BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÙI THỊ THÙY LINH
CHÍNH SÁCH CỦA HOA KỲ
ĐỐI VỚI CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG
HOA TRONG CUỘC CHIẾN TRANH
TRIỀU TIÊN
(1950 – 1953)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÙI THỊ THÙY LINH
CHÍNH SÁCH CỦA HOA KỲ
ĐỐI VỚI CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA
TRONG CUỘC CHIẾN TRANH TRIỀU TIÊN
(1950 – 1953)
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
Mã số: 60.22.50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Natinal Security Council
Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ
JSC
Joint Chiefs of Staff
Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ
QDĐ
Quốc dân Đảng
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................................................. 1
5T
5T
MỤC LỤC ...................................................................................................................................... 2
5T
T
5
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................................... 5
5T
T
T
5
5T
T
5
5T
T
5
5T
Chương 1 : .................................................................................................................................... 14
5T
T
5
KHÁI QUÁT CHÍNH SÁCH CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC TRƯỚC NĂM 1950
5T
T
5
....................................................................................................................................................... 14
1. 1. Chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc từ đầu thế kỷ XX đến chiến tranh Thái Bình
1. 2. 2. Đường lối chung của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc ....................................................... 18
5T
T
5
1. 2. 3. Từ đường lối chung đến thực tiễn ................................................................................ 19
5T
T
5
1. 2. 3. 1. Chuẩn bị cho vai trò cường quốc thế giới của Trung Quốc ................................... 19
T
5
T
5
1. 2. 3. 2. Thúc đẩy kết hợp các lực lượng vũ trang ở Trung Quốc ....................................... 21
T
5
T
5
1. 3. Chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc trong cuộc nội chiến (1945 – 1949) ........... 24
5T
T
CHIẾN TRANH TRIỀU TIÊN (6/1950 - 6/1951) ....................................................................... 31
T
5
2. 1. Nước CHND Trung Hoa và mối quan hệ với Liên Xô ...................................................... 31
5T
T
5
2. 2. Sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ ....................................................................... 32
5T
T
5
2. 2. 1. Quan điểm của Hoa Kỳ về “sự sụp đổ của Trung Quốc” .............................................. 32
5T
T
5
2. 2. 2. Lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ ở Châu Á .................................................................... 34
5T
T
5
a)
T
5
b)
T
5
Phía Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên ............................................................................... 38
T
5
T
5
T
5
T
5
Phía Liên Xô và Bắc Triều Tiên ................................................................................ 39
T
5
T
5
T
5
2. 3. 4. Phản ứng của Hoa Kỳ .................................................................................................. 47
5T
5T
2. 3. 4. 1. Phán đoán về khả năng tham chiến của Trung Quốc ............................................. 47
T
5
T
5
2. 3. 4. 2. Thay đổi quan điểm đối với Đài Loan .................................................................. 48
T
5
T
5
2. 3. 4. 3. Chính sách thù địch và gây sức ép đối với Trung Hoa mới ................................... 51
T
5
T
5
T
5
3. 2. 2. Đàm phán đình chiến ở Panmunjom ............................................................................ 60
5T
T
5
3. 2. 2. 1. Tranh luận những vấn đề cơ bản........................................................................... 60
T
5
T
5
3. 2. 2. 2. Hoa Kỳ vừa đánh vừa đàm ................................................................................... 61
T
5
T
5
3. 3. Bước phát triển mới của cuộc chiến tranh ........................................................................ 63
5T
T
5
3. 3. 1. Chính quyền Eisenhower với cuộc chiến tranh Triều Tiên ........................................... 63
T
5
3. 3. 4. Tác động của cuộc chiến tranh Triều Tiên đến chính sách của Hoa Kỳ đối với toàn vùng
5T
Châu Á – Thái Bình Dương..................................................................................................... 71
5T
KẾT LUẬN ................................................................................................................................... 76
5T
T
5
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 80
5T
T
5
PHỤ LỤC...................................................................................................................................... 87
5T
T
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu
thế cho tới nay, cuộc chiến tranh Triều Tiên vẫn luôn thu hút sự quan tâm của nhiều học giả và vẫn
đang được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu về chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong giai
đoạn đầu mới thành lập tới khi cuộc chiến tranh Triều Tiên kết thúc để thấy tác động của nó đến
mối quan hệ giữa hai nước trong giai đoạn này lại không được chú trọng trong một thời gian dài,
cho đến ngày hôm nay. Cho nên, đã đến lúc chấm dứt tình trạng “bỏ ngỏ” này bởi quan hệ Mỹ -
Trung hiện nay đang bước vào một giai đoạn phát triển mới trong bối cảnh quốc tế đã có nhiều thay
đổi sâu sắc. Hiểu về quá khứ để rút ra những lý giải cho hiện tại và là cơ sở dự báo cho tương lai
luôn là một nhu cầu, một đòi hỏi được đặt ra cho giới học giả.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Chính sách của Hoa Kỳ đối
với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953)” làm đề tài
luận văn thạc sĩ của mình.
