Lời mở đầu
Thực tế cho thấy, đổi mới và hoàn thiện nhà nớc là một trong những
vấn đề quan trọng, chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị nhằm thúc đẩy
kinh tế, xã hội phát triển nhanh chóng, vững chắc theo định hớng xã hội
chủ nghĩa. Hiện nay chúng ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, mở cửa
đất nớc, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ
chế thị trờng, định hớng xã hội chủ nghĩa. Hoàn cảnh mới tạo cho chúng
ta nhiều thời cơ, vận hội, đồng thời chúng ta cũng phải đối mặt với nhiều
nguy cơ thách thức, nhiều vấn đề mới phát sinh, các quan hệ xã hội ngày
càng phức tạp.
Trong bối cảnh đó, để tranh thủ thời cơ, vợt qua thách thức, giải
quyết tốt các vấn đề kinh tế - chính trị - xã hội của đất nớc, việc nâng cao
vai trò quản lý của nhà nớc pháp quyền, mà trớc tiên là xây dựng bộ máy
của nó là một đòi hỏi rất cấp thiết và rất quan trọng. Tuy nhiên, vấn đề
nhận thức về nhà nớc pháp quyền trong tình hình mới còn nhiều hạn chế,
đặc biệt là năng lực tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nớc nhiều lúc,
nhiều nơi còn yếu, kém hiệu quả, cha đáp ứng đợc đòi hỏi của nhiệm vụ
trong tình hình mới, cha thỏa mãn lòng mong mỏi của nhân dân. Trong
nhiều năm qua, Đảng và Nhà nớc luôn thực hiện nhất quán chủ trơng dân
chủ hoá mọi mặt đời sống xã hội, đã đề ra nhiều chính sách, giải pháp tích
cực nhằm tạo điều kiện để nhân dân tham gia ngày càng đông đảo vào
quản lý Nhà nớc và xã hội. Nhng thực tế, sự tham gia trực tiếp vào quản lý
Nhà nớc của nhân dân ở nớc Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, hiệu quả
cha cao, mang tính hình thức.
Yêu cầu bức xúc đặt ra là phải xây dựng, nâng cao hiệu quả hoạt
động của bộ máy nhà nớc pháp quyền Việt Nam chỉ khi có một Nhà nớc
nh vậy mới có thể phát huy đợc quyền dân chủ của nhân dân, đảm bảo
quyền sống, quyền đợc làm việc, đợc lao động, đợc học hành đợc đảm
bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội. Nó sẽ ảnh hởng tới sự lành mạnh của
Nhà nớc pháp quyền là một trong giá trị xã hội quí báu đợc tích luỹ
và phát triển trong lịch sử t tởng nhân loại về Nhà nớc pháp quyền đã xuất
hiện từ rất sớm, trong t tởng chính trị pháp lý thời cổ đại đã chứa đựng
nhiều nhân tố của Nhà nớc pháp quyền. Đến thời kỳ cách mạng Dân chủ
t sản, những t tởng quí báu đó đã đợc thừa kế, phát triển để trở thành học
thuyết về Nhà nớc pháp quyền. Học thuyết đó đợc áp dụng ở các mục
đích, phù hợp khác nhau ở nhiều nớc t sản. Ngày nay, học thuyết đó đến lợt mình lại tiếp tục đợc bổ sung phát triển cho phù hợp với những đổi thay
sâu sắc của xã hội hiện đại.
1. Những t tởng sơ khai về nhà nớc pháp quyền thời cổ đại.
Thời cổ đại, nhiều nhà t tởng đã đa ra những ý niệm về mối quan hệ
giữa ngời cầm quyền với pháp luật, quan hệ Nhà nớc với pháp luật về tình
trạng lộng quyền và chuên quyền của Vua, tình trạng không có trách
nhiệm pháp lý của kẻ cầm quyền. Nh mọi ngời đều biết, trong thời kỳ cổ
đại đã tồn tại quan niệm ấu trĩ, ngụ biện cho rằng sức mạnh đẻ ra pháp
luật, lẽ phải bao giờ cũng thuộc về kẻ mạnh. Những ngời nắm giữ công
quyền thả sức hoành hành. Với vua chúa thì quyền lực của họ hầu nh
không bị hạn chế. Khắp nơi thịnh hành học thuyết đặc miễn quốc gia,
theo đó Nhà nớc là ra pháp luật thì phải đứng trên pháp luật.
