ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THẾ QUYẾT
ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ BẦU CỬ
Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THẾ QUYẾT
ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ BẦU CỬ
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS, TS. Vũ Công Giao
HÀ NỘI - 2014
luận và cung cấp những thông tin, tư liệu hữu ích liên quan đến đề tài luận văn.
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình và những người bạn đã ủng hộ, động viên,
khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng
/201
Nguyễn Thế Quyết
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ, hình vẽ
MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG I: Lý luận cơ bản về bầu cử và quản lý bầu cử
6
1.1
Bầu cử
17
1.2.2
Vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý bầu
cử
21
1.2.3
Các nguyên tắc thiết kế cơ quan quản lý bầu cử
24
CHƢƠNG II: Tổ chức, hoạt động của cơ quan quản lý bầu cử
trên thế giới và ở Việt Nam
30
2.1
Khái quát về tổ chức, hoạt động của cơ quan quản lý bầu
cử trên thế giới
30
2.1.1
2.2.2
Tổ chức, hoạt động của cơ quan quản lý bầu cử ở Việt Nam
theo pháp luật hiện hành
74
2.2.3
Những điểm mới trong Hiến pháp 2013 về quản lý bầu cử
85
CHƢƠNG III: Quan điểm, giải pháp đổi mới cơ quan quản lý
bầu cử ở Việt Nam
88
3.1
Nhu cầu cấp thiết phải đổi mớicơ quan quản lý bầu cử ở
nước ta
88
3.2
89
ICCPR:
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (Covenant on
Civil and Political Rights)
IDEA:
Viện quốc tế về Dân chủ và Hỗ trợ bầu cử (The International
Institute for Democracy and Electoral Assistance)
NXB:
Nhà xuất bản
UBND:
Ủy ban nhân dân
HĐND:
Hội đồng nhân dân
UBMTTQVN:
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
UBTVQH:
Ủy ban thường vụ Quốc hội
37
hỗn hợp
4
Bảng 4. So sánh 3 mô hình cơ quan quản lý bầu cử
38
5
Bảng 5: Tổng hợp kết quả bầu cử ĐBQH từ Khóa I đến
68
Khóa XIII
6
Bảng 6: Các tổ chức quản lý bầu cử ở Việt Nam
79
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
STT
1
Nội dung
Biểu đồ 1: Tỷ lệ hiến pháp trên thế giới có quy định
một chế độ bầu cử tự do và trung thực”[7, tr.20] [66].Hiến chương Paris cho một
châu Âu mới 1990 (Charter of Paris for a New Europe 1990) đã tuyên bố “Ý chí của
nhân dân thông qua bầu cử tự do, công bằng và định kỳ là nền tảng cho một nhà nước
dân chủ”[7, tr.20].Hội nghị Trung ương V khóa XI cũng đã khẳng định về sự quan
trọng và vai trò của bầu cử trong một nền dân chủ: “Tăng cường hình thức dân chủ
trực tiếp theo hướng hoàn hiện chế độ bầu cử”. [40]
Xét về hình thức, có thể thấy nước ta có một chế độ bầu cử dân chủ, tiến bộ,
bình đẳng, các cuộc bầu cử thường được tổ chức thành công, thể hiện qua các yếu tố
như: Số người có quyền bầu cử chiếm tỷ lệ cao, tỷ lệ người thực tế đi bỏ phiếu cao
(trên dưới 90%); các cuộc bầu cử được tổ chức đúng quy định, minh bạch; đại biểu
trúng cử với số phiếu cao; an ninh, trật tự trong thời gian diễn ra bầu cử được đảm
bảo…Đóng góp quan trọng vào thành công đó là các cơ quan quản lý bầu cử.
Ở nước ta, hệ thống cơ quan quản lý bầu cử bao gồm các cơ quan cả ở trung
ương và địa phương, có nhiệm vụ tổ chứccác cuộc bầu cử trong cả nước; kiểm tra,
đôn đốc việc thi hành các quy định pháp luật về bầu cử. Mặc dù trong thời gian qua hệ
thống cơ quan quản lý bầu cử đã khẳng định được vị trí và tầm quan trọng của mình,
song cũng đã bộc lộ một số tồn tại, thiếu sót trong tổ chức và hoạt động. Vẫn còn
những sự trùng chéo về nhiệm vụ, sự thiếu rõ ràng, rành mạch về thẩm quyền, sự lúng
túng trong cách thức tổ chức hoạt động bầu cử.