Qua việc khảo cứu có hệ thống những tiền đề, xuất phát điểm và quá trình hình thành chính
sách của Hoa Kỳ, chúng ta sẽ có cơ hội nhận thức đầy đủ những chính sách mà Hoa Kỳ đã đề ra và
thực hiện đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên cũng như những hệ quả của
những chính sách đó đối với quan hệ giữa hai nước. Điều này càng trở nên có ý nghĩa hơn khi luận
văn sẽ góp phần lấp đi một khoảng trống trong nghiên cứu của chúng ta về một mảng quan hệ quốc
tế đã tồn tại trong thực tế và có liên quan mật thiết đến Việt Nam.
Bên cạnh đó, quan hệ Mỹ - Trung đang đứng trước những cơ hội to lớn cho sự nâng cấp và
phát triển mạnh mẽ hơn. Vấn đề đặt ra là các quan hệ phải được xây dựng trên những nền tảng nào,
trong cấu trúc nào, theo cách thức nào để đạt hiệu quả cao nhất, đem lại lợi ích to lớn cho cả hai
phía. Đề tài sẽ góp phần giải quyết vấn đề này thông qua những phân tích, kết luận mang tính khoa
học về vị trí của Trung Quốc trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, những nhân tố thuận hay
không thuận chi phối quan hệ Mỹ - Trung, tác động của các mối quan hệ quan trọng khác đối với
mối quan hệ quan trọng nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương; và từ đó có những cơ sở dự báo,
tác động đến hướng phát triển trong tương lai.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
ai quan tâm tới các vấn đề chính trị quốc tế hay quan hệ quốc tế từ sau chiến tranh thế giới thứ II.
Trong đó, chương 4: “Containment in the Far East” (Chính sách ngăn chặn ở vùng Viễn Đông) có
liên quan mật thiết đến luận văn. Song tác giả trình bày chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND
Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên khá sơ lược.
Viết về cuộc chiến tranh Triều Tiên - bối cảnh cụ thể để những toan tính, quan điểm và chính
sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc được thể hiện - có cuốn “The forgotten war” của Clay Blair
(1987). Công trình này viết về cuộc chiến tranh Triều Tiên một cách đầy đủ, chi tiết tới từng mốc
thời gian, từng địa điểm và đơn vị quân đội cụ thể. Tuy nhiên, cuốn sách thiên về tường thuật các
trận đánh, các chiến dịch mà chưa trình bày được chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc cũng
như chưa đưa ra được những đánh giá, nhận xét.
Năm 1988, cuốn sách“Waging peace and war, Dean Rush in Truman, Kennedy and Johnson
years” của Thomas J. Schoenbaum được xuất bản. Chương 6: “The Far East in Ferment: the Fall of
China and war in Korea” có đề cập tới quan điểm và chính sách của Hoa Kỳ đối với hai sự kiện lớn
của thế giới trong thời kỳ đầu chiến tranh lạnh: nước CHND Trung Hoa ra đời và chiến tranh Triều
Tiên.
Đặc biệt, cuốn “From Pusan to Panmunjom” của Paik Sun Yup (1992) dày hơn 300 trang là
hồi ký chiến tranh của một vị tướng bốn sao chỉ huy sư đoàn 1 của Hàn Quốc. Tác giả đã phục dựng
lại một cách tỉ mỉ về cuộc chiến tranh mà ông không chỉ chứng kiến mà còn là người trực tiếp tham
gia. Bên cạnh đó, Paik Sun Yup còn tiết lộ mối quan hệ cá nhân của ông với tướng W. Walker,
tướng Ridgway, tướng Van Fleet…Những phát ngôn và quan điểm của các tướng lĩnh Hoa Kỳ cũng
được trình bày một cách rõ nét, chân thực. Đây chính là nguồn tài liệu cần thiết cho việc hoàn thành
luận văn này.
Năm 2000, nhà xuất bản W.W. Norton & Company, Inc đã cho ấn hành cuốn “American
foreign policy the dynamics of choice in the 21st century” của Bruce W. Jentleson. Cuốn sách đã tập
P
P
Bình Dương, trong đó có sự hình thành hai nước Triều Tiên và cuộc chiến tranh tại bán đảo này.
