LỜI NÓI ĐẦU
Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời và phát triển cùng
với sự phát triển của xã hội loài người.
Truyền thông có vai trò vô cùng to lớn và tác động không nhỏ ,ảnh
hưởng cả về chiều rộng và chiều sâu của nhiều lĩnh vực trong đời sống như
chính trị,kinh tế,văn hóa …
Nhận thấy thế mạnh và tác động to lớn đó rất nhiều doanh nghiệp đã và
đang tiến tới loại hình truyền thông đa phương tiện (Multimedia). Trong đó
phương pháp sử dụng truyền thông tới công chúng bằng thông điệp quảng cáo vô
cùng được chú trọng. Thông điệp quảng cáo như là linh hồn , sống của sự vận
hành nhịp nhàng trong kế hoạch truyền thông của tổ chức doanh nghiệp…
Do đó em quyết định tìm hiểu nghiên cứu và phân tích về các thông
điệp quảng cáo của các doanh nghiệp để thấy được vài trò cụ thể của quảng
cáo truyền thông cũng như những ưu thế và hạn chế còn tồn tại của quảng cáo
trong chiến lược kinh doanh.
Dù đã cố gắng tìm hiểu nhưng thời gian chưa cho phép cũng như những
hiểu biết chưa thật sự sâu rộng do vậy em xin chỉ nghiên cứu- phân tích các
thông điệp quảng cáo (slogan) tại một số nhà mạng cung cấp dịch vụ viễn
thông như Vinaphone, Mobifone, Viettel, Vietnamobile, S-fone…
Trong quá trình làm tiểu luận em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.
TS. Nguyễn Văn Dững đã hướng dẫn cụ thể, tận tình và nhiệt huyết giúp em
hoàn thành bài tập này.
Dù đã cố gắng song bài tập không thể tánh khỏi sai sót em rất mong được
sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo trong Học Viện, Ban chủ nhiệm
khoa,các bạn đóng góp ý kiến và giúp đỡ để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội,Tháng 1-2013
1
Như vậy ta cũng có thể hiểu truyền thông là quá trình làm giảm dần sự
khác biệt, giảm dần độ không rõ ràng. Truyền thông là liên tục Giảm độ
không rõ ràng Ứng xử vói nhau hiệu quả hơn.
Dưới góc độ cấu trúc, Bess Sodel cho rằng, truyền thông là một quá
trình chuyển đổi từ một tình huống đã có cấu trúc như một tổng thể sang một
tình huống khác theo một thiết kế có chủ đích.
Ngoài ra còn có rất nhiều định nghĩa về truyền thông. Mỗi định nghĩa
quan niệm lại chỉ ra những khía cạnh riêng và có những nét hợp lý riêng tuy
nhiên nhìn chung những quan niệm định nghĩa này đều có những nét tương
đồng rất cơ bản về truyền thông.
Truyền thông theo tiếng Latinh là “communicare” nghĩa là biến nó
thành thông thường, chia sẽ, truyền tải. Truyền thông theo tiếng Anh là
“communication” nghĩa là tuyên truyền, chia sẽ, sự trao đổi, biến nó thành cái
chung. Truyền thông thường được mô tả như công việc truyền ý nghĩ, thông
tin, ý tưởng hoặc kiến thức từ một người/một nhóm người sang một
người/nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh hoặc tín hiệu.
Về thực chất đó là quá tình trao đổi, tương tác thông tinvới nhau về bất kỳ
vấn đề nào của đời sống xã hội/tổ chức/nhóm/cá nhân… từ đó tăng vốn hiểu biết
chung hình thành hoặc thay đổi nhận thức hành vi của mình với vấn đề đó.
Từ các quan điểm trên ta có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất về
truyền thông như sau: “ Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin,
tư tưởng, tình cảm…, chia sẽ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều
người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều
chỉnhhành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá
nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội.”
