Cá nhân là một trong các chủ thể của quan hệ dân sự. Để tham gia vào các
quan hệ dân sự, cá nhân phải có tư cách chủ thể hay năng lực chủ thể, được tạo
thành bởi năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được quy định tại Điều 14 Bộ luật dân
sự năm 2005:
“Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân
sự và nghĩa vụ dân sự.
Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có được từ khi người đó sinh ra và chấm
dứt khi người đó chết”.
Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là tổng hợp các quyền và
nghĩa vụ mà pháp luật dân sự quy định cho cá nhân. Các quyền và nghĩa vụ dân sự
của cá nhân được ghi nhận ở Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001), Bộ luật
dân sự năm 2005 và nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
Theo quy định của pháp luật dân sự cá nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự sau
đây:
- Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản;
- Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản;
- Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp do
pháp luật quy định (Điều 16 Bộ luật dân sự năm 2005).
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng, là tiền đề, là thành phần
không thể thiếu được của cá nhân với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật dân
sự, là một mặt của năng lực chủ thể.
Hạn chế năng lực hành vi dân sự là trường hợp người nghiện ma túy hoặc = các
chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì có thể bị Tòa án ra quyết
định tuyên bố là người hạn chế năng lực hành vi dân sự theo yêu cầu của người có
quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan.
- Đối với người chưa thành niên:
+ Người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổikhi xác lập,
thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao
dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật
có quy định khác.
+ Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài
sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch
dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác.
+ Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự.
Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp
luật xác lập, thực hiện.
Tình huống 3. Sau giờ học, Huyền và Ngọc - hai em học sinh lớp 6 trao đổi với
nhau về các quy định của pháp luật dân sự. Huyền cho rằng mình có quyền thực hiện
các giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi của
mình. Còn Ngọc chưa hiểu rõ lắm các quy định đó. Em muốn hỏi ý kiến của Huyền có
chính xác không?
Trả lời
ý kiến của Huyền là chính xác.
Theo quy định của pháp luật dân sự (Khoản 1 Điều 20 Bộ luật Dân sự năm
2005) người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được xác lập, thực hiện
- Quyền được khai tử (Điều 30)
- Quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 31)
- Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể (Điều 32)
- Quyền hiến bộ phận cơ thể (Điều 33)
- Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết (Điều 34)
- Quyền nhận bộ phận cơ thể người (Điều 35)
- Quyền xác định lại giới tính (Điều 36)
- Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 37)
- Quyền bí mật đời tư (Điều 38)
- Quyền kết hôn (Điều 39)
- Quyền bình đẳng vợ chồng (Điều 40)
- Quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình (Điều 41)
- Quyền ly hôn (Điều 42)
- Quyền nhận, không nhận cha, mẹ (Điều 43)
- Quyền được nhận làm con nuôi (Điều 44)
- Quyền đối với quốc tịch (Điều 45)
- Quyền được bảo đảm an toàn về chỗ ở (Điều 46)
- Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 47)
- Quyền tự do đi lại, cư trú (Điều 48)
- Quyền lao động (Điều 49)
- Quyền tự do kinh doanh (Điều 50)
- Quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo (Điều 51)
Câu hỏi 5. Các phương thức bảo vệ quyền nhân thân được Bộ luật dân sự 2005
quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 25 của Bộ luật dân sự 2005, khi quyền nhân thân của cá
nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền sử dụng các phương thức sau để bảo vệ:
người đó.
Việc thay đổi họ, tên của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ
dân sự được xác lập theo họ, tên cũ.
Câu hỏi 7. Xin cho biết các quy định về quyền được khai sinh của cá nhân?
Trả lời
Theo quy định tại Điều 29 Bộ luật dân sự năm 2005 thì cá nhân khi sinh ra có
quyền được khai sinh.
Quyền được khai sinh là một trong những quyền quan trọng của mỗi cá nhân để
khẳng định sự tồn tại của cá nhân đó trong một Nhà nước và được nhà nước công
nhận là một công dân của Nhà nước đó. Quyền được khai sinh là cơ sở pháp lý quan
trọng để cá nhân thực hiện các quyền khác như quyền có họ tên, có quốc tịch và các
quyền dân sự khác.
Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá
nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc;
quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người
đó.
Để thực hiện quyền được khai sinh đối với trẻ em pháp luật về quản lý và đăng
ký hộ tịch quy định trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách
nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc
những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em.