T tởng về Nhà nớc pháp quyền ra đời nhằm chống lại sự chuyên
quyền, độc đoán, vô chính phủ, vô pháp luật đó, tức là gắn liền với việc
xác lập và phát triển nền dân chủ. Động lực ra đời của t tởng này lại bắt
nguồn chính từ những quan niệm hồn nhiên của ngời xa cho rằng sự công
bằng, pháp luật là những thuộc tính vốn có của Đất Trời. Bởi vậy, bạo
lực, lộng quyền và hỗn loạn là c tơng phản với công bằng, pháp luật và
cần phải xoá bỏ.
Lớp xây dựng đảng và chính quyền nhà nớc
3
2. Nhà nớc pháp quyền T sản.
Những t tởng vĩ đại về Nhà nớc pháp quyền tiếp tục đợc các nhà t tởng chính trị - pháp lý t sản dau này phát triển nh là một thế giới quan
pháp lý mới. Đó là thế giới quan chống lại một cách kịch liệt sự chuyên
quyền phong kiến và tình trạng vô pháp luật, chống lại các chế độ chuyên
chế độc tài và cảnh sát, khẳng định mạnh mẽ những t tởng nhân đạo, các
nguyên tắc tự do và bình đẳng của cá nhân, thừa nhận những quyền con
ngời không thể bị tớc đoạt, tìm tòi những cơ cấu, hình thức và công cụ
chống lại một cách không khoan nhợng sự tiếm quyền và tình trạng vô
trách nhiệm của quyền lực đó đối với cá nhân và xã hội.
G. Loccơ, nhà t tởng ngời Anh (thế kỷ XVII), đã đa ra một mô hình
Nhà nớc, trong đó có sự ngự trị của pháp luật. Theo ông, trong Nhà nớc
đó, luật phù hợp với pháp luật tự nhiên phải có tính tối cao các quyền tự
nhiên và tự do cá nhân đợc ghi nhận, còn bộ máy Nhà nớc đợc tổ chức
theo 4 bộ phận quyền lực: lập pháp, hành pháp, bang giao đối ngoại, và
đặc quyền của vua. Ông đối lập Nhà nớc, trong đó có sự ngự trị của pháp
luật với mọi biểu hiện phi pháp, tuỳ tiện của những ngời nắm quyền. Theo
Loccơ, nguyên tắc cho phép làm tất cả những gì mà pháp luật không
cấm chỉ đúng khi áp dụng đối với công dân, còn đối với những ngời cầm
quyền phải áp dụng nguyên tắc ngợc lại Cấm là những gì mà pháp luật
không cho phép.
SL. Montesquieu, luật gia Pháp (thế kỷ XVIII) tiếp tục phát triển
những quan niệm về phân lập các quyền trong bộ máy Nhà nớc. Theo
ông, phân quyền là nhằm tránh sự lạm quyền, để các bộ phận quyền lực
kiềm chế lẫn nhau. Sự phân chia và kiềm chế giữa các quyền (các quyền
đối lập nhau và cân bằng nhau) là điều kiện tiên quyết để bảo đảm tự do
chính trị trong Nhà nớc (tự là làm những gì mà pháp luật cho phép, tự do
thể hiện trong pháp luật). Theo ông, mô hình tối u là mỗi Nhà nớc đều có
ba quyền: lập pháp, hành pháp, t pháp. Ba quyền này nằm trong tay ba cơ
giữa Nhà nớc với pháp luật. Trong mối quan hệ đó, hoặc là Nhà nớc đứng
trên pháp luật hoặc là Nhà nớc hoạt động tuyệt đối tuân theo pháp luật,
đứng dới pháp luật.