Để có một cuộc bầu cử thành công, để nhân dân lựa chọn được những người tài
giỏi, xứng đáng thay mặt mình lãnh đạo, điều hành đất nước, cần không ngừng đổi
mới, hoàn thiện chế độ bầu cử nói chung và tổ chức, hoạt động của các cơ quan quản
lý bầu cử nói riêng. Điều này càng trở lên quan trọng trong bối cảnh hiện nay khi đất
nước ta đã bước vào một giai đoạn phát triển mới sau gần 30 năm đổi mới, với những
vận hội và thách thức đan cài, đòi hỏi phải có những cải tổ hơn nữa các cơ chế và
phương thức thực thi dân chủ, mà trong đó bầu cử là một trong những yếu tố then
chốt.
Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Đổi mới tổ chức và hoạt động
tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý bầu cử ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề
xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản
lý bầu cử ở nước ta trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của các cơ
quan quản lý bầu cử, phân tích cơ sở hình thành, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ,
ưu điểm, nhược điểm của các mô hình cơ quan quản lý bầu cử trên thế giới.
+ Phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý bầu cử ở
Việt Nam qua các giai đoạn, chỉ ra những ưu, nhược điểm và nguyên nhân của những
ưu, nhược điểm đó.
+ Dựa trên kết quả những phân tích ở trên, đề xuất những quan điểm, giải pháp
góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý bầu cử ở
nước ta trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:Những vấn đề lý luận và thực trạngcác mô hình tổ
chức, hoạt động của các cơ quan quản lý bầu cử ở trên thế giới và ở Việt Nam, trong
đó tập trung vào những cơ quan quản lý ở Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu tổ chức và hoạt động
của các cơ quan quản lý bầu cử, không đi sâu nghiên cứu tất cả các vấn đề về bầu cử.
Luận văn tập trung nghiên cứu tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý
bầu cử ở Việt Nam. Tuy luận văn có khảo sát, phân tích mô hình tổ chức và hoạt động
của các cơ quan quản lý bầu cử trên thế giới nhưng chỉ ở mức khái quát, làm cơ sở để
đối chiếu, so sánh với tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý bầu cử ở Việt
Nam.
Trong hai yếu tố tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý bầu cử, luận
văn tập trung nhiều hơn vào yếu tố thứ nhất (tổ chức). Yếu tố thứ hai (hoạt động) tuy
cũng được khảo sát, phân tích nhưng ở mức độ khái quát, do những hạn chế về nguồn
lực và thời gian của một đề tài thạc sĩ.
1.1. Bầu cử
1.1.1. Khái niệm, bản chất, vai trò của bầu cử
a.Khái niệm
Bầu cử là một chế định trọng tâm của các nhà nước dân chủ kiểu đại diện. Có
nhiều định nghĩa về bầu cử, tuy nhiên, từ góc độ khái quát, có thể hiểu bầu cử là một
quy trình chính trị -pháp lý trong đó người dân tự do bỏ phiếu lựa chọn ra những
người vào làm việc trong bộ máy nhà nước để thay mặt mình quản lý xã hội.
Đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là nhiệm vụ cơ bản của Hiến
pháp.Hiện nay có hai hình thức cơ bản để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước
thuộc về mình, đó là dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp. Dân chủ trực tiếp là cách
thức người dân tự thể hiện quan điểm, ý kiến của mình trong các cuộc trưng cầu dân
ý. Dân chủ gián tiếp, hay còn được gọi là dân chủ đại diện, là việc người dân bầu ra
những người đại diện cho mình, thay mặt mình giải quyết các công việc của đất nước.
Hiện nay, hình thức dân chủ trực tiếp được áp dụng còn khá hạn chế. [9, tr.100]
Bầu cử hiện là cách thức được hầu hết quốc gia trên thế giới sử dụng để thiết
lập lên cơ quan lập pháp (quốc hội, nghị viện) và cơ quan đại diện của chính quyền
địa phương (nghị viện/hội đồng địa phương). Ở một số nước, bầu cử còn được sử
dụng để bầu thẩm phán của các tòa án hoặc các quan chức đứng đầu cơ quan hành
pháp, ví dụ như bầu cử tổng thống ở Hoa Kỳ hoặc bầu thị trưởng ở một số quốc gia...
