ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THẾ QUYẾT
ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ BẦU CỬ
Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THẾ QUYẾT
ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ BẦU CỬ
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS, TS. Vũ Công Giao
HÀ NỘI - 2014
kiện giúp đỡ trong suốt thời gian khóa học và thực hiện luận văn.
Xin cảm ơn các bạn đồng môn, các cơ quan, các cá nhân đã trao đổi, thảo
luận và cung cấp những thông tin, tư liệu hữu ích liên quan đến đề tài luận văn.
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình và những người bạn đã ủng hộ, động viên,
khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng
/201
Nguyễn Thế Quyết
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ, hình vẽ
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG I: Lý luận cơ bản về bầu cử và quản lý bầu cử
6
1.1
Khái niệm quản lý (tổ chức) bầu cử, cơ quan quản lý bầu cử
17
1.2.2
Vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý bầu
cử
21
1.2.3
Các nguyên tắc thiết kế cơ quan quản lý bầu cử
24
CHƯƠNG II: Tổ chức, hoạt động của cơ quan quản lý bầu cử
trên thế giới và ở Việt Nam
30
2.1
Khái quát về tổ chức, hoạt động của cơ quan quản lý bầu
cử trên thế giới
30
64
2.2.2
Tổ chức, hoạt động của cơ quan quản lý bầu cử ở Việt Nam
theo pháp luật hiện hành
74
2.2.3
Những điểm mới trong Hiến pháp 2013 về quản lý bầu cử
85
CHƯƠNG III: Quan điểm, giải pháp đổi mới cơ quan quản lý
bầu cử ở Việt Nam
88
3.1
Nhu cầu cấp thiết phải đổi mớicơ quan quản lý bầu cử ở
nước ta
88
3.2
Cơ quan quản lý bầu cử (Electional Management Bodies)
ICCPR:
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (Covenant on
Civil and Political Rights)
IDEA:
Viện quốc tế về Dân chủ và Hỗ trợ bầu cử (The International
Institute for Democracy and Electoral Assistance)
NXB:
Nhà xuất bản
UBND:
Ủy ban nhân dân
HĐND:
Hội đồng nhân dân
UBMTTQVN:
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
UBTVQH:
Bảng 3: Đặc điểm của cơ quan bầu cử theo mô hình
37
hỗn hợp
4
Bảng 4. So sánh 3 mô hình cơ quan quản lý bầu cử
38
5
Bảng 5: Tổng hợp kết quả bầu cử ĐBQH từ Khóa I đến
68
Khóa XIII
6
Bảng 6: Các tổ chức quản lý bầu cử ở Việt Nam
79
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
STT
1
Bầu cử là một chế định trọng tâm của nền dân chủ, là cách thức cơ bản,
quan trọng nhất để nhân dân thực hiện quyền làm chủ đất nước của mình. Về vấn
đề này, Liên minh Nghị viện thế giới đã khẳng định “Yếu tố then chốt của một nền
dân chủ là một chế độ bầu cử tự do và trung thực”[7, tr.20] [66].Hiến chương
Paris cho một châu Âu mới 1990 (Charter of Paris for a New Europe 1990) đã
tuyên bố “Ý chí của nhân dân thông qua bầu cử tự do, công bằng và định kỳ là nền
tảng cho một nhà nước dân chủ”[7, tr.20].Hội nghị Trung ương V khóa XI cũng đã
khẳng định về sự quan trọng và vai trò của bầu cử trong một nền dân chủ: “Tăng
cường hình thức dân chủ trực tiếp theo hướng hoàn hiện chế độ bầu cử”. [40]
Xét về hình thức, có thể thấy nước ta có một chế độ bầu cử dân chủ, tiến bộ,
bình đẳng, các cuộc bầu cử thường được tổ chức thành công, thể hiện qua các yếu
tố như: Số người có quyền bầu cử chiếm tỷ lệ cao, tỷ lệ người thực tế đi bỏ phiếu
cao (trên dưới 90%); các cuộc bầu cử được tổ chức đúng quy định, minh bạch; đại
biểu trúng cử với số phiếu cao; an ninh, trật tự trong thời gian diễn ra bầu cử được
đảm bảo…Đóng góp quan trọng vào thành công đó là các cơ quan quản lý bầu cử.
