ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HỒNG NHUNG
tr¸ch nhiÖm h×nh sù ®èi víi téi trèn thuÕ
trong luËt h×nh sù ViÖt nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HỒNG NHUNG
tr¸ch nhiÖm h×nh sù ®èi víi téi trèn thuÕ
trong luËt h×nh sù ViÖt nam
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS CAO THỊ OANH
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Đặc điểm của trách nhiệm hình sự đối với tội trốn thuế .............. 12
1.3.
Một số nội dung cơ bản về trách nhiệm hình sự đối với tội
trốn thuế trong luật hình sự Việt Nam ........................................... 14
1.3.1. Cơ sở của trách nhiệm hình sự ........................................................... 14
1.3.2. Một số vấn đề lý luận chung về TNHS của tội trốn thuế đối với PNTM ..... 23
1.3.3. Các biện pháp cƣỡng chế về trách nhiệm hình sự đối với tội trốn thuế .. 28
1.3.4. Thời hiệu truy cứu TNHS .................................................................. 30
1.4.
Lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam về TNHS đối với tội trốn thuế ....... 31
1.4.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975 ............................................... 31
1.4.2. Giai đoạn từ năm 1975 đến trƣớc năm 1985 ...................................... 32
1.4.3. Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1999 ............................................... 34
1.4.4. Quy định của BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 ............... 36
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 43
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN
HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI TRỐN THUẾ... 44
2.1.
Hình phạt đối với các chủ thể phạm tội trốn thuế ........................ 44
2.1.1.
2.1.2.
2.2.
2.2.1.
2.2.2.
2.3.
Hình phạt đối với cá nhân phạm tội trốn thuế.................................... 45
với tội trốn thuế .................................................................................. 81
3.2.2. Các giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy
định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về trách nhiệm
hình sự đối với tội trốn thuế ............................................................... 84
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3................................................................................ 94
KẾT LUẬN .................................................................................................... 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 97
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:
Bộ luật hình sự
CTTP:
Cấu thành tội phạm
PNTM:
Pháp nhân thƣơng mại
TNHS:
Trách nhiệm hình sự
DANH MỤC BẢNG
Số hiêụ
nƣớc đối với nền kinh tế và đời sống xã hội; góp phần đảm bảo sự bình đẳng
giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội
Thực hiện đƣờng lối phát triển nhiều thành phần, cùng với sự hội nhập
ngày càng sâu rộng đối với kinh tế thế giới, nền kinh tế nƣớc ta đã có những
bƣớc phát triển vƣợt bậc, nhanh chóng, kéo theo đó, số lƣợng ngành nghề,
hình thức, quy mô, vốn, lao động, phạm vi kinh doanh rất đa dạng và phong
phú. Trong xu thế đó, thuế lại càng đóng một vai trò quan trọng hơn nữa. Số
thuế thu đƣợc từ các nguồn đều tăng, tạo điều kiện cho việc cân đối thu chi
ngân sách, là động lực tái đầu tƣ phát triển kinh tế. Tuy nhiên, nhiều ngƣời
không nhận thức đƣợc tầm quan trọng cũng nhƣ trách nhiệm, nghĩa vụ của
mình tìm đủ mọi cách để trốn thuế, ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của các
1
đối tƣợng nộp thuếđó chƣa cao, chƣa tự giác dẫn đến tình trạng trốn thuế diễn
ra phổ biến, phức tạp, thủ đoạn đa dạng, tinh vi. Số lƣợng thuế thu đƣợc
chiếm tỷ lệ thấp so với số thuế phải thu trên thực tế, điều này sẽ gây ra một
thiệt hại lớn cho nguồn ngân sách nhà nƣớc và làm mất đi sự công bằng của
xã hội, nếu sai phạm này trở nên nghiêm trọng sẽ có thể phải chịu TNHS theo
luật hình sự. Trên thực tế, số hành vi đủ dấu hiệu CTTP khá nhiều, tuy nhiên
số đối tƣợng bị phát hiện và truy cứu TNHS còn rất hạn chế. Điều đó cho thấy
thuế là một trong những lĩnh vực có tỷ lệ tội phạm ẩn cao nhất hiện nay. Mặc
dù Nhà nƣớc liên tục đƣa ra các biện pháp đấu tranh phòng chống hành vi
trốn thuế, nhƣng hiệu quả đạt đƣợc chƣa cao.