2. Khái niệm truyền thông đại chúng
Cũng giống như truyền thông, truyền thông đại chúng là một hiện tượng
xã hội ngày càng chi phối sâu sắc và toàn diện đến mọi tiến trình vàlĩnh vực
Điện ảnh
v.v…
( Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững- Lý thuyết truyền thông-Nxb Chính
trị quốc gia-sự thật, 2011)
4
Trong khái niệm nêu trên có thể thấy vai trò quan trọng trung tâm của
nền tảng báo chí của các phương tiện truyền thông đại chúng. Báo chí có vai
trò chi phối, quyết định sức mạnh, tính chất và khuynh hướng của truyền
thông đại chúng. Cho nên trong nhiều trường hợp người ta dùng thuật ngữ
báo chí để chỉ các phương tiện truyền thông đại chúng; mặt khác nói đến các
phương tiện truyền thông đại chúng, trước hết là nói đến báo chí.
3. Giới thiệu các kênh truyền thông đại chúng
Các phương tiện hay các kênh truyền thông chính hay được sử dụng để
tăng hiệu quả truyền thông.
-
Sách
+) Sách phổ thông dùng để cung cấp tri thức và kinh nghiệm phổ thông
cho đối tượng là đông đảo nhân dân…
+) Sách công cụ dùng để tra cứu như các loại từ điển, sách thông tin, dữ
liệu thống kê, sách bản đồ, địa lý…
+) Sách chuyên khảo dùng để công bố các công trìnhnghiên cứu khoa
học theo lĩnh vực đề tài hẹp, chuyên sâu, chủ yếu phục vụ các nhà nghiên cứu.
+) Sách chính trị chủ yếu để đăng tải hoặc bình luận, giải thích các văn
kiện của các Đảng phái chính trị, của các tổ chức nhà nước nhằm tuyên truyền
các chủ trương, chính sách, luật pháp.
+) Sách giáo khoa, giáo trình phục vụ học tập, giảng dạy trong các
-
giác như đang trực tiếp, tiếp xúc và cảm thụ.
Quảng cáo
Quảng cáo là trình bày để giới thiệu rộng rãi cho nhiều người biết, nhằm
tranh thủ được nhiều khách hàng. (theo Từ điển tiếng Việt-Nxb Khoa học và
-
xã hội, năm 1992)
Điện ảnh
Điện ảnh là phương tiện truyền thông tác động đồng thời vào thính giác
và thị giác, cũng như truyền hình công chúng vừa nghe được hệ thống âm
thanh vừa thấy được hệ thống hình ảnh sống động. Điện ảnh được coi là nghệ
thuật thứ bảy. Đó là nghệ thuật sử dụng, khai thác thế giới âm thanh, hình
ảnh động được ghi lại trên phim nhựa,trên bang từ, đĩa CD hay kỹ thuật số,
được trình chiếu lên màn ảnh rộng hoặc màn hình nhỏ…nhằm tạo cho công
-
chúng cảm giác như được chứng kiến cuộc sống thực diễn ra.
Internet
Internet (Intelnational Network) là mạng thông tin toàn cầu, được hình
thành trên cơ sở kết nối các máy tính, các website, các trang thông tin điện tử
trên khắp hành tinh. Internet được coi là cuộc bùng nổ truyền thông lần thứ
-
ba, mở ra một kỷ nguyên mới trong truyền thông và phát triển của loài người
qua các phương tiện thông tin đại chúng nhằm thuyết phục ảnh hưởng đến
hành vi của đối tượng nào đó”
Quảng cáo theo tiếng Anh là Advertise có nghĩa là chú ý, dẫn dụ, lôi
cuốn. Theo tiếng Pháp quảng cáo là Reclame có nghĩa là rao gọi. Theo gốc
Hán-Việt quảng nghĩa là rộng rãi, cáo là thông báo cho mọi người biết, quảng
cáo nói rộng ra là nói rộng cho nhiều người cùng biết.