Đồng thời, tác giả cũng phân tích chính sách của Hoa Kỳ đối với khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương, cơ sở để đưa quan hệ Mỹ - Trung trở thành mối quan hệ quan trọng nhất trong khu vực.
Cùng năm này, Mộ Kiệt có cuốn“Bảy cuộc đàm phán siêu cấp”. Công trình đã đề cập tới 7
cuộc đàm phán quan trọng trong lịch sử nước CHND Trung Hoa, trong đó có hội nghị hòa đàm tại
Panmunjom nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh Triều Tiên. Từ đó, những quan điểm của Mỹ trong
cuộc chiến tranh này đã được thể hiện qua các phát ngôn của các nhân vật cao cấp. Mặc dù mang
một số “thành kiến chính trị”, song tác giả đã cố gắng bám sát các sự kiện để dựng lại bức tranh quá
khứ, dựng lại không khí của cuộc chiến tranh Triều Tiên hết sức sôi động mà ở đó Hoa Kỳ và
CHND Trung Hoa đã trở nên đối đầu căng thẳng.
Năm 2008, cuốn sách “Trung – Xô – Mỹ cuộc đối đầu lịch sử” của Lý Kiện được xuất bản.
Cuốn sách đã đề cập tương đối có hệ thống và toàn diện những sự kiện lớn của nền chính trị thế giới
trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, đồng thời cụ thể về đường lối, chính sách đối ngoại của từng
nước và các mối quan hệ phức tạp của lịch sử thế giới đương đại. Đây là một tài liệu tham khảo quý
báu khi cuốn sách đã tường thuật khá chi tiết các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, họp bàn, hội nghị giữa các
quan chức cấp cao của Hoa Kỳ và Trung Quốc. Từ đó, những quan điểm của Mỹ trong cuộc chiến
tranh Triều Tiên cũng được thể hiện rõ qua các phát ngôn của các nhân vật cao cấp.
Năm 2009, khoa Quốc tế học trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội đã cho dịch
sang tiếng Việt cuốn sách “We all know: Rethinking Cold war history” (Giờ chúng ta mới biết, suy
nghĩ lại về lịch sử chiến tranh lạnh) của John Lewis Gaddis (được xuất bản năm 1998 với sự tài trợ
của Quỹ Ford). Cuốn sách đã tìm hiểu một cách toàn diện về lịch sử chiến tranh lạnh từ khi nó bắt
đầu cho tới khi kết thúc với những khám phá, những kiến giải khoa học mới mẻ. Trong sách có hai
chương liên quan đến đề tài luận văn là chương 3: “Các đế quốc chiến tranh lạnh: Châu Á” và
chương 6: “Thế giới thứ ba” …
Nhìn chung các tác giả đã trình bày những nội dung cơ bản, những vấn đề quan trọng của lịch
sử quan hệ quốc tế thời kỳ chiến tranh lạnh. Trong đó, chiến tranh Triều Tiên là một biểu hiện cụ
thể của sự đối đầu Đông – Tây trong giai đoạn đầu, mà ở đó chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND
Trung Hoa được bộc lộ ít nhiều. Ngoài ra, còn có các công trình có liên quan rải rác đến nội dung
đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953). Trong luận văn, chúng
tôi tập trung nghiên cứu lĩnh vực chính trị đối ngoại là chủ yếu, tiếp đó là lĩnh vực quốc phòng bởi
“Quốc phòng là chính sách luôn đi kèm ngoại giao trong trường hợp Mỹ” [12, 661] và kinh tế đối
ngoại, mà chưa có điều kiện nghiên cứu các lĩnh vực khác của chính sách của Hoa Kỳ đối với
CHND Trung Hoa trong giai đoạn này.
Thời gian mà luận văn đề cập chủ yếu được gói gọn trong quãng thời gian của cuộc chiến tranh
Triều Tiên (từ 1950 cho tới 1953). Đây là thời gian tiêu biểu cho một thời kỳ đọ sức giữa hai quốc
gia thuộc về hai hệ thống xã hội đối lập. Chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong
cuộc chiến tranh Triều Tiên sẽ được chúng tôi trình bày qua hai giai đoạn: 6/1950 – 6/1951 (chương
II) và 7/1951 – 7/1953 (chương III).