Chế độ bầu cử được xác định bởi tổng thể các mối quan hệ xã hội được hình
thành trong quá trình tiến hành các cuộc bầu cử, từ lúc lập danh sách cử tri cho đến
khi kết thúc việc xác định được danh sách những người trúng cử. Qua những mối
quan hệ xã hội đó cho phép đánh giá chế độ bầu cử của một đất nước là dân chủ hay
áp đặt, có đảm bảo cho nhân dân tự nguyện thể hiện ý chí của mình để tìm ra được
những người xứng đáng làm đại diện cho nhân dân, thay mặt nhân dân quản lý và điều
hành đất nước hay không. [3, tr.300]
Trong chế độ đại nghị, nhân dân trực tiếp bầu ra hạ nghị viện, đảng đa số tại hạ
nghị viện hay liên minh các đảng cầm quyền thành lập ra một Chính phủ do Thủ
cho Tổng thống quyền hành pháp. Quá trình bỏ phiếu để lựa chọn được người đại diện
cho nhân dân chính là quá trình chuyển giao quyền lực, là quá trình trao quyền lực từ
nhân dân sang người được lựa chọn. Ai, tổ chức nào được lựa chọn thì chủ thể đó
nhận quyền lực từ nhân dân. [7, tr.11-12]
Tóm lại, bầu cử là sự lựa chọn và trao quyền chính trị, là quá trình mà nhân dân
lựa chọn ra các đảng phái, các lực lượng chính trị và trao quyền cho các chủ thể đó.
Bầu cử biến ý chí của nhân dân thành “ghế” trong cơ quan đại diện. [7, tr.14-15]
c. Vai trò của bầu cử
- Bầu cử là phương thức hợp pháp hóa chính quyền [7, tr.27].
Theo Giáo sư Nguyễn Đăng Dung, chế độ bầu cử được coi là phương thức
chính thống thay đổi quyền lực nhà nước[2, tr.347]. Bầu cử là phương thức để tạo lập
chính quyền một cách hợp pháp [5, tr.165-166]. Thông qua bầu cử, người dân lựa
chọn được những người tài giỏi, tư cách đạo đức tốt và trao cho họ quyền thay mình
lãnh đạo đất nước. Ở một xã hội dân chủ, nơi mà quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân thì bầu cử chính là cách thức hợp pháp, chính thống nhất để chuyển hóa quyền lực
từ người dân sang đại biểu. Đại biểu có được quyền lực là do sự đồng ý của người dân
chứ không phải do cách thức khác như truyền ngôi thế tập, bạo lực, chiến tranh…
Cách thức này đã được công nhận trên toàn thế giới. J. Locke cho rằng chính quyền
được xây dựng trên cơ sở sự bằng lòng của dân chúng, hành động của chính quyền
không được sự đồng lòng của dân chúng là không có giá trị hay không được ủy quyền
[7, tr.29]. Những chính quyền được tạo thành từ chiến tranh, nội chiến hay đảo chính
là những chính quyền không được sự đồng ý của nhân dân, do đó không có tính chính
danh, không được người dân và cộng đồng quốc tế công nhận. Sự đồng thuận của cử
tri càng lớn, càng nhiều thì chính quyền đó càng vững chắc.
- Bầu cử có nhiệm kỳ là phương thức để nhân dân lựa chọn đường lối chính trị
cho mình
Qua quá trình bầu cử, mỗi đảng phái, mỗi ứng viên sẽ có những đường lối, kế
hoạch cho riêng mình nếu trúng cử. Họ trình bày đường lối, kế hoạch này trong quá
chính quyền bằng bạo lực hay một cách gì đó không chính thống thì họ sẽ không tạo
được sự đồng thuận trong xã hội. Thông qua bầu cử, thông qua sự lựa chọn của người
dân, các đảng phái chấp nhận con đường mà nhân dân lựa chọn bằng hình thức thể
hiện ở một đảng phái, đại biểu khác. Đó chính là cách thức hợp lý để hòa hợp dân tộc,
để giải quyết mâu thuẫn, xung đột xã hội.