Theo từ điển của nhà xuất bản Thượng Hải, Trung Quốc-1980 “ Quảng
cáo là một loại phương thức tuyên truyền đến mọi người về sản phẩm, mạt
hàng, nội dung dịch vụ hoặc chương trình văn nghệ…Nó được thực hiện
7
thông qua các hình thức như: báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình, áp
phích, phim ảnh, đèn chiếu, quầy tủ trưng bày, triển lãm sản phẩm,…”
Theo từ điển tiếng Việt- Nxb Khoa học xã hội-1992 thì “ Quảng cáo là
trình bày để giới thiệu rộng rãi cho nhiều người biết, nhằm tranh thủ được
nhiều khách hàng”
Như vậy tiếp cận từ các góc độ truyền thông và thương mại khác nhau sẽ
có những định nghĩa khác nhau về quảng cáo. Nhưng từ góc độ nào thì quảng
cáo là một dạng thông tin kinh tế đặc thù, nói tốt cho sản phẩm hàng hóa, dịch
vụ nhằm mở rộng những người mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ để đẩy nhanh
tốc độ tiêu thụ hàng hóa.
Theo Robert Leduc “Quảng cáo là tất cả những phương tiện truyền
thông và thuyết phục một món hàng hay một dịch vụ.
Vậy ta cũng có thể hiểu rằng quảng cáo là hình thức thông tin tuyên
truyền được trả tiền để thực hiện nhiệm vụ giới thiệu thông tin về sản phẩm
dịch vụ của công ty hay ý tưởng , quảng cáo là hoạt động truyền thông phi
trực tiếp- một loại hình truyền thông đại chúng –một loại hình truyền thông
giữa người với nguòi mà trong đó người truyền thông phải trả tiền cho các
hàng, tiêu thụ được sản phẩm/ cung cấp được dịch vụ/ quảng bá được sự kiện.
Thông điệp quảng cáo là một lát cắt tiêu biểu nhất của quá trình quảng
cáo. Thông điệp quảng cáo một phần nào đem lại cho khách hàng những hiểu
biết nhất định và những đặc trưng riêng của sản phẩm. Có thể bạn chưa hề
biết đó là cái gì trước đó nhưng sau khi nghe xong thông điệp quảng cáo thì ít
nhất nó cũng cung cấp cho người ta những thông tin cần thiết nhất và sự thu
hút có thể dẫn đến sự thay đổi hành vi nhận thức. Ví dụ bạn nghe thông điệp
quảng cáo “OMO-đánh bật 99 vết bẩn cứng đầu” thì người ta sẽ hình dung ra
ngay đó là một loại bột giặt có những tính năng nổi trội có thể làm sạch được
mọi vết bẩn trên quần áo, ví dụ khi nghe thông điệp quảng cáo “ Comfor một
lần xã” ta sẽ hình dung ra ngay đây là một loại nước xã quần áo chỉ cần sau
một lần nước.
Thông điệp quảng cáo chính là cách để mà các nhà sản suất thu hút
khách hàng ban đầu nhanh nhất đến với các sản phẩm của mình.
9
Ta có thể nhận diện một thông điệp quảng cáo thông qua hình ảnh, âm
thanh, ngôn từ hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó. Cái làm nên tư cách của
một thông điệp quảng cáo qua:
-
Thông điệp quảng cáo = Cái tên
Cái tên là cái có thể chỉ ra nơi bán hàng /dịch vụ hay sự kiện.
-
Thông điệp quảng cáo = Tên + logo
Thông điệp quảng cáo = Tên + logo +slogan
Thông điệp quảng cáo bằng các hình thức này sử dụng các phương tiện
họa sĩ thiết kế, của tác giả kịch bản, của đạo diễn quay phim… chỉ tập trung vào
làm nổi bật thuộc tính nào đó, phẩm chất nào đó trên một diện tích báo rất hẹp
hoặc một thời lượng rất ngắn trên truyền hình. Việc nhấn mạnh đến mức cường
điệu hóa, tuyệt đối hóa nhằm đem lại sự hoàn hảo của sản phẩm/ dịch vụ… trên
mặt nào đó nhiều khi làm cho người tiếp nhận bị choáng ngợp, ngỡ ngàng và
cũng rất có thể điều này mang lại hiệu quả không tốt cho quảng cáo.