Nh vậy những học thuyết về nhà nớc pháp quyền và những mô hình
về nhà nớc pháp quyền T sản đầu tiên đã để lại nhiều giá trị to lớn về cả
Lớp xây dựng đảng và chính quyền nhà nớc
6
phơng diện chính trị - xã hội lẫn phơng diện pháp lý nó vừa là sản phẩm
của trí tuệ và thực tiến vừa là động lực thúc đẩy xã hội loài ngời phát
triển. Nó góp phần đặt nền móng và tạo tiền đề cơ sở lý luận và thực tiễn
cho việc xây dựng các lý luận mới và mô hình mới về nhà nớc pháp quyền
triệt để hơn cho nhân loại.
3. Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Xô Viết.
ở Liên Xô (cũ) và nớc Đông Âu trớc đây, đã hình thành lý thuyết về
pháp chế xã hội chủ nghĩa. Xét về mặt nội dung, pháp chế xã hội chủ
nghĩa là một hệ thống những quan niệm về xây dựng pháp luật, thi hành
pháp luật và bảo vệ pháp luật.
Pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi một tiền đề là Nhà nớc phải có
một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh thì Nhà nớc pháp quyền
(một khái niệm nhấn mạnh đến tính tối cao của pháp luật), xã hội chủ
nghĩa cũng đòi hỏi Nhà nớc phải có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Pháp
chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi một sự tuân thủ nghiêm túc pháp luật từ công
dân đến cơ quan Nhà nớc, ciên chức Nhà nớc thì Nhà nớc pháp quyền xã
hội chủ nghĩa cũng nhấn mạnh đến nguyên tắc mọi cơ quan Nhà nớc phải
đặt mình dới pháp luật.
Pháp chế xã hội chủ nghĩa yêu cầu phải bảo vệ nghiêm ngặt pháp
bằng một nền t tởng Nho giáo, vẫn bị những khuôn phép triết lý đó điều
khiển hành vi cai trị của mình. Phải thích cái dân thích, phải ghét cái dân
ghét, thế mới đợc gọi là cha mẹ của dân; Trời thơng dân, dân muốn gì
trời cũng theo.
Nhà Vua không đợc làm điều gì trái với ý dân, ý dân là ý trời, trái
mệnh trời thì không còn xứng đáng làm Hoàng đế. Nu không làm đúng
nh vậy, nhà Vua sẽ mang tiếng là bạo chúa, hôn quân. ảnh hởng của nho
giáo dẫn đến chính sách thân dân của các Hoàng đế Việt Nam đã hạn chế
khá nhiều mức chuyên chế độc tài của vơng quyền. Do đó, ở nớc ta những
vị Vua thấm nhuần tinh thần nhân ái, lấy dân làm gốc nh Lý Thánh Tông
(1054-1071) nhiều hơn các Vua tàn ác và bạo ngợc nh Lê Long Đĩnh
(1005-1009). Chế độ đình nghị trong nhiều triều đại cho thấy nhà Vua
phải họp với các quan văn võ trong triều để bàn xét việc nớc, ngời dự họp
có thể có ý kiến khác với Vua đều đợc thẳng thắn nói ý kiến của mình.
Lớp xây dựng đảng và chính quyền nhà nớc
8
Vua Trần Nhân Tông đã mời các bô lão đến Điện Diên Hồng để hỏi ý
kiến.
Thứ hai, cách tổ chức chính quyền ở cấp Trung ơng đã dần dần phát
triển, hình thành những tổ và định chế can ngăn Vua, giúp Vua có thể
sáng suốt hơn khi ra quyết định, có nhiệm vụ giám sát các quan chức, các
cơ quan cấp cao của triều
đình và một cơ chế kiểm soát của triều đình đối với các hoạt động hành
chính ở các cấp chính quyền địa phơng.