Một trong những công cụ pháp lý quan trọng để đấu tranh phòng chống
hành vi trốn thuế là quy định về Tội trốn thuế trong BLHS. Ngày 27 tháng 11
năm 2015, BLHS 2015 đã đƣợc Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ
10 đã có những quy định mới về tội trốn thuế. Đây là công cụ pháp lý quan
trọng nhằm đấu tranh và phòng chống loại tội phạm này, góp phần ổn định
khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội. Hay bài viết “Bàn về tội trốn thuế
trong BLHS Việt Nam” của tác giả Thái Nguyên Toàn, Tạp chí Kiểm sát số
23, tháng 12/2013,…
Mặc dù, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập, làm rõ nhiều khía
cạnh về lý luận và thực tiễn liên quan đến tội trốn thuế trong luật hình sự Việt
Nam, tuy nhiên, trƣớc tình hình mới trong đời sống pháp luật, nhất là pháp
luật hình sự, pháp luật về thuế, tài chính, trong đó có quy định của BLHS năm
2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 đã sửa đổi
căn bản các nội dung quan trọng quy định về tội trốn thuế. Do đó, trong đề tài
này, tác giả mạnh dạn đi vào nghiên cứu chuyên sâu về TNHS đối với tội trốn
thuế không những trong lịch sử lập pháp của nƣớc` ta mà còn có sự so sánh,
3
đối chiếu quy định mới về TNHS của tội trốn thuế tr1ong BLHS 2015, sửa
đổi bổ sung năm 2017 nhằm đánh giá đúng cơ sở pháp luật hiện hành về tội
phạm trốn thuế để qua đó làm sáng tỏ các quy định của Luật hình sự về
TNHS đối với tội trốn thuế và đƣa các giải pháp kiến nghị phù hợp về việc
phòng chống, ngăn ngừa tội phạm xảy ra trong lĩnh vực thuế hiện nay. Với
tinh thần đó thì trong bối cảnh hiện nay chƣa có công trình nào nghiên cứu
một cách toàn diện, đầy đủ về đề tài này.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài này là các vấn đề lý luận, cơ sở pháp
lý về TNHS đối với tội trốn thuế, đồng thời phân tích thực trạng việc áp dụng
pháp luật để thấy đƣợc ƣu điểm cũng nhƣ chỉ ra đƣợc những hạn chế để từ đó
có các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định
của luật hình sự về tội trốn thuế.
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi một số vấn đề liên quan đến TNHS tội
trốn thuế trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và một số các văn bản
làm tài liệu tham khảo cho các lực lƣợng tham gia phòng, chống loại tội phạm
này trong cả nƣớc và ở từng địa phƣơng.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chƣơng gồm:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự đối với tội
trốn thuế trong Luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành về trách
nhiệm hình sự đối với tội trốn thuế
Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật về trách nhiệm hình sự đối với
tội trốn thuế; các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy
định của luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với tội trốn thuế.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI
TỘI TRỐN THUẾ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm về trách nhiệm hình sự đối với tội trốn thuế
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự
Trƣớc đây, TNHS đƣợc định nghĩa “là việc thực hiện chế tài pháp lý hình
sự, phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội” [32, tr.59]. Ngày
nay, với tƣ cách là một khái niệm khoa học hình sự quan trọng, TNHS đƣợc
nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau và tồn tại những quan điểm khác
nhau xung quanh khái niệm pháp lý này.