Thông điệp quảng cáo luôn thể hiện rõ quyền lợivà tiện ích của người
tiếp nhận nếu họ trở thành khách hàng thực tế. Ví dụ trong một chương trình
khuyến mại hòa mạng mới áp dụng cho các thuê bao trả sau của Vinaphone
có thông điệp là “ Hòa mạng nhanh tay có ngay điện thoại” rõ ràng là với
thông điệp này thì nếu người tiếp nhận là khách hàng tham gia vào chương
trình của nhà mạng thì có cơ hội nhận được quà tặng từ nhà cung cấp. Thông
điệp này đã đánh vào chính quyền lợi của khách hàng. Hay thông điệp quảng
cáo của Honda hãng sản xuất môtô trong một chương trình là “Trước bạ trao
tay rinh ngay Air Blade” rõ ràng là nhà sản suất đã đánh trực tiếp vào quyền
lợi của khách hàng để kích thích người tiêu dùng. Tuy nhiên những lợi ích và
tiện dụng của sản phẩm còn phụ thuộc nhiều ở chất lượng sản phẩm/dịch vụ
là chính. Trên thực tế những phẩm chất cụ thể của sản phẩm, dịch vụ của
quảng cáo cách xa giá trị phẩm chất thực sự của nó, thậm chí cách xa so vói
những lời rao mời trên quảng cáo. Đây là những điều mà công chúng đã biết
trước về sự phóng đại của thông điệp quảng cáo. Ví dụ thông điệp quảng cáo
của một hãng sơn là Sơn Phương Nam-Sơn đẹp bốn mùa hay Sơn Alex- Sơn
đâu cũng đẹp nhưng thực tế thì không phải như vậy vì ta thừa biết không phải
như thế vì không phải mùa nào cũng có thể sử dụng sơn hoặc chất lượng sử
dụng bị ảnh hưởng bởi thời tiết mùa đông khác mà mùa hè khác, chế độ hay
11
chất liệu của tường nhà xây cũng ảnh hưởng tới chất lượng sơn, đó chính là
sự khuếch đại của thông điệp quảng cáo, hay quảng cáo của OMO là OMOđánh bật 99 vết bẩn cứng đầu nhưng thực chất thì có những vết bẩn mà bột
Quảng cáo như một phần không thể thiếu trong chiến lược của nhà
truyền thông đặc biệt là trong các chiến dịch đưa ra chính sách/ dịch vụ/ sản
phẩm mới tới công chúng bởi vì vai trò cũng như tác dụng hay hiệu quả mà
quảng cáo mang lại là vô cùng to lớn. Đặc biệt nó có thể tăng theo cấp số
nhân nếu như quảng cáo được truyền miệng từ người này sang người kia. Ví
dụ một người khách uống nước tại một quán nước hỏi bà chủ quán là bà có
biết loại nước nào mới không? Bà chủ khi đó có thể giới thiệu tới người
khách luôn là anh có thể uống trà thảo mộc Dr. Thanh- thanh nhiệt giải độc.
Ví dụ cứ như thế thì khi giới thiệu với ai đó loại nước uống nào thì anh ta sẽ
giới thiệu loại nước uống mà anh ta biết…như vậy nhờ thông điệp quảng cáo
hay cùng với chất lượng sản phẩm thì sản phẩm rất dễ được tiêu thụ bởi khách
hàng…đặc biệt theo nghiên cứu cho thấy khi quảng cáo thì đối tượng trẻ em
rất thích các loại quảng cáo và ngay lập tức chúng nói với người lớn (có thể là
bố, mẹ, anh, chị) sở thích của nó. Ví dụ một đứa trẻ thấy quảng cáo sữa trên
truyền hình Sữa ZinZin- Bay cao nào, nhảy cao nào, nhảy cùng ZinZin có 10
đứa trẻ thì có đến 7 đứa nhảy theo quảng cáo đó(theo thống kê về sự yêu thích
sữa ZinZin của công ty sữa ZinZin Việt Nam) và tất nhiên khi được yêu cầu
thì phụ huynh thường chiều theo yêu cầu của bé.