Trong thời Lý khi Lý Công Uẩn lên ngôi (1010) đã lập ra chức Tả
hữu Giám Nghị Đại phu, có nhiệm vụ can giám nhà Vua và xem xét tất cả
thành viên của hội đồng nhà Vua chỉ cần thu hồi bằng sắc phẩm hàm là
viên kỳ mục đó bị gạt khỏi hội đồng, trở thành bạch định (dân thờng). Các
biện pháp kiểm soát khác từ biện pháp ôn hoà nh quân cấp công điền, chế
độ thuế khoá đến các biện pháp trừng phạt cá nhân, từng phạt cả làng đều
đợc áp dụng.
Thứ t, chế độ tuyển dụng quan lại đều lựa chọn trong những ngời
trúng tuyển các kỳ thi do Vua đặt ra trở thành một cơ chế phát hiện nhân
tài công bằng và dân chủ, mọi ngời sang hèn, giàu nghèo ai cũng có
quyền ứng thi, nếu đỗ đạt đều đợc nhà Vua trọng dụng. Chế độ tuyển
dụng nh vậy đã hình thành một đội ngũ tài năng, hiểu biết, không chịu
khuất mình làm điều xằng bậy, là cơ sở để hình thành một bộ máy Nhà nớc biết đặt mình dới kỷ cơng, phép nớc. Tuyển dụng thông qua phơng
pháp thi cử là cách phổ biến nhất của thời đại nhà Trần, Lê, Nguyễn, nhng
không phải đó là phơng pháp duy nhất mà còn nhiều phơng pháp khác nh
phơng pháp chọn ngời có đức, chọn những ngời thuộc con nhà gia thế,
những ngời có tiền đóng góp cho Nhà nớc. Một điển hình trong chế độ
tuyển dụng quan chức hành chính cấp xã là anh em thân thuộc, con chú
con bác không đợc tuyển dụng và làm chức vụ trong một xã (Lê Thánh
Tông) tất cả các xã trởng đều phải là nhà Nho hoặc là sinh đô (Tú tài) (Lê
Anh Tông).
Thứ năm, trong tất cả các thời đại Vua chúa Việt Nam trớc thời Pháp
thuộc, chỉ có đời Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) bắt đầu đặt ra ở cấp
Đạo (cả nớc có 12 đạo) có 3 toà: Toà Đô coi việc binh, Toà Thừa coi việc
hành chính, Toà Hiến coi việc xử án. Đến thời Lê thần Tông (1649) đã có
thêm Toà giám sát, phúc lại tất cả các án của Toà Hiến, trên Toà giám sát
có Ngự sử Đài đóng ở Kinh Đô và trên Ngự sử Đài còn có Ngũ phủ liêu
Lớp xây dựng đảng và chính quyền nhà nớc
10
Lớp xây dựng đảng và chính quyền nhà nớc
11
luật thì thừa nhận hệ thống pháp luật cũ (Sắc lệnh 10-10-1945) trừ các chế
định trái với nền độc lập quốc gia. Cùng với điệc đó, là khẩn trơng thành
lập một Nhà nớc hợp hiến, xây dựng Hiến pháp và hoạt động trên cơ sở
Hiến pháp.
Cuộc kháng chiến chống Pháp không cho phép Quốc hội họp thờng
xuyên để ban hành các đạo luật, Chính phủ đã phối hợp chặt chẽ với Ban
thờng trực Quốc hội ban hành các Sắc lệnh , điều hành đất nớc bị chiến
tranh chia cắt vẫn bảo đảm sự thống nhất của các định chế. Khi cuộc
kháng chiến đã thành công, Chính phủ chấm dứt ngay việc ban hành Sắc
lệnh, thực hiện rất nhanh việc họp Quốc hội ban hành các Đạo luật và sắc
luật. Quản lý bằng pháp luật là một t tởng sâu đậm trong t duy Nhà nớc
pháp quyền, một nguyên tắc hiến định. Một loạt các Đạo luật, Sắc luật ra
đời do Quốc hội ban hành trong những năm cuối thập kỷ 60 sau khi giải
phóng miên Bắc, chứng minh cho một quan niệm nhất quán, liên tục và
mạnh mẽ của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Thần linh pháp quyền.