Ở nước ta, hệ thống cơ quan quản lý bầu cử bao gồm các cơ quan cả ở trung
ương và địa phương, có nhiệm vụ tổ chứccác cuộc bầu cử trong cả nước; kiểm tra,
đôn đốc việc thi hành các quy định pháp luật về bầu cử. Mặc dù trong thời gian
qua hệ thống cơ quan quản lý bầu cử đã khẳng định được vị trí và tầm quan trọng
của mình, song cũng đã bộc lộ một số tồn tại, thiếu sót trong tổ chức và hoạt động.
Vẫn còn những sự trùng chéo về nhiệm vụ, sự thiếu rõ ràng, rành mạch về thẩm
quyền, sự lúng túng trong cách thức tổ chức hoạt động bầu cử.
1
Để có một cuộc bầu cử thành công, để nhân dân lựa chọn được những người
tài giỏi, xứng đáng thay mặt mình lãnh đạo, điều hành đất nước, cần không ngừng
đổi mới, hoàn thiện chế độ bầu cử nói chung và tổ chức, hoạt động của các cơ
quan quản lý bầu cử nói riêng. Điều này càng trở lên quan trọng trong bối cảnh
hiện nay khi đất nước ta đã bước vào một giai đoạn phát triển mới sau gần 30 năm
thông tin lớn về bầu cử và quản lý bầu cử, tuy nhiên, chưa có công trình nào
nghiên cứu riêng biệt, chuyên sâu về tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý
bầu cử. Vì vậy, luận văn nàylà cần thiết,không trùng lặp với các công trình khoa
học đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận văn
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ hơn những vấn đề lý luận và đánh giá thực
tiễn tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý bầu cử ở Việt Nam, trên cơ sở
đó đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ
quan quản lý bầu cử ở nước ta trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của các cơ
quan quản lý bầu cử, phân tích cơ sở hình thành, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm
vụ, ưu điểm, nhược điểm của các mô hình cơ quan quản lý bầu cử trên thế giới.
+ Phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý bầu cử
ở Việt Nam qua các giai đoạn, chỉ ra những ưu, nhược điểm và nguyên nhân của
những ưu, nhược điểm đó.
+ Dựa trên kết quả những phân tích ở trên, đề xuất những quan điểm, giải
pháp góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý
bầu cử ở nước ta trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:Những vấn đề lý luận và thực trạngcác mô hình tổ
chức, hoạt động của các cơ quan quản lý bầu cử ở trên thế giới và ở Việt Nam,
trong đó tập trung vào những cơ quan quản lý ở Việt Nam.
3
- Phạm vi nghiên cứu:Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu tổ chức và hoạt
động của các cơ quan quản lý bầu cử, không đi sâu nghiên cứu tất cả các vấn đề về
bầu cử.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham
khảo, đề tài được cấu trúc làm ba chương gồm:
Chương 1: Lý luận cơ bản về bầu cử và quản lý bầu cử
Chương 2:Tổ chức, hoạt động của cơ quan quản lý bầu cử trên thế giới và ở
Việt Nam
Chương 3: Quan điểm, giải pháp đổi mới cơ quan quản lý bầu cử ở Việt
Nam
5
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẦU CỬ VÀ QUẢN LÝ BẦU CỬ
1.1. Bầu cử
1.1.1. Khái niệm, bản chất, vai trò của bầu cử
a.Khái niệm
Bầu cử là một chế định trọng tâm của các nhà nước dân chủ kiểu đại diện.
Có nhiều định nghĩa về bầu cử, tuy nhiên, từ góc độ khái quát, có thể hiểu bầu cử
là một quy trình chính trị -pháp lý trong đó người dân tự do bỏ phiếu lựa chọn ra
những người vào làm việc trong bộ máy nhà nước để thay mặt mình quản lý xã
hội.
Đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là nhiệm vụ cơ bản của
Hiến pháp.Hiện nay có hai hình thức cơ bản để nhân dân thực hiện quyền lực nhà
nước thuộc về mình, đó là dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp. Dân chủ trực tiếp
là cách thức người dân tự thể hiện quan điểm, ý kiến của mình trong các cuộc
trưng cầu dân ý. Dân chủ gián tiếp, hay còn được gọi là dân chủ đại diện, là việc
người dân bầu ra những người đại diện cho mình, thay mặt mình giải quyết các
công việc của đất nước. Hiện nay, hình thức dân chủ trực tiếp được áp dụng còn
khá hạn chế. [9, tr.100]
Bầu cử hiện là cách thức được hầu hết quốc gia trên thế giới sử dụng để
diện”. Phương thức nhân dân lựa chọn ra người đại diện và ủy thác quyền lực cho
người đại diện chính là bầu cử [7, tr.9].
Bản chất của bầu cử được thể hiện như sau:
- Thứ nhất, bầu cử là sự lựa chọn của nhân dân. Nhân dân chọn từ các ứng
cử viên ra người mà họ thấy rằng có năng lực, phẩm chất, chuyên môn tốt có thể
thực hiện được các hoài bão, công việc mà nhân dân mong muốn. Phổ biến hiện
nay ở các nước là bầu cử để chọn ra người vào cơ quan lập pháp. Các nước tư sản
được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân chia quyền lực, vì vậy bầu cử
không những là phương thức thành lập ra cơ quan lập pháp mà còn là phương thức
để lựa chọn các chức danh trong các nhánh quyền lực như Tổng thống, Thị trưởng
và có thể là các chức danh trong cơ quan Tư pháp. Với nước ta, bầu cử là cách
thức để hình thành nên Quốc hội, Hội đồng nhân dân địa phương. [7, tr.10-11]
7
- Thứ hai, bầu cử là sự trao quyền lực của nhân dân cho đại biểu được lựa
chọn. Nhân dân bầu ra Quốc hội, Quốc hội thay mặt cho nhân dân thực hiện quyền
lập pháp, điều đó có nghĩa là nhân dân đã trao cho Quốc hội quyền lập pháp. Nhân
dân bầu ra Tổng thống, Tổng thống thực hiện quyền hành pháp, điều đó có nghĩa
nhân dân trao cho Tổng thống quyền hành pháp. Quá trình bỏ phiếu để lựa chọn
được người đại diện cho nhân dân chính là quá trình chuyển giao quyền lực, là quá
trình trao quyền lực từ nhân dân sang người được lựa chọn. Ai, tổ chức nào được
lựa chọn thì chủ thể đó nhận quyền lực từ nhân dân. [7, tr.11-12]
Tóm lại, bầu cử là sự lựa chọn và trao quyền chính trị, là quá trình mà nhân
dân lựa chọn ra các đảng phái, các lực lượng chính trị và trao quyền cho các chủ
thể đó. Bầu cử biến ý chí của nhân dân thành “ghế” trong cơ quan đại diện. [7,
tr.14-15]
c. Vai trò của bầu cử
- Bầu cử là phương thức hợp pháp hóa chính quyền [7, tr.27].
Theo Giáo sư Nguyễn Đăng Dung, chế độ bầu cử được coi là phương thức
Đại biểu khi trúng cử cần thực hiện đương lối, kế hoạch mà họ đã trình bày
trong khi vận động tranh cử. Nếu họ không thực hiện những lời hứa đó, gây mất
lòng tin của người dân thì người dân sẽ bãi miễn họ, hoặc không bầu cho họ trong
nhiệm kỳ tiếp theo. Nếu họ là người tha hóa về đạo đức, lạm quyền thì nhân dân
sẽ thấy họ không xứng đáng với quyền lực mà họ đang được nhân dân trao cho. Vì
vậy, đại biểu nào muốn tiếp tục trúng cử trong nhiệm kỳ tiếp theo cần phải luôn cố
gắng, nỗ lực nhằm đáp ứng được yêu cầu của dân chúng, của cử tri, nếu không thì
họ sẽ bị loại ngay khỏi cuộc đua mà ở đó có rất nhiều người luôn cạnh tranh và
muốn giành chiến thắng. Cho nên, bầu cử có nhiệm kỳ chính là phương tiện để
nhân dân giám sát các đại biểu,chế ngự sự tha hóa, lạm quyền .