Ở Việt Nam quảng cáo cũng xuất hiện từ rất sớm từ những lời rao bán
hàng rong, qua những tiéng mõ làng, qua các câu hò điệu lý và qua những lòi
hát ru lan tỏa trên dân gian: “ Chẳng đi nhớ cháo làn Ghề, nhớ cơm phố Mía,
nhớ chè Đồng Viên” hay “Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước
mắm Vạn Vân,cá rô Đầm Sét” (Theo PGS.TS Nguyễn Tiến Dững- Lý thuyết
truyền thông-NXb Chính trị quốc gia, sự thật-Hà Nội 2011)
Trên chuyến tàu Bắc-Nam khi đưa mọi người trên mọi miền đất nước
qua lại trong giờ nghỉ trưa cũng có những lời rao vặt quảng cáo rất hay ví dụ
13
may nhân khắp” hay hãng bia Halida là “ Mừng gặp mặt, trăm phần trăm” rõ
ràng là những thông điệp như thế này chỉ tồn tại trong một thời gian cụ thể và
nhất định. Chính vì thế mà trong mỗi chiến dịch truyền thông khác nhau thì
quảng cáo và các thông điệp cũng cần phải có sự thay đổi nhất định để đem
lại hiệu quả cao nhất trong truyền thông.
5. Phân tích thông điệp quảng cáo cụ thể
Thông điệp quảng cáo của các nhà truyền thông là một phần không thể
thiếu trong toàn bộ kế hoạch truyền thông. Thông điệp quảng cáo xuất hiện ở
gần như tất cả các lĩnh vực của kinh doanh. Và để thực hiện được đúng kế
hoạch được đề ra đòi hỏi các nhà truyền thông phải cho ra các thông điệp
quảng cáo hay nhất làm sao cho có thể thu hút được nhiều khách hàng nhất và
sự quan tâm chú ý của công chúng nhất và để kế hoạch bán hàng đạt doanh
thu cao nhất, kế hoạch truyền thông đạt hiệu quả nhất.
Và sau khi đã nghiên cứu công chúng cũng như thị trường các nhà mạng
viễn thông ở Việt Nam đã sản xuất ra được các thông điệp quảng cáo có thể
nói là tương đối hay và hấp dẫn.
Thông điệp quảng cáo của nhà mạng Vinaphone một trong những nhà mạng
viễn thông lớn nhất Việt Nam. Vinanphone là tập đoàn viễn thông quốc gia.
Thông điệp quảng cáo chính thức (slogan) của Vinaphone bằng tiếng
Việt là:
“Không ngừng vươn xa”.
Bằng tiếng Anh là “ Constanly reach out”
Đây là một slogan hết sức có ý nghĩa về mặt lâu dài cũng như là trong
suốt kế hoạch truyền thông dài hơi của tập đoàn. “ Không ngừng vươn xa”
cũng chính là tâm tư, vọng và mục tiêu làm việc của tập đoàn. Slogan thể hiện
được sức sống và sự vươn lên cũng như là sự nỗ lực của Vinaphone. Thông
điệp cho thấy được sự mong muốn và khát vọng của tập đoàn. Slogan “
Không ngừng vươn xa” được đặt ngay dưới logo mạng của Vinaphone trên
chính là thông điệp quảng cáo của mạng viễn thông di động Viettel.