Tuy nhiên, lịch sử là một dòng chảy, là chuỗi sự kiện kế tiếp nhau và có mối quan hệ ảnh
hưởng chặt chẽ với nhau. Thật khó để hiểu chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong
cuộc chiến tranh Triều Tiên mà không nghiên cứu giai đoạn lịch sử trước đó. Do đó, chúng tôi giành
hẳn chương I để tìm hiểu chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc trước năm 1950.
4. Phương pháp nghiên cứu
B
6
5
Cơ sở lý luận có tính nền tảng chung nhất của luận văn này là hệ thống nhận thức luận Marxit,
bao gồm chủ nghĩa duy vật biện chứng và đặc biệt là chủ nghĩa duy vật lịch sử. Việc dựa vào chủ
nghĩa duy vật lịch sử với những quan điểm, học thuyết cơ bản của nó đã giúp chúng tôi giải quyết
được những vấn đề mang tính lý luận được đặt ra trong quá trình thực hiện đề tài này.
Hệ thống nhận thức luận Marxit và các quan điểm về xung đột trong quan hệ quốc tế là kim
chỉ nam để chúng tôi xử lý những nguồn tài liệu và tiếp cận với quan điểm của các học giả, chính
khách phương Tây.
Trong khi xây dựng các luận điểm khoa học, tác giả luận văn đã sử dụng phương pháp lịch sử
T
5
U
web của Thư viện và bảo tàng Tổng thống Truman (http://www.trumanlibrary.org) và trang web về
U
T
5
T
5
U
lịch sử Chiến tranh lạnh (http://www. cwihp.org).
U
5T
T
5
U
- Những ấn phẩm của các tác giả nước ngoài bao gồm cả sách, bài báo, tạp chí có liên quan
đến nội dung đề tài.
- Những công trình, bài viết của các tác giả Việt Nam như các loại sách chuyên sâu về lịch sử
Hoa Kỳ, lịch sử quan hệ quốc tế…
6. Đóng góp của luận văn
B
8
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn có kết cấu
gồm 3 chương:
Chương 1: “Khái quát chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc trước năm 1950”, có mục
đích khái quát một cách hệ thống chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc từ cuối thế kỷ XIX
cho đến khi nước CHND Trung Hoa ra đời để làm rõ vị trí của Trung Quốc trong chính sách của
Hoa Kỳ và từ năm 1950 trở đi, chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc đứng trước những vấn
đề gì cần giải quyết.
Chương 2: “Chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều
Tiên (giai đoạn 6/1950 – 6/1951)”, tìm hiểu sự điều chỉnh trong chính sách của Hoa Kỳ đối với
CHND Trung Hoa trong một năm đầu của cuộc chiến tranh Triều Tiên.
Chương 3: “Chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều
Tiên (giai đoạn 7/1951 – 7/1953)”, sẽ tập trung vào chính sách của Hoa Kỳ trong thời gian vừa
đánh vừa đàm để đi đến kết thúc cho cuộc chiến tranh ở bản đảo Triều Tiên. Đồng thời, chương này
cũng phân tích tác động của cuộc chiến tranh Triều Tiên đến chính sách của Hoa Kỳ đối với toàn
vùng Châu Á – Thái Bình Dương.
Chương 1 :
B
0
KHÁI QUÁT CHÍNH SÁCH CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC
1B
TRƯỚC NĂM 1950
1. 1. Chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc từ đầu thế kỷ XX đến chiến tranh Thái
B
xa Philippines sẽ là thị trường vô hạn của Trung Quốc…Chúng ta sẽ không từ bỏ phần của chúng
ta…Thái Bình Dương là của chúng ta…Liệu chúng ta có đi đâu để tìm người tiêu thụ cho lượng
hàng hóa dư thừa của chúng ta? Địa lý đã trả lời câu hỏi đó. Trung Quốc là khách hàng tự nhiên
của chúng ta…” [66, 381].
Rõ ràng, duy trì vị trí kinh tế số một là điều kiện cần và đủ để duy trì sức mạnh và chính sách
ngoại giao nước lớn. Điều này cũng đã được nhà sử học người Mỹ là Marilyn Young khẳng định
khi đề cập tới các lý do thương mại khiến công ty American China Development mở rộng ảnh
hưởng của Mỹ ở Trung Quốc và chỉ thị của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đối với các phái viên tại Trung
Quốc nhằm “triển khai tất cả các biện pháp thích hợp bảo đảm mở rộng các lợi ích của Mỹ tại
Trung Quốc” [66, 365].