GS.TSKH Đào Trí Úc cho rằng: “TNHS là hậu quả pháp lý của việc
phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi
của mình trước Nhà nước” [33, tr.41]. Quan điểm này nhìn nhận TNHS dƣới
góc độ là một loại hậu quả pháp lý đối với một loại vi phạm pháp luật, đó là
Một số nhà nghiên cứu khác lại nghiên cứu TNHS dƣới cả hai góc độ
nhƣ GS.TS. Đỗ Ngọc Quang khi định nghĩa:
TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của
ngƣời khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định
trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng
tùy thuộc vào tính chất và mực độ nguy hiểm của hành vi mà ngƣời
đó đã thực hiện [18, tr.14].
Đồng quan điểm đó, TS. Trịnh Tiến Việt cho rằng:
TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý và là hậu quả
pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm và đƣợc thể hiện bằng
việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cƣỡng chế của Nhà nƣớc do
BLHS quy định đối với ngƣời phạm tội [35, tr.224].
BLHS 2015 ra đời đánh dấu một trong những thay đổi quan trọng trong
7
nhận thức về chủ thể của TNHS. Điều 2 của BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung
năm 2017) đã khẳng định: “1. Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS
quy định mới phải chịu TNHS; 2. Chỉ PNTM nào phạm một tội đã được quy
định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu TNHS”.
Theo đó, đây là lần đầu tiên pháp luật ghi nhận và điều chỉnh trong BLHS
quy định về TNHS đối với một chủ thể khác ngoài cá nhân, đó là PNTM.
Từ những phân tích trên, dƣới góc độ thực tiễn áp dụng pháp luật hình
sự, đồng thời có sự cập nhật chế định mới của BLHS, tác giả xin đƣa ra định
nghĩa về TNHS nhƣ sau:
TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý đối với việc thực hiện tội
phạm, thể hiện ở việc các chủ thể của TNHS phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi
bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do
BLHS quy định.
khai thuế sau chín mƣơi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế
theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 điều 32 của Luật này hoặc ngày hết
thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định tại Điều 33 của Luật này;
- Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác
định số tiền thuế phải nộp;
- Không xuất hoá đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ hoặc ghi giá trị
trên hoá đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hoá,
dịch vụ đã bán;
- Sử dụng hoá đơn, chứng từ bất hợp pháp để hạch toán hàng hoá,
nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền
thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế đƣợc miễn, số tiền thuế đƣợc giảm
hoặc tăng số tiền thuế đƣợc khấu trừ, số tiền thuế đƣợc hoàn;
- Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số
tiền thuế phải nộp, số tiền thuế đƣợc hoàn;
- Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ
9
sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã đƣợc thông quan trong thời gian sáu
mƣơi ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan;
- Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu;
- Cấu kết với ngƣời gửi hàng để nhập khẩu hàng hoá nhằm mục đích
trốn thuế;
- Sử dụng hàng hoá đƣợc miễn thuế không đúng với mục đích quy định
mà không khai thuế.
Có thể nhận thấy, các tiêu chí xác định một hành vi bị coi là trốn thuế
bao gồm:
- Chủ thể của hành vi trốn thuế là cá nhân, tổ chức thuộc đối tƣợng
chính sách về thu, nộp thuế. Nhƣ vậy theo quy định này thì hành vi trốn thuế
cấu thành tội trốn thuế khi nó đƣợc coi là nguy hiểm cho xã hội do BLHS quy
định, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nƣớc, do chủ thể có năng lực
TNHS, đủ tuổi chịu TNHS và thực hiện với lỗi cố ý.