Thẩm quyền đăng ký khai sinh:
Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký khai
sinh cho trẻ em; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì Ủy ban nhân
dân cấp xã, nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh.
Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha,
thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc
nhóm các quyền dân sự của cá nhân.
Quyền của cá nhân đối với hình ảnh được quy định tại Điều 31 Bộ luật dân sự
năm 2005. Nội dung quyền bao gồm :
- Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
- Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý, trong trường
hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ 15 tuổi thì phải được cha,
mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý.
Để bảo vệ quyền của cá nhận đối với hình ảnh của mình, Pháp luật nghiêm cấm
việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của
người có hình ảnh.
Câu hỏi 9. Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể của
cá nhân dược pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời
Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thểcủa cá nhân
được quy định tại Điều 32 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:
- Cá nhân có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể.
- Khi phát hiện người bị tai nạn, bệnh tật mà tính mạng bị đe dọa thì người phát
hiện có trách nhiệm đưa đến cơ sở y tế; cơ sở y tế không được từ chối việc cứu chữa
mà phải tận dụng mọi phương tiện, khả năng hiện có để cứu chữa.
- Việc thực hiện phương pháp chữa bệnh mới trên cơ thể một người, việc gây
mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép bộ phận của cơ thể phải được sự đồng ý của người đó; nếu
người đó chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc là bệnh nhân bất tỉnh thì
phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ của người đó
đồng ý; trong trường hợp có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân mà không
chờ được ý kiến của những người trên thì phải có quyết định của người đứng đầu cơ
sở y tế.
- Việc mổ tử thi được thực hiện trong các trường hợp:
Điều 73 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Thư tín,
điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật. Việc khám xét chỗ
ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thẩm
quyền tiến hành theo quy định của pháp luật”.
Điều 38 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:
Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
”...Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân
được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác
của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết
định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.
Tình huống 12. Khi mẹ Minh sinh được em Thịnh là con trai, bố mẹ Minh rất
hạnh phúc. Song từ đó, Minh, vì là con gái, nên không còn được bố mẹ yêu thương,
chăm sóc như trước đây. Đặc biệt, nhiều hôm, mẹ Minh còn bắt Minh nghỉ học phụ
mẹ, trông em khi em ốm. Minh rất buồn. Thấy Minh gày gò và ốm yếu, hay nghỉ học
cô giáo Minh đã hỏi chuyện và đến nhà động viên bố mẹ Minh cho Minh tiếp tục đi học
và quan tâm chăm sóc cho em. Xin hỏi pháp luật quy định thế nào về quyền được
hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình ?
Trả lời:
Quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình được quy
định tại Điều 41 Bộ luật dân sự năm 2005, theo đó
Các thành viên trong gia đình có quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp đỡ nhau
phù hợp với truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam.
Con, cháu chưa thành niên được hưởng sự chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ,
ông bà; con, cháu có bổn phận kính trọng, chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ, ông bà.
Đối với người chưa thành niên, được chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm đáp ứng nhu
cầu về vật chất và tinh thần ở mức cao nhất có thể có, với mức sống ngày càng được
hợp với đạo đức xã hội.
Điều 44 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về quyền được nuôi con nuôi và
quyền được nhận làm con nuôi như sau:
Quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi của cá nhân được
pháp luật công nhận và bảo hộ.
Việc nhận con nuôi và được nhận làm con nuôi được thực hiện theo quy định của
pháp luật.
Điều 8 Luật nuôi con nuôi quy định về người được nhận làm con nuôi gồm :
- Trẻ em dưới 16 tuổi.
-. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
+ Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;
+ Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.
Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người
là vợ chồng.
Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi.
Khoản 1 Điều 21 Luật nuôi con nuôi quy định : Việc nhận nuôi con nuôi phải
được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc
mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì
phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất
năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người
giám hộ; trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được
sự đồng ý của trẻ em đó.
Như vây, T có quyền được bác nhận làm con nuôi. Việc nhận con nuôi cần có
sự đồng ý của T.
Tình huống 14. Ngày chủ nhật, bố mẹ có việc đi vắng nên dặn dò em K 12 tuổi
Tình huống 16. Bố mẹ M sống ở quê. Sau khi học hết cấp 2, M thi đỗ vào
trường chuyên của tỉnh và phải chuyển lên sống ở thành phố cùng gia đình người dì
ruột. Để thuận lợi cho việc làm hồ sơ giấy tờ nhập học và quá trình học tập sau này,
bố mẹ M đã đồng ý cho M khai báo nơi cư trú của mình là nhà của người dì ruột. Điều
đó có đúng pháp luật hay không không? Nơi cư trú của người chưa thành niên được
pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 13 Luật Cư trú năm 2006,
thì nơi cư trú của người chưa thành niên được quy định như sau:
- Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ
có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha
hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống.
- Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ
nếu được cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.
Như vậy, M có thể khai báo nơi cư trú của mình là nhà người dì ruột nếu đã
được bố mẹ M đồng ý.
Câu hỏi 17. Pháp luật quy định việc giám hộ cho người chưa thành niên như thế
nào?
Trả lời:
Giám hộ là chế định quan trọng trong Bộ luật dân sự nhằm mục đích thực hiện
việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên.
Theo quy định tại Điều 58 Bộ luật dân sự năm 2005:
“Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được
pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi
chung là người được giám hộ)”.
Như vậy, chế độ giám hộ là bắt buộc đối với người chưa thành niên bao gồm:
hộ đương nhiên như quy định trên thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú
của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức
đảm nhận việc giám hộ.
Như vậy, ông, bà nội của em T là người giám hộ đương nhiên của T.
Câu hỏi 19. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ cho người chưa thành niên
được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, quyền và nghĩa vụ của người giám
hộ đối với người được giám hộ là người chưa thành niên được quy định như sau:
* Về quyền của người giám hộ, Điều 68, Điều 69 quy định:
- Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những
nhu cầu cần thiết của người được giám hộ;
- Được thanh toán các chi phí cần thiết cho việc quản lý tài sản của người được
giám hộ;
- Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch
dân sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
- Người giám hộ có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài
sản của chính mình. Người giám hộ được thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản
của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ. Việc bán, trao đổi, cho
thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và các giao dịch khác đối với tài
sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát
việc giám hộ. Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng
cho người khác. Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có
liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch
được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát
việc giám hộ.
Quan hệ đại diện được xác lập theo quy định của pháp luật hoặc theo ủy quyền.
Người được đại diện có quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do
người đại diện xác lập, thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện.
Người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Người từ đủ mười lăm
tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp
pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập,
thực hiện.
Theo quy định của pháp luật, có hai loại đại diện:
- Đại diện theo pháp luật;
- Đại diện theo ủy quyền.
Người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên bao gồm:
- Cha, mẹ đối với người chưa thành niên;
- Người giám hộ đối với người được giám hộ:
Đại diện theo ủy quyền: là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền của người đại
diện và người được đại diện. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 143 Bộ luật dân sự năm 2005 thì người từ đủ
mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ
trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở
lên xác lập, thực hiện.
Tình huống 21. Em D là học sinh lớp 7 muốn hỏi pháp luật quy định quyền sở
hữu được xác lập và chấm dứt trong những trường hợp nào? Trong trường hợp em vô
tình nhặt được một vật do người khác bỏ quên mà em không biết địa chỉ của người đó
thì vật đó có đương nhiên thuộc quyền sở hữu của em hay không?
Trả lời:
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt
tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền
định của pháp luật.
- Các căn cứ khác do pháp luật quy định.
Theo khoản 2 Điều 239 Bộ luật Dân sự năm 2005, về việc xác lập quyền sở hữu
đối với vật không xác định được chủ sở hữu quy định như sau:
Người phát hiện vật không xác định được ai là chủ sở hữu phải thông báo hoặc
giao nộp cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất để
thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.
Việc giao nộp phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người
giao nộp, người nhận, tình trạng, số lượng, khối lượng tài sản giao nộp.
Uỷ ban nhân dân hoặc công an cơ sở đã nhận vật phải thông báo cho người phát
hiện về kết quả xác định chủ sở hữu.
Trong trường hợp vật không xác định được ai là chủ sở hữu là động sản thì sau
một năm, kể từ ngày thông báo công khai, mà vẫn không xác định được ai là chủ sở
hữu thì động sản đó thuộc sở hữu của người phát hiện theo quy định của pháp luật;
nếu vật là bất động sản thì sau năm năm, kể từ ngày thông báo công khai vẫn chưa
xác định được ai là chủ sở hữu thì bất động sản đó thuộc Nhà nước; người phát hiện
được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.
Trường hợp D vô tình nhặt được vật do người khác bỏ quên mà D không biết địa
chỉ của người đó thì vật đó không đương nhiên thuộc quyền sở hữu của em mà phải
tuân theo các quy đinh pháp luật nêu trên.