- Bầu cử là công cụ nhìn nhận, đánh giá về một nhà nước, một xã hội
Thông qua các cuộc bầu cử, có thể đánh giá được nhiều vấn đề của một đất
nước. Ở những nước có xung đột sắc tộc, tôn giáo, an ninh chính trị không ổn định,
khi có kết quả bầu cử, đảng phái thua cuộc có thể không chấp nhận, thậm chí dùng
bạo lực đàn áp đảng phái khác để giành chính quyền. Những nước mà kết quả bầu cử
không được chấp nhận thì đa phần bất ổn về chính trị. Còn ở những nước mà các cuộc
bầu cử đều diễn ra thành công, suôn sẻ, nhân dân, các đảng phái chấp nhận, đồng ý
với kết quả bầu cử thì thường có nền chính trị ổn định.
Trong quá trình bầu cử, các đảng phái, các ứng viên trình bày những nội dung,
kế hoạch hành động của họ khi thắng cuộc. Đó có thể là mọi mặt của đời sống xã hội
như kinh tế, chính trị, y tế, môi trường, giáo dục, khoa học công nghệ… Qua những
bản kế hoạch đó, những con đường mà các ứng viên trình bày, chúng ta có thể phần
nào phác họa về một xã hội. Các yếu tố khác cũng giúp chúng ta đánh giá về một đất
nước thông qua bầu cử như: an ninh trong quá trình diễn ra bầu cử, số cử tri trên tổng
số dân, phần trăm số cử tri đi bầu, cơ cấu thành phần trúng cử, sự chuyên nghiệp trong
cách thức tổ chức bầu cử, hệ thống bầu cử, tính minh bạch, dân chủ của bầu cử…
- Chế độ bầu cử là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cơ chế chính trị, cơ chế
hoạt động của cơ quan đại diện [7, tr.33]
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Đào Văn Bình (2011), Đề tài Kinh nghiệm tham gia tổ chức bầu cử đại biểu
Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 2016 của Mặt trận tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội, Ủy ban Mạt trận Tổ quốc
thành phố Hà Nội.
Hội đồng bầu cử quốc gia, Hà Nội.
15. Bản án chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam, Phần II (1997), Nhà xuất bản
Lao động
16. PGS, TS. Bùi Xuân Đức, Bài tham luận tại Hội thảo Thiết chế Hội đồng
Bầu cử quốc gia trong Hiến pháp và việc sửa đổi các luật về bầu cử ở Việt Nam Xác
định mối quan hệ giữa Hội đồng Bầu cử quốc gia với các cơ quan, tổ chức (Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân) trong việc tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội theo
Hiến pháp 2013, (2014).
17. GS, TS. Nguyễn Đăng Dung, Bài tham luận tại Hội thảo Thiết chế Hội
đồng Bầu cử quốc gia trong Hiến pháp và việc sửa đổi các luật về bầu cử ở Việt Nam
Hội đồng bầu cử quốc gia trong Hiến pháp và nhu cầu xây dựng Luật Tổ chức Hội
đồng bầu cử quốc gia, (2014).
18. TS. Vũ Công Giao (2013), “Cơ quan bầu cử quốc gia trên thế giới và việc
hiến định cơ quan này trong Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2003 của Việt Nam ”,Các
thiết chế hiến định độc lập, kinh nghiệm quốc tế và triển vọng ở Việt Nam, NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội, tr. 102-113.
19. TS. Vũ Công Giao, Bài tham luận tại Hội thảo Thiết chế Hội đồng Bầu cử
quốc gia trong Hiến pháp và việc sửa đổi các luật về bầu cử ở Việt Nam Bộ máy giúp
việc của cơ quan quản lý bầu cử trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam, (2014).
20. TS. Vũ Công Giao (2013), “Thiết kế bộ máy giúp việc của Hội đồng bầu cử
quốc gia theo Hiến pháp năm 2013”, Bình luận khoa học Hiến pháp nước CHXHCN
Việt Nam năm 2013, NXB Lao động - Xã hội, tr. 555-563
21. TS. Vũ Công Giao (2013), “Quản lý bầu cử trên thế giới và những gợi ý
cho Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 20 (252) tháng 10/2013.
