Quyền tiếp cận công lý ở việt nam hiện nay - Pdf 37

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THẾ ANH

QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG LÝ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THẾ ANH

QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG LÝ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Lý luận và Lịch sử
Nhà nước và pháp luật
Mã số
: 60.38.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Giáo viên hướng dẫn khoa học:

GS.TSKH Đào Trí Úc


7

1.1.

Khái niệm công lý

7

1.1.1.

Khái niệm công lý trong lịch sử tư tưởng nhà nước và pháp luật

7

1.1.2.

Mối liên hệ giữa công lý với một số khái niệm khác

19

1.2.

Khái niệm và nội dung quyền tiếp cận công lý

23

1.2.1.

Khái niệm quyền tiếp cận công lý


Việc áp dụng tập quán pháp trong bảo đảm thực hiện quyền tiếp
cận công lý

39
39
44

2.2.

Hệ thống các bảo đảm quyền tiếp cận công lý

47

2.2.1

Vai trò của Tòa án trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý

47

2.2.2

Các thủ tục tố tụng

58

2.2.3

Hoạt động tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý

61

90

TÀI LIỆU THAM KHẢO

91


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Công lý không phải là một thuật ngữ mới trong các lĩnh vực xã hội nói
chung và pháp luật nói riêng. Ngay từ buổi đầu xuất hiện, khi con người ý
thức được vai trò, vị trí của mình trong xã hội, ý niệm về công lý đã xuất
hiện. công lý đã là ước mong, nguyện vọng của con người, được đối xử một
cách công bằng, bình đẳng, ở thời sơ khai, nó được thể hiện ở việc chia các
nguồn lợi phẩm (hoa quả, hoang thú) theo sự đóng góp của các cá nhân trong
buổi đi săn bắt,hái lượm.
“Không thể có hòa bình nếu không có công lý” là câu khẩu hiệu thường
thấy của đồng bào Công giáo. Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng thành lập
Ủy ban Công lý và Hòa bình.
Có thể thấy, công lý cũng như cuộc chiến để giành công lý” cũng có lịch sử
thăng trầm riêng của nó, gắn bó một cách mật thiết với lịch sử phát triển của xã hội
loài người. Trải qua những hình thái kinh tế - xã hội, những chế độ chính trị, chế
độ nhà nước, dù là dã man nhất (chế độ chiếm hữu nô lệ) hay chế độ dân chủ nhất
như hiện nay (chế độ dân chủ tư sản hoặc chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa); dù là
xã hội nguyên thủy nhất hay hiện đại nhất, công lý luôn là cái mang tính tinh
thần nhiều nhất trong ý niệm của con người.
Ở kỷ nguyên hiện đại, tiếp cận công lý không chỉ thuần túy là một
mong ước của con người nữa mà nó còn xuất hiện như là một tiêu chuẩn
quan trọng trong đánh giá đối sự phát triển của một quốc gia, một hệ thống
pháp luật. Bởi đây cũng vừa là quyền của con người và cũng là nghĩa vụ của

phần nhỏ của xã hội vì ngoài pháp luật, còn những thể chế khác nhau điều chỉnh,
tác động lên hành vi của con người (phong tục, tập quán, hương ước, lệ làng…)
và nhiều khi, những thiết chế tương ứng của các thể chế này lại hoạt động có hiệu
quả hơn là các thiết chế tư pháp chính thức theo pháp luật.
Xét theo khía cạnh đó, tiếp cận công lý vừa là một trạng thái của xã hội,
vừa là một đòi hỏi, vừa là nghĩa vụ của nhà nước trong việc tổ chức, thực thi,
bảo vệ pháp luật, tạo điều kiện cho các chủ thể nói chung (trong đó cũng có
cả nhà nước) mà quan trong nhất là cá nhân (con người) nói riêng được tiến
lại gần hơn lẽ phải và sự công bằng theo đúng nghĩa đên của nó.
Tiếp cận công lý và những vấn đề liên quan không phải là vấn đề riêng
của một quốc gia, một dân tộc hay một lãnh thổ, mà là vấn đề của “toàn cầu”,