Nhưng sự quan tâm của Hoa Kỳ ở Trung Quốc còn vượt ra ngoài việc kinh doanh. Người Mỹ
đã bị thôi miên bởi nền văn minh, nghệ thuật và những phong tục cổ xưa của người Trung Quốc. Họ
cũng xem Trung Hoa là một lãnh thổ hứa hẹn cho việc truyền giáo. Có thể nói, người Mỹ đã bị
Trung Quốc mê hoặc cả về sự huyền bí của lãnh thổ và một thị trường rộng lớn cho hàng hóa Mỹ.
Và rồi người Mỹ đã không chỉ xem Mỹ Latinh là khu vực chịu ảnh hưởng của mình mà bắt đầu nghĩ
đến Thái Bình Dương: Hawaii, Nhật Bản và đặc biệt là thị trường Trung Quốc.
Đó cũng là lí do vì sao từ cuối thế kỷ XIX, Mỹ đã cố gắng mau lẹ xác lập vị thế của mình ở
khu vực xa xôi này, dù xét trên nhiều phương diện quyền lợi của Mỹ ở đây chưa có gì đáng kể.
1. 1. 2. Chính sách “Mở cửa” và cơ hội ngang nhau
B
4
1
Ngoại thương và thương mại đã đưa nước Mỹ vượt Thái Bình Dương đến với Trung Quốc.
Mặc dù mãi đến năm 1784, thuyền buôn của Mỹ mới cập bến các cảng ở Trung Quốc (sau Bồ Đào
Nha, Hà Lan, Anh và Pháp) nhưng sau đó, quan hệ buôn bán của Mỹ phát triển nhanh hơn nhiều
nước khác ở Trung Quốc. Đầu thế kỷ XIX, Hoa Kỳ đã vươn lên đứng hàng thứ hai về buôn bán
có thể loại Anh và các địch thủ khác để cuối cùng thống trị Trung Quốc.
Thủ đoạn “tương thích” mà Tổng thống McKinley nói đến đã được Ngoại trưởng Mỹ John
Hay đề xuất không lâu sau đó với tên gọi Chính sách “Mở cửa” (Open door). Ngày 6/9/1899, John
Hay đã gửi công hàm về vấn đề chính sách đối với Trung Quốc đến các nước Anh, Pháp, Đức, Nga,
Nhật Bản và Italia; yêu cầu các nước thỏa thuận và đồng ý ba nguyên tắc: “1) Trong phạm vi thế
lực của mình, các nước không được can thiệp vào quyền mậu dịch của nước khác; 2)Do quan chức
Trung Quốc trưng thu thuế quan đối với tất cả hàng nhập khẩu theo quy định của Trung Quốc; 3)
Trong phạm vi thế lực của mình, các nước không được trưng thu thuế vào cảng và phí vận tải
đường sắt có tính kỳ thị đối với các nước khác” [34, 273].
Rõ ràng, bằng chính sách “Mở cửa”, Hoa Kỳ muốn bảo vệ lợi ích của mình ở Trung Quốc qua
việc khẳng định dù không giành được một khu vực ảnh hưởng nào ở Trung Quốc, Hoa Kỳ vẫn có
quyền tiến hành mọi hoạt động trên toàn lãnh thổ nước này và ngang bằng với các cường quốc đến
trước khác. Điều này bắt nguồn từ địa vị quốc tế mới của Mỹ sau cuộc chiến tranh Mỹ - Tây Ban
Nha, và đúng như lời nhận định của William Rockhill – Cố vấn chính sách Viễn Đông của John
Hay: “Công hàm mở cửa làm cho Mỹ nắm được lưu lượng khống chế cân bằng ở Trung Quốc” [34,
274], có nghĩa Hoa Kỳ đã trở thành một trong những vai chính cùng các nước mạnh đấu tranh với
nhau trên trường đua Châu Á – Thái Bình Dương. Cũng từ đây, chính sách “Mở cửa” đã trở thành
“một trong những hòn đá tảng vĩ đại” trong lịch sử nước Mỹ, là một trong những thủ đoạn chủ yếu
nhằm che đậy chính sách xâm lược của Mỹ.