Tình huống 22. Bé Quân 11 tuổi là con trai của anh chị Quỳnh. Buổi chiều chủ
nhật được nghỉ học Quân đã cùng bạn bè xuống đường đá bóng, chơi đùa rất vui vẻ.
Trong lúc thể hiện chân sút với các bạn, trái bóng của Quân đã bay thẳng vào cửa
kính nhà bà Kim làm kính vỡ tan. Bà Kim phải đi thay cửa kính mới hết 2.000.000
đồng. Bà yêu cầu gia đình của Quân phải bồi thường thiệt hại mà Quân đã gây ra. Xin
hỏi, trách nhiệm bồi thường của Quân được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
sau:
- Người dưới mười lăm tuổi trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại thì
trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
- Trong các trường hợp quy định nêu trên, nếu trường học, bệnh viện, tổ chức
khác chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý thì cha, mẹ, người giám hộ của
người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hình vi dân sự phải bồi thường.
V – 14 tuổi đã nghịch ngợm bẽ gãy một số cây cảnh và làm đổ một số hiện vật ở
nơi đến thăm quan bị Ban quản lý di tích yêu cầu phải bồi thường, trong trường hợp
này, cha, mẹ hoặc người giám hộ của V có trách nhiệm bồi thường.
Câu hỏi 24. Di chúc là gì? Người chưa thành niên có quyền lập di chúc hay
không? Di chúc thế nào được coi là hợp pháp?
Trả lời:
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho
người khác sau khi chết.
Theo quy định tại Điều 647, Khoản 2 Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2006, người
chưa thành niên có quyền lập di chúc:
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu
được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Tuy nhiên, di chúc của người từ đủ mười
lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha,
mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối,
đe doạ hoặc cưỡng ép;
b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc
không trái quy định của pháp luật.
Câu hỏi 25. Người chưa thành niên có quyền được hưởng thừa kế mà không
nhập
Hai là, dưới khía cạnh pháp luật, việc làm là những hoạt động hợp pháp, không
bị pháp luật cấm. Một số hoạt động tạo ra thu nhập nhưng lại vi phạm pháp luật thì
không được coi là việc làm, ví dụ: buôn bán ma túy, buôn lậu..
Về quyền tự do lựa chọn việc làm của công dân: pháp luật lao động quy định
người lao động có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, tự do lựa
chọn nơi làm việc và làm việc cho bất kỳ người sử dụng nào mà pháp luật không cấm.
Như vậy, công dân có quyền tự do lựa chọn việc làm trong khuôn khổ pháp luật
Câu hỏi 2. Theo quy định của pháp luật, người lao động có những quyền và
nghĩa vụ gì?
Trả lời:
a) Theo Điều 5 của Bộ luật Lao động năm 2012, khi tham gia quan hệ lao động,
người lao động có các quyền sau đây:
- Người lao động được tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng
cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử;
- Người lao động được hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ
sở thoả thuận với người sử dụng lao động;
- Người lao động được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an
toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có lương và được
hưởng phúc lợi tập thể;
- Người lao động được thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức nghề
nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại với
người sử dụng lao động, thực hiện quy chế dân chủ và được tham vấn tại nơi làm việc
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tham gia quản lý theo nội quy của
người sử dụng lao động;
- Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy
định của pháp luật;
người lao động.
Câu hỏi 4. Hợp đồng lao động là gì? Việc giao kết hợp đồng lao động phải tuân
theo những nguyên tắc gì. Hợp đồng lao động có thể thỏa thuận bằng lời nói được
không?
Trả lời:
Theo Điều 15 của Bộ luật Lao động năm 2012 thì hợp đồng lao động là sự thoả
thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều
kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Việc giao kết hợp đồng lao động phải tuân theo các nguyên tắc được quy định
tại Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 như sau:
- Tự nguyện: người lao động và người sử dụng lao động tự nguyện giao kết hợp
đồng, không bên nào được ép buộc hoặc cản trở bên nào
- Bình đẳng: Người lao động và người sử dụng lao động bình đẳng với nhau
trước pháp luật.
- Thiện chí, hợp tác: Người lao động và người sử dụng lao động phải có thái độ
thiện chí, hợp tác với nhau;
- Trung thực: Người lao động và người sử dụng lao động phải trung thực với
nhau, không bên nào được lừa dối bên nào
Việc giao kết hợp đồng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội
Trong trường hợp người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì việc giao kết
hợp đồng lao động phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người