2


“toàn xã hội”. Đặc biệt trong những năm gần đây, vấn đề về tiếp cận công lý
được nghiên cứu, khảo sát dưới nhiều cách thức khác nhau và đã đem lại
những thành công bước đầu trong việc đánh giá được mức độ tiếp cận công lý
của người dân. Việt Nam không đứng ngoài câu chuyện đó, với sự tham gia
của nhiều tổ chức khác nhau, trong và ngoài nước, đã từng bước tiến hành
những bước đầu của tiếp cận công lý. Việc cho ra đời Báo điện tử Công lý của
Tòa án nhân dân tối cao hay việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án “Tăng
cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam” do Bộ Tư pháp chủ trì,
phối hợp với các cơ quan pháp luật và tư pháp khác của Việt Nam thực hiện là
các sự kiện thể hiện điều đó.
Vì những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Quyền tiếp cận công lý ở
Việt Nam hiện nay” làm đề tài cho Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Nhà
nước và Pháp luật của tôi.
1.2. Tình hình nghiên cứu
Công lý và tiếp cận công lý tuy không phải là một nội dung mới nhưng

phải hướng dẫn họ sống thế nào.
- Cuốn sách: “Justice: Whats’s the right thing to do”, hay “Phải trái,
đúng sai” của giáo sư Đại học Harvard Michale J. Sandel (bản dịch Hồ Đắc
Phương, tái bản lần thứ 6, Nhà xuất bản Trẻ, năm 2015). Cuốn sách được
GS.Ngô Bảo Châu nhận xét rằng: “Trang sách chính là cửa sổ mở sang
những cuộc đời khác, những thế giới khác. Và cũng là chỗ để ảnh sáng mặt
trời rọi vào cuộc đời mình”.
Bên cạnh đó, cũng đã có một số tác phẩm nổi tiếng về công lý và tiếp
cận công lý được xuất bản trong nước như:
- Cuốn sách: “Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương”, Nhà
xuất bản Sự thật, năm 1962. Đây là cuốn sách gồm tập hợp một số bài viết
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công lý trong giai đoạn 1921-1926.
- Cuốn sách: “Triết học kinh tế trong “Lí thuyết về công lý” của Nhà
triết học Mĩ - John Rawls” của Trần Thảo Nguyên, Nhà xuất bản Thế giới
xuất bản năm 2006. Tác giả tập trung ý nghĩa và khả năng ứng dụng của học
thuyết về công lý của John Rawls tại Việt Nam. Phân tích mệnh đề công lý
như là công bằng của John Rawls, tác giả cho rằng công lý là cái gốc của
công bằng, có ý nghĩa sâu sắc và khái quát hơn công bằng.

4


- Bài viết: “Tiếp cận công lý và các nguyên lý của nhà nước pháp
quyền” của Vũ Công Giao, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 25, năm
2009. Bài viết phân tích khái niệm và đặc điểm của tiếp cận công lý, nền
tảng của tiếp cận công lý và sự tương thích giữa các nguyên tắc của tiếp cận
công lý với các nguyên tắc của nền pháp quyền tại Việt Nam.
- Cuốn sách: “Quyền con người trong thi hành công lý” của Tòa án
nhân dân tối cao, 545 trang, Nhà xuất bản lao động - xã hội, năm 2010. Cuốn
sách gồm 15 chương, cung cấp những thông tin nhằm giúp người đọc mà