16
Thông điệp quảng cáo bằng Tiếng Việt của Viettel là : “ Hãy nói theo
cách của bạn”
Thông điệp quảng cáo bằng tiếng Anh của Viettel là : “ Say your it way”
Thông điệp quảng cáo của Viettel ngay lập tức được công chúng tiếp
nhận như một sự thành công tuyệt vời của thông điệp. “Hãy nói theo cách của
bạn” vừa là triết lý Đông-Tây lời nói con người. Đó là sức mạnh, hơn thế nữa
thông điệp quảng cáo của tập đoàn viễn thông quân đội còn thể hiện được tính
dân chủ, trao quyền được thể hiện mình qua lời nói của khách hàng. Thông
điệp quảng cáo của Viettel còn thể hiện sự biết lắng nghe, chú ý tới lời nói
điều này thể hiện sự được tương tác với nhau. Người nói- người nghe, đó còn
là sự bày tỏ tình cảm, bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình và dường như là lời
nói của mình được tôn trọng hơn.
Slogan “ Hãy nói theo cách của bạn” được đặt trong dấu ngoặc kép bao
bọc lấy với ý nghĩa là lời nói luôn được tôn trọng, được lắng nghe với một
thái độ tích cực và luôn là sự quan tâm hàng đầu. Khi mà trong những năm
đầu của thế kỷ 21 việc sử dụng điện thoại di động và cách tính cước viễn
thông tương đối đắt, không phải ai cũng có điều kiện sử dụng do đó thông
điệp quảng cáo của Viettel đã đưa đến vói đông đảo công chúng ở tầng lớp
trung lưu, đáp ứng được nhu cầu được nói, được nghe, được sử dụng thiết bị
di động của khách hàng… Slogan bằng tiếng Anh của Viettel còn ấn tượng
hơn thế nữa “ Say your it way” với thông điệp này dịch sang tiếng Việt còn
có thể hiểu theo nhiều cách khác nữa có thể là “ Nói theo con đường của
bạn” , “ Nói theo quan điểm của bạn” và nhiều cách cắt nghĩa khác…
Thông điệp quảng cáo của Viettel gồm có 2 dấu nháy ôm lấy thương
hiệu Viettel và slogan “Hãy nói theo cách của bạn” ở dưới với sự kết hợp của
xanh của chữ “i” và slogan “ mọi lúc- mọi nơi” đã tạo nên một sự kết hợp ăn
ý cho thấy được sự năng động và nhiệt huyết, sự tận tình và chu đáo được thể
hiện qua hai gam màu đỏ và xanh. Sự kết hợp của hai màu cũng là để thể hiện
được sự trao chuyển, chuyển giao, kế thừa để đưa đến những điều tốt đẹp nhất
và may mắn nhất đến với khách hàng. Thông điệp quảng cáo của Mobifone
đã thu hút một số lượng đông đảo bạn trẻ tham gia và sử dụng dịch vụ của
18
Mobifone. Rõ ràng là thông điệp đã tạo nên một kết quả không hề nhỏ trong
kế hoạch bán hàng và phát triển mạng của tập đoàn.
Ba thông điệp quảng cáo trên là ba thông điệp quảng cáo gây ấn tượng
nhất của các nhà mạng di động tại Việt Nam. Đó là những thông điệp đích
được hướng tới trong toàn bộ chiến dịch truyền thông vì thế mà các thông
điệp được xây dựng được sức sống của mình trong nhiều năm liền, mà bằng
chứng cụ thể nhất đó là số lượng thuê bao của các mạng nà liên tục phát triển
trên thị trường Việt Nam với số lượng tăng nhanh.