Ba là, Một nền hành chính mạnh, vô t, trong sạch, tận tâm, có quy
củ, đặt mình dới pháp luật làm theo mệnh lệnh của Trung ơng, Chính phủ
chịu trách nhiệm trớc Quốc hội về con đờng chính trị của đất nớc, điều đó
thể hiện t duy Nhà nớc pháp quyền mạnh mẽ nhất.
Bốn là, cùng với nền hành chính, phải có một nền t pháp hoạt động
theo các nguyên tắc độc lập của thẩm phán, độc lập của luật s đoàn, các
cơ quan bổ trợ t pháp, bảo đảm mối liên hệ mật thiết với hệ thống hành
chính. Đó là một nền công lý nhân dân, một t duy về Nhà nớc pháp
quyền. Có thể nói những nhân tố Nhà nớc pháp quyền trong bộ máy Nhà
nớc Việt Nam từ 1945 đến 1992 đặc biệt là thời kỳ đầu theo thiết kế của t
Nhà nớc đó, Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa là Nhà nớc mà quyền
lực là thuộc về nhân dân, nó tồn tại và hoạt động vì mục đích phục vụ
nhân dân, Nhà nớc đứng trong nhân dân chứ không phải đứng trên nhân
dân. Nh vậy, có thể hiểu khái quát:
1. Khái niệm
"Nhà nớc pháp quyền XHCN là nhà nớc mà quyền lực của nó là
thống nhất thuộc về nhân dân lao động, đợc tổ chức, hoạt động và quản lý
Lớp xây dựng đảng và chính quyền nhà nớc
13
xã hội theo pháp luật nh là ý chí của nhân dân lao động đợc luật hoá, có
cơ chế kiểm tra và giám sát quyền lực nhằm tôn trọng và đảm bảo quyền
công dân, quyền con ngời,
do đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Các nội dung này nằm trong
một thể thống nhất hữu cơ, làm tiền đề cho nhau và phụ thuộc lẫn nhau".
"Nhà nớc XHCN Việt Nam là nhà nớc pháp quyền XHCN của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nớc thuộc về nhân dân
mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
đội ngũ trí thức."
Bất kỳ sự vật, hiện tợng nào tồn tại cũng mong cái chung và cái
riêng. Cái riêng chính là dấu hiệu để nhận biết sự vật, hiện tợng này khác
sự vật hiện tợng khác. Nhà nớc pháp quyền Việt Nam cũng vậy, cũng
mong trong mình những đặc điểm chung, song cũng có những biểu hiện
riêng mà không phải một Nhà nớc XHCN nào cũng có. Đó chính là những
đặc trng của Nhà nớc XHCNVN. Đặc trng của Nhà nớc PQXHCNVN là
những đặc điểm nói lên một Nhà nớc của dân, do dân và vì dân, lấy phục
về mặt nội dung pháp lý, phải là pháp luật mang tính pháp quyền, phải
đảm bảo yêu cầu khách quan, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Vì vậy, phải xây
dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, toàn diện, phù hợp điều kiện kinh
tế, chính trị, xã hội ở nớc Việt Nam trên cơ sở vận dụng các thành tựu
khoa học hiện đại, kỹ thuận pháp lý tiên tiến vào công tác lập pháp và
cũng chỉ khi có đợc một hệ thống pháp luật đầy đủ thì mới tạo ra đợc môi
trờng pháp lý cho tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh, văn hoá-xã
hội, an ninh - quốc phòng và các lĩnh vực khác.