1.4.1. Đối tượng của đề tài:
- Hệ thống lý luận về công lý,“quyền tiếp cận công lý”.
- Thực trạng thực hiện quyền tiếp cận công lý hiện nay ở Việt Nam.
- Một số giải pháp nâng cao thực hiện quyền tiếp cận công lý hiện nay.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
“Công lý” là mô ̣t khái niê ̣m rô ̣ng lớn , do đó , nô ̣i dung của quyề n tiế p
câ ̣n công lý cũng rấ t rô ̣ng . Tuy nhiên, để phù hợp với quy mô của một Luận
văn Tha ̣c s ĩ, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu quyền tiếp cận công lý trong tư
pháp, tức là gắ n chă ̣t với viê ̣c xét xử của Tòa án.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài sử dụng phương pháp lịch sử - cụ thể trong việc tìm hiểu,
nghiên cứu các quan điểm về công lý qua các tài liệu sưu tầm được.
- Đề tài sử dụng phương pháp điều tra xã hội học trong việc đánh giá
thực trạng tiếp cận công lý ở một số nhóm đối tượng trên địa bàn thành phố
Hà Nội.
- Nguồn số liệu được sử dụng lấy từ các báo cáo về chỉ số công lý của
UNDP, một số cơ quan tư pháp trên địa bàn Hà Nội và qua khảo sát, điều tra
xã hội học của tác giả.
2.Kết cấu nội dung luận văn: bao gồm 3 chương, 8 tiết.

6


Chương 1
NHỮNG QUAN NIỆM CHUNG VỀ CÔNG LÝ VÀ
QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG LÝ
1.1. Khái niệm về Công lý
Khái niệm công lý là khái niệm thu hút được nhiều sự quan tâm của các
nhà nghiên cứu khoa học trong nhiều lĩnh vực khác nhau cũng như trong
suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Trong khoa học pháp lý, công lý cần được

sống tâm linh của người Ai Cập cổ đại. Và nữ thần Maat được biết đến là
chủ nhân của Phòng phân xử với tính cách thẳng thắn, đánh giá tất cả bằng
sự xem xét tình cảm thận trọng.
Thần thoại Hy Lạp còn lưu giữ đến ngày nay phần lớn thông qua các
tác phẩm văn học, nghệ thuật, mang tính nhân văn và tư tưởng triết học, giàu
tính duy lý, triết lý. Được cho là sự hòa quyện giữa tư duy cảm tình và tư
duy lý luận, cả hai hòa quyện tạo thành thể thống nhất và tạo nên những tác
phẩm huy hoàng thời cổ đại. Trải qua nhiều biến cố, ngày nay thần thoại Hy
Lạp chỉ còn giới hạn trong quá khứ, văn học và nghệ thuật. Tuy nhiên, chúng
ta không thể phủ nhận được tính giáo dục, triết lý, giá trị sâu sắc và ý tưởng
được thể hiện trong thần thoại Hy Lạp.
Theo truyền thyết, ở thời cổ đại của Hy Lạp, Bầu trời (Uranus) và Mặt
đấy (Gaia) lấy nhau và sinh ra nữ thần Themis, một trong mười hai Titan
(thần) tối cao của đỉnh Olympus. Themis là người làm ra luật định, thiết lập
trật tự và ổn định trên thế gian để đảm bảo công lý. Themis tượng trưng cho
Công lý, là hiện thân của pháp luật và trật tự tự nhiên, khác với luật và trật tự
do con người đặt ra. Themis tham dự các cuộc tranh luận của chư thần, làm
cố vấn cho chư thần trong các dịp đó. Themis thường chủ tọa các cuộc họp
của thường nhân. Những thỏa hiệp kí kết giữa thường nhân đều được sự bảo
trợ của Themis. Sự chính trực, nghiêm minh của bà đã khiến người Hy Lạp
cổ xưa tạc tượng bà tay cầm kiếm, tay cầm cân, mắt bịt một dải băng để
chứng tỏ sự vô tư, không thiên vị của phán quan.
Themis có sáu người con với Zeus, một trong số đó đã kế tục bà trở
thành hiện thân của công lý, đó là nữ thần Dike, thường được gọi là nữ thần