Đi đôi với hoạt động xâm chiếm những vị trí kinh tế ở Trung Quốc, giới cầm quyền Mỹ còn
hết sức tích cực chống lại phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Trung Quốc. Đầu tháng
8/1900, McKinley đã phái 5000 quân tham gia vào Liên quân tám nước tiến công Bắc Kinh – nơi
các nhà truyền giáo và các nhà ngoại giao phương Tây đang bị Nghĩa Hòa Đoàn bao vây. Để rồi sau
Hiệp ước Tân Sửu (1901), Hoa Kỳ (mà trước đó là Anh và Nhật Bản) đã buộc nhà Thanh phải kí
những điều ước bất bình đẳng mới. Mỹ tiếp tục chính sách đàn áp lực lượng cách mạng Trung Quốc
thông qua việc ủng hộ Viên Thế Khải lên làm hoàng đế và khôi phục lại nền quân chủ sau cuộc
Cách mạng Tân Hợi (1911). Và quan trọng hơn là từ đó, Hoa Kỳ có thể giành được quyền lợi ở
Trung Quốc khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ (1914).
1. 2. 1. Sự chuyển biến trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ
B
5
1
Chiến tranh thế giới thứ hai đã làm chuyển biến hoàn toàn định hướng chính sách đối ngoại
của Hoa Kỳ. Diến biến chiến tranh và những đòi hỏi ngoại giao của nó là hiện trạng tác động quan
trọng nhất trong việc chuyển hướng suy nghĩ của các nhà hoạt động chính trị và cả nhân dân Hoa
Kỳ, tạo ra trong chính giới và nhân dân nước này một ý thức rõ rệt về vai trò tích cực hơn của Hoa
Kỳ đối với tiến trình phát triển của toàn thế giới. Chính quá trình dính líu và giải quyết những bất
đồng trên thế giới, an ninh và quyền lợi của nước Mỹ mới được bảo vệ một cách bền vững nhất.
Vì thế ngay từ mùa thu năm 1939, F. Roosevelt một mặt đề nghị điều chỉnh “Luật trung lập”
nhằm tương thích với tình hình mới đang diễn ra ở Châu Âu, mặt khác ông cố gắng hướng dẫn dư
luận và cử tri Mỹ chú ý đến chiến tranh. Và Roosevelt đã thành công trong việc thuyết phục Quốc
hội chấp nhận nới lỏng “Luật cấm vận vũ khí” và chuẩn y Hiệp ước bán vũ khí cho Anh và Pháp
theo hình thức trả tiền mặt và tự chuyên chở. Đến năm 1940, đích thân ông lại ra chỉ thị tiến hành
những cuộc nghiên cứu chi tiết về những vấn đề mà thời hậu chiến đặt ra. Và cho tới tháng 3/1941,
Quốc hội Mỹ đã thông qua Luật Lend – Lease nhằm tài trợ cho các nước đồng minh đang tham
chiến. Điều này cũng đồng nghĩa với việc người Mỹ đã chính thức từ bỏ hoàn toàn chính sách ngoại
giao cách ly mới mà họ đã trung thành suốt 20 năm (1920 – 1941).
Tháng 8/1941, Roosevelt đã cùng với Thủ tướng Anh, Winston Churchill, có cuộc tiếp xúc bí
mật thống nhất tám điểm về mục tiêu chiến tranh mà sau này trở thành Hiến chương Đại Tây Dương
– một văn kiện ngoại giao nổi tiếng chứng tỏ Mỹ không thể đứng ngoài cuộc chiến ở Châu Âu. Để
rồi chỉ bốn tháng sau đó, với sự kiện ngày 7/12/1941, Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, Tổng
thống Roosevelt đã đưa nước Mỹ tham gia vào cuộc chiến bằng cửa sau, làm thay đổi hoàn toàn học
thuyết đối ngoại xưa nay của Hoa Kỳ. Chính sách cô lập đã chấm dứt vĩnh viễn, tham gia vào các
vấn đề quốc tế là một chuyện không còn có thể thay đổi.
Và trong thời gian chiến tranh, chính Tổng thống Roosevelt đã là người đề xướng, tổ chức và
Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc. Trung Quốc sẽ phải là nước Mỹ của lục địa Châu Á; là một
cường quốc rộng lớn, thống nhất, tự do và dân chủ. Có thể nói, Roosevelt đã vẽ ra cho Trung Quốc
một viễn cảnh mà Churchill đã từng coi như một “ánh trăng lãng mạn” [8, 110] và Mỹ cũng đã cố
gắng từng bước để đưa viễn cảnh đó trở thành hiện thực.
Vai trò mà Roosevelt mưu tính dành cho Trung Quốc trong chiến lược ngoại giao quốc tế của
mình cũng đã được Bộ trưởng Ngoại giao Cordell Hull khẳng định trong hồi ký của mình: “Đối với
Trung Quốc, chúng ta có hai mục tiêu. Thứ nhất là cùng chung tiến hành chiến tranh một cách có
hiệu quả. Thứ hai là nhìn nhận và xây dựng Trung Quốc thành một cường quốc ngang hàng với ba
đồng minh phương Tây: Nga, Anh và Hoa Kỳ, cả trong và sau thời gian chiến tranh, vừa để chuẩn
bị cho công cuộc tổ chức thời hậu chiến, vừa tạo dựng sự ổn định và phồn vinh ở phương Đông”
[23, 182].