- Bầu cử là chìa khóa cho đồng thuận xã hội, là phương thức để giải quyết
mâu thuẫn, xung đột xã hội bằng phương pháp hòa bình [7, tr.46].
Đồng thuận là yếu tố quan trọng nhất của một quốc gia trong việc giữ gìn
hòa bình và phát triển đất nước. Nếu không có sự đồng thuận của đông đảo dân
chúng thì chế độ đó, đất nước đó không thể tồn tại lâu được, sớm muộn gì cũng bị
phá bỏ. Thông qua bầu cử, các đảng phái, các đường lối chính trị sẽ được quy tụ
lại để tạo thành một chế độ chính trị của một nước. Do thông qua bầu cử nên
đường lối đó được đa phần dân chúng ủng hộ, đồng thuận và thực thi. Không phải
9
xã hội nào cũng có sự ổn định về chính trị. Có những đảng phái, những con người
với những đường lối khác nhau, thậm chí mâu thuẫn, đối lập nhau. Nếu họ không
thông qua bầu cử mà giành chính quyền bằng bạo lực hay một cách gì đó không
chính thống thì họ sẽ không tạo được sự đồng thuận trong xã hội. Thông qua bầu
cử, thông qua sự lựa chọn của người dân, các đảng phái chấp nhận con đường mà
nhân dân lựa chọn bằng hình thức thể hiện ở một đảng phái, đại biểu khác. Đó
chính là cách thức hợp lý để hòa hợp dân tộc, để giải quyết mâu thuẫn, xung đột xã
hội.
- Bầu cử là công cụ nhìn nhận, đánh giá về một nhà nước, một xã hội
cụ điều khiển mạnh mẽ nhất của chính trị” [7, tr.33-36].
1.1.2. Các nguyên tắc bầu cử phổ biến trên thế giới
Các nguyên tắc bầu cử là yếu tố quyết định chế độ bầu cử của một nước có
tiến bộ, minh bạch và hiệu quả hay không. Theo luật nhân quyền quốc tế và quan
niệm phổ biến trên thế giới, có 5 nguyên tắc bầu cử đó là: tự do, phổ thông, bình
đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Các nguyên tắc này thống nhất và có mối quan hệ
biện chứng chặt chẽ với nhau, là yếu tố đảm bảo cho cuộc bầu cử khách quan, dân
chủ và tiến bộ.
a. Nguyên tắc bầu cử tự do
Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên lý về nguồn gốc của quyền lực nhà
nước. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, tuy nhiên nhân dân không trực tiếp
thực hiện tất cả quyền lực này mà trao một phần cho một số người thay mặt họ
thực hiện (bộ máy nhà nước) trong những khoảng thời gian nhất định (định kỳ,
nhiệm kỳ). Những người này được lựa chọn thông qua các cuộc bầu cử. Như thế,
bầu cử - hay quá trình người dân lựa chọn người để trao quyền - nhất định phải tự
do, bởi người chủ của quyền lực phải được tự do trong việc quyết định trao quyền
lực của mình cho ai.
Bầu cử tự do có nghĩa là người dân có toàn quyền quyết định đề cử, ứng cử,
bỏ phiếu bầu ra người đại diện thay mặt mình thực thi quyền lực nhà nước mà
không phải chịu bất kỳ sự áp đặt, cưỡng chế hay chi phối bất hợp pháp hay không
chính đáng nào từ bất kỳ chủ thể nào, bao gồm các nhà nước, các đảng phái chính
trị, tổ chức hay cá nhân. Tự do này chỉ có thể bị hạn chế theo luật định nhằm bảo
đảm lợi ích hợp lý, chính đáng và tương xứng của toàn xã hội, ví dụ: người chưa
thành niên, người thiểu năng trí tuệ và người bị kết tội bởi tòa án thì không có
11
quyền bầu cử, vì những đối tượng này chưa hoặc không có khả năng lựa chọn
những người xứng đáng thay mặt nhân dân quản lý xã hội.