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong điều kiện xây dựng
Nhà nớc pháp quyền cần phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản sau đây:
a-Nâng cao chất lợng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật suy cho cùng là việc hoàn thiện các
quy phạm pháp luật, các chế định luật, các ngành luật. Trong điều kiện
xây dựng Nhà nớc pháp quyền, điều cốt yếu là đề cao vai trò và giá trị xã
hội của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm để Hiến pháp và pháp luật giữ
địa vị tốt cao trong đời sống xã hội.
Lớp xây dựng đảng và chính quyền nhà nớc
15
Hiến pháp và pháp luật trong Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
không thể là sản phẩm tuỳ tiện, tự do duy ý chí của Nhà nớc và các nhà
làm luật. Ngợc lại, trong Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hiến pháp
và pháp luật phải phù hợp với bản chất khách quan của các quan hệ xã
hội, ý chí của toàn dân và các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa.
b-Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật.
Hệ thốngpl trong điều kiện xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ
một số công việc sau: Tổ chức thực hiện đúng pháp luật trong tổ chức và
hoạt động của bộ máy Nhà nớc. Đây cũng là vấn đề cơ bản, thiết thực và
có ý nghĩa quyết định của việc quản lý bằng pháp luật. Để thực hiện
nhiệm vụ này đòi hỏi phải là tốt công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật
để mọi ngời am hiểu pháp luật, tự giác thực hiện pháp luật. Kiểm tra xử lý
nghiêm các vi phạm pháp luật. Trong việc quan lý Nhà nớc bằng pháp
luật, việc kiểm tra xem xét, giải quyết, xử lý các ci phạm pháp luật là
công tác vô cùng quan trọng. Bởi vì, nếu không kiểm tra, không xử lý các
vi phạm coi nh không có quản lý. Làm tốt công tác này sẽ hạn chế mức độ
vi phạm luật, tạo ra đợc trật tự pháp luật trong xã hội.
Nội dung thứ t: Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền
làm chủ của nhân dân. Đây là nội dung vừa cơ bản, vừa cấp bách nhằm
giữ vững và phát huy bản chất dân chủ của Nhà nớc, tạo ra điều kiện cơ
bản nhằm ngăn chặn và đầy lùi tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu và tình
trạng thoái hoá, biến chất, sách nhiễu nhân dân trong bộ máy công quyền
Nhà nớc. Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của
nhân dân đi đôi với tăng cờng kỷ luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa chính là
giải pháp cơ bản đảm bảo trên thực tế quyền lực đều thuộc về nhân dân
trong Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân. Thực hiện nhiêm vụ trên đây, cần phải: Hoàn thiện chế độ dân
chủ đại diện, mở rộng và từng bớc thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp một
cách thiết thực, đúng hớngvà có hiệu quả. Thực hiện tốt quy chế dân chủ
ở cơ sở một bớc đột phá trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa, thực hiện tốt phơng châm dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm
tra.
Nội dung thứ năm: Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nớc.
Đây là một trong những điều kiện quan trọng nhất, tạo tiền đề cho việc
xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
Lớp xây dựng đảng và chính quyền nhà nớc
phục sơ hở vừa xử lý nghiêm, kịp thời mọi vi phạm, tội phạm, huy động
và phối hợp chặt chẽ mọi lực lợng đấu tranh nhằm ngăn chặn, đẩy lùi và
loại trừ tệ tham nhũng.
Nh vậy quyền lực nhà nớc thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân, đây là khát vọng sâu xa của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh
Lớp xây dựng đảng và chính quyền nhà nớc
18
xây dựng, bảo vệ và phát triển, đó cũng là mục tiêu của toàn bộ sự nghiệp
cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
2.2. Quyền lực của nhà nớc là thống nhất, có sự phân công rành mạch và
sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nớc trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp, t phap.