Từ sự phân tích trên, có thể đƣa ra khái niệm tội trốn thuế nhƣ sau: Tội
trốn thuế là hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể có năng lực TNHS, đủ
tuổi chịu TNHS thực hiện với lỗi cố ý được BLHS quy định, thể hiện bằng việc
vi phạm các quy định của pháp luật về thuế dẫn đến hậu quả làm giảm số
thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn giảm, gây
thất thu cho ngân sách Nhà nước, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Nhà nước
được quy định trong BLHS
Qua những sự phân tích trên, TNHS đối với tội trốn thuế có thể
đƣợc hiểu là:
Những hậu quả pháp lý bất lợi mà các chủ thể của TNHS phải chịu do
có hành vi vi phạm pháp luật về thuế dẫn tới những hậu quả nhất định đƣợc
quy định trong BLHS, đƣợc thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện
pháp cƣỡng chế của Nhà nƣớc cũng do BLHS quy định.
11
1.2. Đặc điểm của trách nhiệm hình sự đối với tội trốn thuế
TNHS đối với tội trốn thuế bao gồm những đặc điểm cùng đƣợc thừa
nhận chung của TNHS và một số đặc điểm riêng. Tổng hợp những nghiên cứu
của các nhà khoa học, các đặc điểm của TNHS đối với tội trốn thuế bao gồm
những đặc điểm nhƣ sau:
Thứ nhất, TNHS là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất so với
bất kỳ dạng trách nhiệm pháp lý nào khác. Các dạng trách nhiệm pháp lý khác
không đƣa đến hậu quả bất lợi và nghiêm trọng đối với chủ thể của hành vi vi
phạm đến mức nhƣ TNHS, đó là hạn chế hoặc tƣớc bỏ quyền và tự do hay
tội phạm [7, tr.611].
Thứ tư, TNHS chỉ đƣợc thực hiện trong bản án kết tội của tòa án đã có
hiệu lực pháp luật bằng việc áp dụng đối với ngƣời phạm tội một hoặc nhiều
biện pháp cƣỡng chế của Nhà nƣớc do luật hình sự quy định. - các văn bản
của các cơ quan bảo vệ pháp luật (Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát) trong
quá trình truy cứu TNHS công dân (nhƣ quyết định khởi tố vụ án hình sự,
quyết định khởi tố bị can, kết luận điều tra, quyết định tạm giam, cáo trạng,...)
hoặc bản án kết tội của Tòa án chƣa có hiệu lực pháp luật mà bị kháng cáo
hoặc kháng nghị đƣợc ban hành trƣớc khi công dân đó chính thức bị coi là
ngƣời có tội – chỉ là các văn bản áp dụng các biện pháp cƣỡng chế về mặt tố
tụng hình sự nhằm đảm bảo cho việc thực hiện TNHS sau này, chứ chƣa có
kháng cáo hoặc kháng nghị đƣợc ban hành trƣớc khi công dân chính thức bị
coi là ngƣời có tội – chỉ là các văn bản áp dụng các biện pháp cƣỡng chế về
mặt tố tu ̣ng hình sƣ̣ nhằm đảm bảo cho việc thực hiện TNHS sau này chứ
chƣa phải là các văn bản mà trong đó TNHS đƣợc thực hiện
- Vì căn cứ vào nguyên tắc về suy đoán vô tội đã đƣợc ghi nhận trong
hiến pháp và Bộ luật Tố tụng hình sự của nƣớc ta, thì TNHS chỉ đƣợc chính
thức thực hiện khi bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật và,
- TNHS đƣợc thực hiện bằng việc áp dụng đối với ngƣời phạm tội,
13
PNTM phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cƣỡng chế của Nhà nƣớc do
BLHS quy định – có thể là hình phạt hoặc (và) biện pháp tƣ pháp [7, tr.612].
1.3. Một số nội dung cơ bản về trách nhiệm hình sự đối với tội trốn
thuế trong luật hình sự Việt Nam
1.3.1. Cơ sở của trách nhiệm hình sự
Cơ sở của TNHS đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau. Tuy
nhiên, dựa trên quan điểm của GS.TSKH. Lê Cảm khi nghiên cứu cơ sở
Trong phần này, luận văn tập trung phân tích làm rõ chủ thể là cá nhân phạm
tội trốn thuế.