Từ một góc độ khác, bầu cử tự do còn có nghĩa là công dân có thể quyết
Bình đẳng là nguyên tắc cơ bản trong các cuộc bầu cử tiến bộ và công bằng.
Bình đẳng là nguyên tắc được áp dụng xuyên suốt quá trình bầu cử, từ khi lập danh
sách cử tri cho đến khi xác định được kết quả bầu cử, nhằm đảm bảo cho mọi công
dân có quyền như nhau trong việc tham gia bầu cử và ngăn ngừa mọi sự phân biệt
đối xử.
Nguyên tắc bình đẳngcó tác dụng đảm bảo cho cuộc bầu cử được khách
quan, công bằng.Thể hiện của nguyên tắc này là mỗi cử tri tương ứng với một
phiếu bầu;mỗi cử tri chỉ được ghi tên bầu cử và tham gia ứng cử ở một đơn vị bầu
cử; số lượng dân như nhau thì được bầu số đại biểu bằng nhau; giá trị của các
phiếu bầu là như nhau… Nói cách khác, mỗi cử tri không những có một lá phiếu
mà lá phiếu đó cần có giá trị như nhau trong việc bầu cử. Tuy nhiên, để giá trị của
các phiếu bầu là như nhau là một vấn đề khá phức tạp, đặc biệt là đối với chế độ
bầu cử có cách tính kết quả bầu cử theo phương pháp đa số. Chẳng hạn, hai đại
biểu được bầu ở hai đơn vị có số dân khác nhau thì lá phiếu của cử tri ở đơn vị có
dân số ít hơn sẽ có giá trị hơn. [25]
Trong nguyên tắc này, bình đẳng giữa các ứng cử viên, giữa các đảng phái
chính trị cũng cần được đảm bảo. Bình đẳng giữa các ứng cử viên được thể hiện:
Không ai có thể bị hạn chế quyền ứng cử (trừ những người do pháp luật qui định),
bình đẳng trong việc vận động tranh cử, trong việc tiếp cận thông tin, trong việc
khiếu nại, tố cáo… Giữa các đảng phái chính trị cũng cần được bình đẳng, không
có đảng phái nào đươc ưu tiên hơn đảng phí nào, không có việc đảng phái này là
quan trọng hơn đảng phái khác.Ngoài ra, nguyên tắc bình đẳng còn đòi hỏi phải có
sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu để bảo đảm tiếng nói đại
diện của các vùng, miền, địa phương, các tầng lớp xã hội, các dân tộc thiểu số và
phụ nữ phải có tỷ lệ đại biểu thích đáng trong Nghị viện, Quốc hội. [7, tr.71-76]
d. Nguyên tắc bầu cử trực tiếp
Bầu cử trực tiếp là cách thức nhân dân trực tiếp bầu ra cơ quan đại diện mà
không thông qua trung gian. Trong nguyên tắc này, cử tri trực tiếp lựa chọn người
mình tín nhiệm vào cơ quan quyền lực nhà nước thông qua việc bỏ phiếu cho
13
Hoạt động bầu cử cần đảm bảo tính dân chủ và công khai, nhưng chỉ riêng
phần bỏ phiếu là kín. Nguyên tắc bỏ phiếu kín hàm ý chỉ có cử tri biết sự lựa chọn
14
của mình, sự lựa chọn đó được giữ kín, đảm bảo bí mật. Khi cử tri viết phiếu bầu
không ai được đến gần, kể cả cán bộ, nhân viên các tổ chức phụ trách bầu cử;
không ai được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri. Cử tri viết phiếu
bầu kín đáo và bỏ phiếu vào hòm phiếu. Phiếu bầu hoặc để trống để cử tri điền tên
ứng viên, đảng mà mình lựa chọn, hoặc in sẵn tên các ứng viên để cử tri đánh dấu
vào ô bên cạnh tên ứng viên mình lựa chọn. [55]
Nguyên tắc bỏ phiếu kín loại trừ sự theo dõi và kiểm soát từ bên ngoài sự
thể hiện ý chí (sự bỏ phiếu) của cử tri. Mục đích của nguyên tắc này là nhằm đảm