Đây vừa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nớc
Việt Nam, vừa là quan điểm chỉ đạo quá trình tiếp tục thực hiện việc cải
cách b máy Nhà nớc. Quan triệt quan điểm quyền lực Nhà nớc thống
nhất sẽ tác động trực tiếp đến việc tăng cờng trách nhiệm và sự phối hợp
của các cơ cấu thực hiện quyền lực của bộ máy Nhà nớc, bảo đảm cho bộ
máy Nhà nớc vận hành đồng bộ, thống nhất và có hiệu lực, hiệu quả. Mặt
khác, tăng cờng việc phân công, phân nhiệm rành mạch, hợp lý, rõ ràng
và chú trọng phối hợp chặt chẽ trên tình thần vì dân, do dân giữa các cơ
quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, t pháp chính là
điều kiện để phát huy tốt hiệu lực của quyền lực Nhà nớc thống nhất.
Quốc hội đợc xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ
quan quyền lực Nhà nớc cao nhất, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và
lập pháp, quyết định những vấn đề cơ bản, quan trọng của đất nớc và thực
hiện quyền giám sát tối cao. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc
hội, cơ quan hành chính Nhà nớc cao nhất của nớc Cộng hoà xã hội chủ
không loại trừ đối với bất cứ ai. Ngay Đảng Cộng sản Việt Nam, đợc toàn
thể nhân dân Việt Nam thừa nhận vị trí, vai trò lãnh đạo đất nớc và Hiến
pháp khẳng định Đảng là lực lợng lãnh đạo Nhà nớc và xh; đồng thời,
Hiến pháp cũng xác định: Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn
khổ Hiến pháp và pháp luật.
2.4. Nhà nớc tôn trọng và bảo đảm quyền con ngời, quyền công dân,
nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nớc và công dân.
Kể từ khi thành lập Nhà nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho đến
nay, nội dung này luôn luôn đợc Nhà nớc Việt Nam đặc biệt quan tâm.
Trong các văn bản pháp luật, các nội dung về quyền con ngời đều đợc quy
định đầy đủ. Hiến pháp năm 1992 đã dành trọn một chơng (Chơng V) với
Lớp xây dựng đảng và chính quyền nhà nớc
20
34 điều quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Sinh thời,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn
tột bậc, là làm sao cho nớc ta đợc hoàn toàn độc lập, dân ta đợc hoàn toàn
tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng đợc học hành.
Nh vậy, nguyện vọng thiết tha và mục tiêu cao cả của Đảng Cộng
sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền con ngời,
quyền công dân, đợc thể chế hoá thành luật và đợc Nhà nớc Việt Nam tổ
chức thực hiện có kết quả.
2.5 Nhà nớc tôn trọng và thực hiện đầy đủ các điều ớc quốc tế mà nớc
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Nhà nớc ta đã ký kết nhiều điều ớc quốc tế song phơng, trong đó
chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực thơng mại, tài chính, ngân hàng,
Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta đã tiếp thu đợc những tinh hoa của văn
minh nhân loại - các chế định pháp lý đợc thừa nhận chung của cộng đồng
quốc tế nh: tất cả quyền lực Nhà nớc thuộc về nhân dân, sự tôn trọng và
bảo vệ các quyền và tự do của con ngời nh là những giá trị xã hội cao quý
nhất, sự ngự trị của pháp luật trong các lĩnh vực sinh hoạt của xã hội, tính
tối cao của pháp luật trong các lĩnh vực hoạt động của Nhà nớc và trong
điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, trong việc tổ chức thực hiện
quyền lực Nhà nớc, chúng ta không chấp nhận tam quyền phân lập gắn
với chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nh ở các nớc t sản. Trái
lại, ở nớc Việt Nam, quyền lực Nhà nớc là thống nhất, có sự phân công và
phối hợp giữa các cơ quan Nhà nớc trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp, t pháp, dới sự lãnh đạo của một chính đảng duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đây là nét đặc trng khác biệt giữa Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam với Nhà nớc pháp quyền t sản; đồng thời cũng là kinh
nghiệm vô cùng quý giá mà nhân dân Việt Nam đã đúc kết đợc trong quá
trình lịch sử cách mạng Việt Nam. Nh vậy nhà nớc pháp quyền Việt Nam
XHCN là nhà nớc của dân, do dân và vì dân. Tổ chức hoạt động theo pháp
luật và quản lý xã hội bằng pháp luật kết hợp với giáo dục đạo đức. Quyền
lực nhà nớc là thống nhất, đồng thời cũng có sự phân công rành mạch và
phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quyền lực của nhà nớc trong việc thực
hiện quyền lập pháp, hành pháp và t pháp. nhà nớc do Đảng cộng sản Việt
nam lãnh đạo đi theo con đờng XHCN.