Chủ thể của tội phạm nói chung và của tội tốn thuế nói riêng là ngƣời có
năng lực TNHS, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể.
Năng lực TNHS đƣợc hiểu là ngƣời khi thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội có khả năng nhận thức đƣợc tính chất nguy hiểm cho xã hội của
hành vi của mình và có khả năng điều khiển đƣợc hành vi ấy [31, tr.126].
Luật hình sự Việt Nam không trực tiếp quy định nhƣ thế nào là có năng lực
TNHS mà chỉ quy đình độ tuổi chịu TNHS và quy định thế nào là tình trạng
không có năng lực TNHS. Với quy định đó luật hình sự Việt Nam mặc nhiên thừa
nhận những ngƣời đã đạt độ tuổi chịu TNHS nói chung là có năng lực TNHS.
Trong đó điều 12 BLHS 2015 quy định về độ tuổi chịu TNHS nhƣ sau:
1. Ngƣời từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội
phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2. Ngƣời từ đủ 14 tuổi đến dƣới 16 tuổi phải chịu TNHS về
tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định
tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168,
169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 252, 265, 266, 286, 287,
289, 290, 299, 303 và 304 của bộ luật này [24].
Đây cũng là một điểm tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp của BLHS 2015
so với BLHS 1999. Trong khi điều 12 BLHS 1999 chỉ quy định:
15
“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS
về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”
thì tại khoản 1, BLHS 2015 đã bổ sung thêm trƣờng hợp loại trừ TNHS
đối với những ngƣời đủ 16 tuổi trở lên khi đáp ứng đƣợc các quy định khác
Khách thể loại của tội phạm là nhóm quan hệ xã hội cùng tính chất
đƣợc nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của nhóm
tội phạm. Tội trốn thuế là một trong những tội đƣợc quy định tại Chƣơng
XVIII của BLHS 2015 với tên gọi: “Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh
tế”. Đặc điểm chung của những nhóm tội này là xâm hại đến trật tự quản lý
kinh tế, ảnh hƣởng tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế quốc
dân, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nƣớc nên các nhà lập pháp xếp chúng
lại trong cùng nhóm tội phạm xâm hại trật tự quản lý kinh tế. Do đó, khách
thể loại của tội trốn thuế là trật tự quản lý kinh tế.
Khách thể trực tiếp của tội phạm là những quan hệ cụ thể bị loại tội
phạm cụ thể trực tiếp xâm hại [31, tr.84]. Theo đó khách thể trực tiếp của tội
trốn thuế là quy định của Nhà nƣớc về thuế, xâm phạm tới lợi ích của Nhà
nƣớc trong việc thu thuế [1, tr.282].
1.3.1.3. Mặt chủ quan của tội trốn thuế
Tội phạm là thể thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan. Mặt
khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm, mặt chủ quan là
hoạt động tâm lý bên trong của ngƣời phạm tội. Với ý nghĩa là một mặt của
hiện tƣợng thống nhất, mặt chủ quan của tội phạm không tồn tại một cách
độc lập mà luôn gắn liền với mặt khách quan của tội phạm. Hoạt động tâm lí
bên trong của ngƣời phạm tội luôn gắn liền với biểu hiện bên ngoài của tội
phạm [31, tr.125]. Do đó mặt chủ quan của tội trốn thuế chính là hoạt động
tâm lý bên trong của ngƣời có hành vi trốn thuế. Mặt chủ quan của tội phạm
bao gồm các dấu hiệu: Lỗi, động cơ và mục đích phạm tội, trong đó lỗi là dấu
hiệu bắt buộc trong tất cả các CTTP [31, tr.126].
17
Đối với tội trốn thuế thì lỗi cuả ngƣời phạm tội là lỗi cố ý. Ngƣời phạm
tội nhận thức rõ hành vi trốn thuế của mình là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp
luật, biết rõ hành vi của mình làm thất thu ngân sách Nhà nƣớc nhƣng vì lợi