bảo tự do đầy đủ sự thể hiện ý chí của cử tri, để có sự khách quan trong việc lựa
chọn, bỏ phiếu. Đây là một yêu cầu khách quan của chế độ bầu cử, nhằm bảo đảm
sự lựa chọn của cử tri trở thành hiện thực, làm cho các ứng cử viên và các đảng
phái có cơ hội bình đẳng trong tuyển cử. Nguyên tắc này luôn được coi là một
nguyên tắc cơ bản của mọi cuộc tuyển cử và được thể chế hóa thông qua việc quy
định chặt chẽ các phương thức và trình tự bỏ phiếu.[55]
Bỏ phiếu kín xuất hiện từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại. Ở Pháp, nguyên tắc
bỏ phiếu kín được pháp luật bầu cử quy định từ năm 1789, Hiến pháp năm 1795 và
1848 của nước này quy định “mọi cuộc bầu cử phải bỏ phiếu kín”. Louis Napoléon
Bonaparte dự định bãi bỏ nguyên tắc bỏ phiếu kín vào năm 1851 nhưng gặp phải
sự phản đối kịch liệt nên đành thôi. Tuy nhiên, theo trang web của Quốc hội Pháp,
đến năm 1913, bỏ phiếu kín mới được áp dụng trong thực tế bầu cử một cách
thường xuyên ở nước này. Nước Anh áp dụng nguyên tắc bỏ phiếu kín cho các
cuộc bầu cử từ năm 1872; bỏ phiếu kín lần đầu tiên xuất hiện ở Úc vào năm 1856.
Ở Hoa Kỳ, hầu hết các tiểu bang chuyển sang bỏ phiếu kín sau cuộc bầu cử Tổng
thống năm 1884; còn hiện tại một số bang cho phép bỏ phiếu qua bưu điện [55]. Ở
Trung Quốc, nguyên tắc này được thể hiện với tên gọi là nguyên tắc bỏ phiếu
- Phương pháp lá phiếu khối (Block Vote - BV)
- Phương pháp lá phiếu có thể thay thế (Alternative Vote - AV)
- Phương pháp hai vòng (Two-round System - TRS)
- Phương pháp lá phiếu khối theo đảng phái chính trị (Party Block Vote PBV)
b. Hệ thống đại diện tỷ lệ (Proportional Systems)
16
Hệ thống này được áp dụng để bầu cơ quan lập pháp. Theo đó, cơ quan lập
pháp được bầu trên cơ sở các đảng phái chính trị. Các đảng phái nhận được số
“ghế” tương ứng với tỷ lệ số phiếu được bầu. Yêu cầu của hệ thống này là mỗi đơn
vị bầu cử phải bầu ít nhất hai đại biểu. Nếu số lượng đại biểu được bầu càng nhiều
thì tính cân đối, hợp lý càng cao. Hệ thống này có 2 biến thể chính [7, tr.144]:
- Hệ thống đại diện tỷ lệ theo danh sách (List Proportional Representation List PR)
- Hệ thống bầu cử lá phiếu duy nhất có thể chuyển nhượng (Singer
Transferable Vote - STV)
c.Hệ thống hỗn hợp (Mixed Systems)
Hệ thống bầu cử hỗn hợp là sự kết giữa hệ thống đa số và hệ thống đại diện
tỉ lệ. Hệ thống này có 2 biến cách là [7, tr.147]:
- Đại diện tỷ lệ hỗn hợp (Mix Member Proportional - MMP)
- Phương pháp song song (Parallel Systems - PR)
d. Một số hệ thống khác
Ngoài ra, trên thế giới còn có một số hệ thống bầu cử khác như [7, tr.149]:
- Phương pháp bầu cử lá phiếu duy nhất không chuyển nhượng (Sing Nontransferable Vote - SNTV)
- Phương pháp lá phiếu hạn chế (Limited Vote)
- Phương pháp Borda Count
1.2. Quản lý (tổ chức) bầu cử
1.2.1. Khái niệm quản lý (tổ chức) bầu cử, cơ quan quản lý bầu cử
a. Quản lý (tổ chức) bầu cử:
Quản lý bầu cử (election management) là những hoạt động, quy trình, thủ