1. 2. 3. Từ đường lối chung đến thực tiễn
B
7
1
1. 2. 3. 1. Chuẩn bị cho vai trò cường quốc thế giới của Trung Quốc
35B
Một bộ phận cấu thành trong mưu đồ chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ cho thời hậu chiến là
sau chiến tranh, bốn đại cường Hoa Kỳ, Liên Xô, Anh và Trung Quốc sẽ chia nhau kiểm soát thế
giới. Trong trật tự mới này, Anh sẽ ngày càng lệ thuộc vào Mỹ, những thuộc địa mới của Anh sẽ rơi
vào quỹ đạo ảnh hưởng của Mỹ. Còn Trung Quốc như lời của Roosevelt nói với Tân Bộ trưởng
Ngoại giao Stettinius sẽ là “nhân tố quan trọng nhất ở toàn vùng Viễn Đông” [23, 185] và phải cần
20 – 50 năm để trở thành cường quốc thế giới. Trên bước đường đạt đến mục tiêu này, Trung Quốc
sẽ nhận được sự ủng hộ của Mỹ và sẽ trở thành người cổ vũ cho mọi bước đi của Washington ở
Châu Á cũng như làm đối trọng với Liên Xô ở vùng Viễn Đông. Chính bởi thế, chính quyền
Roosevelt đã nỗ lực với hàng loạt các bước vận động cụ thể nhằm nâng cao vị trí của Trung Quốc
để chuẩn bị cho Trung Quốc một vai trò mới – cường quốc thế giới.
mục tiêu thống nhất” [23, 184] như lời phát biểu của Tổng thống Roosevelt với nhân dân cả nước
trong bài diễn văn đọc nhân ngày Lễ Giáng sinh (25/12/1943).
Không dừng lại, tại Hội nghị Teheran ngay sau đó, Hoa Kỳ đã đề nghị thành lập một tổ chức
quốc tế mới để giữ gìn hòa bình thế giới với sự điều khiển của bốn nước. Theo Mỹ, Anh sẽ kiểm
soát Tây Âu; Nga kiểm soát Đông Âu; Hoa Kỳ ở Châu Mỹ, Thái Bình Dương và Nhật Bản; còn lục
địa Châu Á thuộc về Trung Quốc. Cuối tháng 12/1941, Tưởng Giới Thạch được cử làm Tư lệnh
quân Đồng minh ở Trung Quốc, Đông Dương và Miến Điện. Và đến tháng 12/1943, Mỹ đã dành
cho Trung Quốc một khoản viện trợ quân sự đáng kể là 201 triệu USD thông qua chương trình Lend
– Lease [24, 182].
Sau những nỗ lực của Hoa Kỳ, từ ngày 21/8 – 7/10/1944, Trung Quốc đã được tham dự các
cuộc đàm phán về việc thành lập Liên Hợp Quốc ở Dumbarton Oaks (Washington), và là một trong
những cường quốc đỡ đầu Hội nghị quốc tế thành lập Liên Hợp Quốc tại San Francisco (4 –
6/1945). Tuy nhiên, để có thể đảm đương vai trò của mình trong chiến lược toàn cầu của Mỹ thời
hậu chiến, Trung Quốc cần phải có đủ điều kiện để trở thành đồng minh đáng tin cậy của Mỹ mà
đầu tiên là phải trở thành một nước hùng mạnh. Con đường trở nên hùng mạnh của Trung Quốc cần
đi qua những cuộc cải cách tự do, thiết lập một chế độ chính trị đa đảng. Chỉ có như thế, Trung
Quốc mới thoát khỏi nguy cơ chìm đắm trong khủng hoảng chính trị và những rối loạn của thời nội
chiến. Điều này cũng bao gồm việc QDĐ cần phải chấp nhận sự tồn tại của những đảng phái đối
lập, kể cả ĐCS. Biết rất rõ “Trung Quốc trở thành nhân tố chính ở Viễn Đông là yêu cầu cơ bản
cho hòa bình và an ninh ở vùng này” nhưng Roosevelt cũng hiểu hơn ai hết “không có nơi nào có
thể gây ra nhiều khó khăn trong thời hậu chiến hơn là Trung Quốc” [23, 187]. Hoa Kỳ luôn lo lắng
trước viễn cảnh một cuộc nội chiến sẽ bùng lên từ mối quan hệ ngày càng xấu đi giữa QDĐ và