22. TS. Vũ Đức Khiển, Bài tham luận tại Hội thảo Thiết chế Hội đồng Bầu cử
quốc gia trong Hiến pháp và việc sửa đổi các luật về bầu cử ở Việt Nam Xác định mối
quan hệ giữa Hội đồng bầu cử quốc gia với Ủy ban mặt trận Tổ quốc, Ủy ban nhân
đồng Bầu cử quốc gia trong Hiến pháp và việc sửa đổi các luật về bầu cử ở Việt Nam
Nữ đại biểu quốc hội ở Việt Nam - Hướng tới tương lai, (2014).
32. Jean Munro, Bài thuyết trình tại Hội thảo Thiết chế Hội đồng Bầu cử quốc
gia trong Hiến pháp và việc sửa đổi các luật về bầu cử ở Việt Nam Đại biểu nữ trong
Quốc hội Việt Nam: Từ đại diện đến tham gia, (2014).
33. Luie Tito F.Guia, Bài thuyết trình tại Hội thảo Thiết chế Hội đồng Bầu cử
quốc gia trong Hiến pháp và việc sửa đổi các luật về bầu cử ở Việt Nam Kinh nghiệm
quốc tế và ví dụ của Philippine, (2014).
34. Nghị quyết 1018/NQ-UBTVQH12 ngày 22/01/2011 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội khóa XII về việc công bố ngày bầu cử và thành lập Hội đồng bầu cử Quốc
hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016.
35. Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-VPCP của Văn phòng Quốc hội ngày
12/9/2014 về Luật bầu cử đại biểu Quốc hội
36. Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-VPCP của Văn phòng Quốc hội ngày
12/9/2014 về Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
37. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996), NXB Chính trị Quốc
gia, Hà Nội
38. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001), NXB Chính trị Quốc
gia, Hà Nội
39. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006), NXB Chính trị Quốc
gia, Hà Nội
40. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011), NXB Chính trị Quốc
gia, Hà Nội
41. Quốc Đạt (2007), “Cơ quan phụ trách bầu cử: Các hệ thống cơ quan bầu cử
và tác động chính trị”, Báo điện tử Đại biểu nhân dân.
http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=132&ItemId=13191&Group
Id=1025
42. Ngọc Diệp (2014), “Bảo đảm tính độc lập của Hội đồng bầu cử quốc gia”,
son lịch sử của thế chế dân chủ Việt Nam”, Báo điện tử Trường Đại học Luật thành
phố Hồ Chí Minh
http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=
article&id=348:cttctn1946-mmslsctcdcvn&catid=103:ctc20061&Itemid=109
51. Thu Phương (2011), “Số liệu tổng quát qua các thời kỳ bầu cử Quốc hội”,
Cổng thông tin điện tử tỉnh Thái Bình
http://www.thaibinh.gov.vn/ct/news/Lists/CulturalSocial/View_Detail.aspx?Ite
mId=4949
52. Hạnh Thi (2007), “Cơ quan phụ trách bầu cử: Ủy ban bầu cử cũng dễ trở
thành bên bị”, Báo điện tử Đại biểu nhân dân.
http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=132&ItemId=13182&Group
Id=1025
53. Nguyễn Phương Thảo (2014), “Một số kinh nghiệm thành lập Hội đồng bầu
cử quốc gia Việt Nam qua các mô hình cơ quan bầu cử trên thế giới”, Báo điện tử Đại
biểu nhân dân.
http://noichinh.vn/ho-so-tu-lieu/201405/mot-so-kinh-nghiem-thanh-lap-hoidong-bau-cu-quoc-gia-viet-nam-qua-cac-mo-hinh-co-quan-bau-cu-tren-the-gioi294548/
54. Minh Thi (2008), “Nghị viện Camaroon: Cơ quan phụ trách bầu cử”, Báo
điện tử Đại biểu nhân dân.
http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=132&ItemId=30054&Group
Id=1025
55. Hoài Thu (2011), “Các nguyên tắc bầu cử: Bỏ phiếu kín - đảm bảo sự
khách quan”, Báo điện tử Đại biểu nhân dân
http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=132&ItemId=208493&Grou
pId=1026
56. Nguyễn Minh Triết (2011), “Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI của Đảng của đồng chí Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (2011)”,Báo điện
tử www.tutuonghochiminh.vn
http://tutuonghochiminh.vn/study/van-kien-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thuxi.d-304.aspx