8


của Lẽ phải, Chân lý và Sự thật. Nàng chuyên theo dõi việc tuân thủ quy
định của Zeus dưới trần gian và báo lại cho cha mình biết những trường hợp

luật. Ở đây, công lý dường như tách bạch khỏi công bằng, khi không có sự
xuất hiện của bất kỳ một tầng lớp, hay một giai cấp nào cả. Nó chỉ là quan hệ
giữa cái đúng – sai, cái thiện – ác và pháp luật – sự trừng phạt.
Trong nền văn minh Hy Lạp cổ đại, công lý được cho rằng bắt nguồn từ
trật tự xã hội, một xã hội ổn định, có trật tự sẽ thúc đẩy sự phát triển của
công lý và ngược lại, một nền công lý mạnh mẽ sẽ thúc đẩy một xã hội trật
tự, ổn định. Plato, triết gia vĩ đại của Hy Lạp, người mà ảnh hưởng của ông
được mô tả một cách tuyệt vời bởi nhà triết học thế kỷ 20 Alfred North
Whitehead: “Nét đặc trưng chung rõ ràng nhất của truyền thống triết học
châu Âu là nó bao gồm một chuỗi những phụ chú cho tác phẩm của Plato”,
đã đưa những quan điểm, tư tưởng của mình về vấn đề công lý trong những
tranh luận về vấn đề đạo đức và pháp luật, đặc biệt trong cuốn Luật pháp, tác
phẩm cuối cùng còn dang dở trước khi ông qua đời.
Trong Quyển IV tác phẩm Luật pháp, khi bàn về cuộc sống đức hạnh,
Platon cho rằng, công lý hay những nguyên tắc tôn giáo cùng những đạo đức
đóng vai trò dẫn dắt cuộc sống của họ:
Này các bạn, Thượng đế, theo truyền thuyết, nắm giữ trong tay
Ngài cái đầu, cái giữa và cái cuối của mọi sự vật, nghĩa là chúng vận
hành theo luật tự nhiên do Ngài xếp đặt trên một đường thẳng cho đến
lúc kết thúc. Công lý luôn đi theo Ngài và sẽ trừng phạt những kẻ không
thực hành đến nơi đến chốn luật của Thượng đế…hắn bị luận phạt vì
công lý không có gì khác hơn là phải thuận nhận mà thôi. [2, tr. 818]
Như vậy, khi nói về pháp luật, Platon nhấn mạnh đến luật tự nhiên, theo
đó, công lý với nghĩa trừng phạt những kẻ vi phạm luật tự nhiên cũng mang
tính tự nhiên. Ngoài ra, sự “thuận nhận” hay “tâm phục khẩu phục” cũng
mang lại ý nghĩa tốt đẹp cho công lý. Tức là kẻ làm sai cũng nhận thấy cái

10





17. Nguyễn Ái Quốc (2008), Bản án chế độ thực dân Pháp, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
18. Raymond Wacks, dịch giả Phạm Kiều Tùng (2011), Triết học luật pháp,
NXB Tri thức, Hà Nội
19. TS. Lê Hữu Thể, TS.Đỗ Văn Đương, ThS. Nguyễn Thị Thủy (2013),
Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của việc đổi mởi thủ tục tố
tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
20. TS.Nguyễn Minh Tuấn (2014), Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp
luật thế giới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21. Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế 1948.
22. TS. Nguyễn Văn Sáu (2001), “Cộng đồng làng xã Việt Nam”, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
23. Trung tâm Nghiên cứu quyền con người – quyền công dân và Trung tâm
Nghiên cứu tội phạm học và tư pháp hình sự, Khoa Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nôi (2011), Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương trong tố tụng hình
sự, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
24. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự
Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.
25. Từ điển bách khoa Triết học.
26. Từ điển Luật học (1999), NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội
27. Viện Nghiên cứu và chính sách công, Bình luận khoa học Hiến pháp 2013.
28. Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (1993), Nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, thuộc đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Nhà nước “Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân,
do dân, vì dân” năm 1993 do PTS. Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng
Bộ Tư pháp làm chù nhiệm đề tài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status