ĐCS, và rồi sẽ kéo theo những người Liên Xô nhân danh những người cộng sản can thiệp. Điều đó
sẽ chỉ làm cho mối quan hệ Mỹ - Xô trở nên phức tạp – một điều mà Roosevelt không hề mong đợi
khi xây dựng những nền tảng cơ bản trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Bởi thế, chính sách
của Hoa Kỳ được hướng vào mục tiêu “bằng mọi cách thích hợp thúc đẩy việc thành lập một chính
phủ đại nghị rộng rãi. Chính thể này sẽ mang lại sự thống nhất trong nước, bao gồm cả việc hòa
giải cho khác biệt Quốc – Cộng và hoàn thành một cách có hiệu quả các trách nhiệm trong nước và
bùng nổ. Tháng 8/1943, Bộ Ngoại giao Mỹ đã nói rõ quan điểm của mình với Tống Tử Văn – Bộ
trưởng Ngoại giao của Trung Quốc rằng Hoa Kỳ “Không thúc giục chính phủ Trung Quốc có hành
động chống lại cộng sản, trái lại, Hoa Kỳ hy vọng rằng sẽ không xảy ra tình trạng lộn xộn” [23,
189].
Bước sang năm 1944, những quan ngại của giới lãnh đạo Hoa Kỳ lại càng tăng thêm khi những
mâu thuẫn giữa QDĐ và ĐCS lại có xu hướng gia tăng trong khi mối quan hệ Xô – Trung đã bắt
đầu xuất hiện những dấu hiệu căng thẳng. Trong tình hình đó, tháng 6/1944, Phó Tổng thống Henry
A. Wallace đã được cử sang Trung Quốc để dàn xếp mâu thuẫn giữa QDĐ và ĐCS, cũng như khôi
phục lại sự tin cậy lẫn nhau giữa Trung Quốc và Liên Xô. Trong các cuộc tiếp xúc giữa hai bên,
Wallace đã nói với nhà lãnh đạo QDĐ rằng để tiến hành chiến tranh hiệu quả và không làm rắc rối
mối quan hệ Xô – Mỹ (là hai điều mà Mỹ quan tâm) thì “không nên để lơ lửng một vấn đề nào, mà
vốn dĩ dẫn đến xung đột giữa Trung Quốc và Liên Xô” [23, 190]. Ông cũng nói thêm Tổng thống
Roosevelt có ý muốn được xem như một “người bạn” điều giải những bất đồng giữa các bên ở
Trung Quốc. Và nếu như Tưởng Giới Thạch không tìm thấy tiếng nói chung với những người cộng
sản thì Hoa Kỳ “cũng không thể ngăn chặn người Nga ở Mãn Châu” [23, 190].
Bị lệ thuộc về nhiều mặt, nhất là quân sự và kinh tế, bởi thế Tưởng Giới Thạch đã không thể
khước từ các khuyến cáo cũng như những sức ép nặng nề từ Washington. Nhưng chỉ bốn ngày sau
khi Wallace trở về Mỹ, ngày 28/6/1944, Nhật Bản tấn công quy mô lớn ở miền Đông và đe dọa trực
tiếp Trùng Khánh. Để cứu vãn tình thế và cũng để xóa bỏ nỗi hồ nghi đang ngày một tăng thêm của
không ít người trong giới cầm quyền Hoa Kỳ về vai trò của Tưởng Giới Thạch trong chính sách của
Roosevelt, một cuộc vận động ngoại giao chưa từng có đã diễn ra. Roosevelt nỗ lực hết sức để quy
tụ các lực lượng vũ trang hiện có của Trung Quốc vào một bộ chỉ huy thống nhất. Ngày 14/7/1944,
Tổng thống Hoa Kỳ đã kêu gọi lãnh tụ QDĐ đi đến một thỏa thuận “cộng tác với những người cộng
sản” [23, 191].
Tiếp đó, Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc Gauss đã nói với Tưởng Giới Thạch (30/8/1944) rằng
chính phủ Hoa Kỳ quan tâm tìm kiếm một giải pháp nhanh chóng để giải quyết vấn đề nội bộ của
Trung Quốc nhằm cùng nhau chống Nhật có hiệu quả. Ông đề nghị muốn đi đến thống nhất Trung
Quốc thì trước tiên cần phải thành lập một hình thức đại loại như “Hội đồng chiến tranh có trách