Lớp xây dựng đảng và chính quyền nhà nớc
22
3. Tăng cờng và phát triển hơn nữa của Nhà nớc pháp quyền
XHCN Việt Nam.
23
hành pháp vẫn xuất hiện. Để khắc phục tình trạng này thì cần cụ thể hoá,
rõ ràng và rành mạnh hơn nữa về chức năng, nhiệm vụ của cả 3 cơ quan
trên. Đồng thời phải xây dựng một qui chế làm việc thực sự hiệu quả đối
với từng cơ quan, để hạn chế những sự tác động tiêu cực giữa các cơ quan
với nhau.
Về cơ bản cả xã hội Việt Nam đã và đang sống và làm việc theo
Hiến pháp và pháp luật. Hệ thống pháp luật của nớc cũng đã thể hiện đợc
ý chí nguyện vọng của nhân dân. Tuy nhiên còn nhiều quan hệ xã hội vẫn
cha có luật cụ thể điều chỉnh sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp
luật, đó là đang trở thành một phòng trào tất yếu trong xã hội Việt Nam.
Nhng hệ thống pháp luật của nớc Việt Nam còn rất nhiều hạn chế. Còn
nhiều quan hệ văn hoá vẫn cha có một ngành luật cụ thể điều chỉnh, tình
trạng thiếu những qui định của pháp luật còn cha chặt chẽ cho nên tình
trạng lách luật, lợi dụng khe hở của pháp luật để mu cầu lợi ích riêng
đang diễn ra phức tạp. Sự biết và hiểu luật của ngời dân lại rất hạn chế.
Thói tuỳ nhiên, coi thờng pháp luật đang diễn ra ở một số địa phơng, vùng
miền đặc biệt vùng sâu vùng xa. Vì vậy, đẩy mạnh xây dựng và hoàn
thiện Nhà nớc PQVNXHCN thì cần phải phục vụ nguy những hạn chế
trên. Cần tập trung và quan tâm hơn nữa để xây dựng, bộ máy và hoàn
thiện hệ thống pháp luật phải đặt mọi quan hệ xã hội dới sự điều chỉnh
của pháp luật để biến việc sống và làm việc trong khuôn khổ pháp luật trở
thành một tất yếu làm cho ngời dân thực sự tự do trong môi trờng sống
của họ. Đồng thời giáo dục, nâng cao nhận thức cũng nh ý thức pháp luật
cho ngời dân là rất cần thiết.
Nhà nớc Việt Nam luôn tôn trọng và đảm bảo quyền công dân,
trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nớc và công dân cũng đợc nâng cao. Song
Nhà nớc pháp quyền hình thức phát triển cao của Nhà nớc, đó là hình
thái Nhà nớc mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, lấy mục đích hoạt
động vì con ngời. Xây dựng và phát triển một Nhà nớc pháp quyền hoàn
thiện, không ngừng lớn mạnh về mọi mặt là yếu tố quyết định để nớc Việt
Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Với vai trò quan trọng
đó của Nhà nớc pháp quyền, toàn Đảng, toàn dân ta đã đang và vẫn tiếp
tục xây dựng Nhà nớc pháp quyền Việt Nam phát triển toàn diện kịp với
xu thế phát triển của nhân loại. Nhng trong tiểu luận này em mới chỉ đề
Lớp xây dựng đảng và chính quyền nhà nớc
25