Điểm qua một số nhà mạng viễn thông ở Việt Nam như Vietnamobile
với thông điệp là: “Mạng di động mới, trào lưu mới”. thông điệp bằng tiếng
Anh là : “New mobile network, new trends” kết hợp với logo là hình chữ VM
bằng màu chủ đạo là màu vàng và có màu xanh nhạt ở phần tên nhà mạng
cũng đã tạo nên những làn song sử dụng mạng di đông này ở nước ta. Mặc dù
là nhà viễn thông đi sau so với các thế hệ “ đàn anh” đi trước nhưng
Vietnamobile đã đem đến một trào lưu sử dụng mạng di động này vô cùng lớn
với tốc độ phát triển thuê bao khá nhanh. Mạng di động Vietnamobile được
sử dụng chủ yếu bởi các bạn học sinh, sinh viên là chính. Đối tượng là người
đi làm rất ít sử dụng mạng này. Một mạng di động nữa ở Việt Nam đó là tập
đoàn viễn thông Miền Tây (Western telecom) với mạng di động S-fone với
thông điệp quảng cáo : “ Nghe là thấy” thông điệp bằng tiếng Anh là “ Sound
is see” với mục đích là giới thiệu chất lượng dịch vụ âm thanh nghe được nét
diễn ra như đúng kế hoạch hay dự tính hay không.
Để thực hiện tốt công việc giám sát này nhà quản lý truyền thông cần
nắm vững những nguồn lực và cách phân chia nguồn lực sao cho thật hợp lý
trong chương trình, kế hoạch truyền thông của mình. Sau đó người thực hiện
công việc giám sát cần đối chiếu kế hoạch dự định với thực tế xem thế nào, có
phù hợp hay không? Có đạt tiến độ hay không? Khối lượng công việc và sự
hoàn thành công việc đến đâu?... Nếu có sự sai lệch thì phải tìm ra nguyên
20
nhân của sự sai sót đó để tìm cách giải quyết. Tiếp đến là phải thực hiện việc
điều chỉnh tình hình thực tế để có thể đạt được kết quả mong muốn như trong
kế hoạch. Hoặc cũng có thể nhà truyền thông phải điều chỉnh kế hoạch sao
cho phù hợp nhất với tình hình thực tế đặt ra.
Các nhóm giám sát đươcj chia thành ba nhóm nội dung chính như sau:
- Giám sát tiến độ: việc thực hiện kế hoạch trong thực tế là nhanh hơn,
đúng hay chậm hơn so với tiến độ đã nêu ra trong kế hoạch truyền
thông ; nhanh hay chậm hơn là do đâu?
- Giám sát các điều kiện để thực hiện kế hoạch: gồm các điều kiện như
tài chính, nhân lực, trang thiết bị, thời gian…
- Giám sát kết quả các hoạt động so với mục tiêu : các kết quả thực hiện
đã được phần nào so với mục tiêu truyền thông, tìm ra các điểm khác
biệt.
Các bước giám sát bao gồm năm bước:
-
Lập kế hoạch giám sát.
Thu thập thông tin, số liệu cần thiết.
Phân tích và diễn giải các kết quả- đối chiếu và xử lý số liệu.
Phản hồi, báo cáo.
Đánh giá tác động: không chỉ tập trung vào tác động ngắn hạn của chương
trình mà còn phải có liên hệ với các mục tiêu mà còn bao gồm cả những ảnh
-
hưởng bất ngờ.
Đánh giá kết quả: xác định kết quả dài kỳ của chương trình/dự án/kế
hoạch/hoạt đông truyền thông. Những kết quả này liên quan chặt chẽ vói các
-
mục tiêu của kế hoạch truyền thông.
Đánh giá kinh tế : thẩm định lại toàn bộ chi phí của chương trình/dự án/kế
hoạch/ hoạt động truyền thông trên cơ sở các kết quả thu được. Các chi phí
được đánh giá trên các phương diện các cơ hội đã qua và những hậu quả tiêu
cực cũng như những lợi ích dưới dạng cơ hội được tích lũy.
Hoạt động đánh giá sẽ có lợi từ những điều kiện tiên quyết như :
-
Văn hóa dịch vụ khuyến khích, hợp lý hóa và ủng hộ các hoạt động đánh giá.
Các cơ cấu và quá trình hình thành đánh giá.
Các cá nhân có kỹ năng và hiểu biết về đánh giá và có nhận thức về bối cảnh
dịch vụ.
Các chỉ số đánh giá:
Các chỉ số đánh giá là những điểm xác định cho các đánh giá về định
lượng và định tính, từ đó có thể xây dựng các thang đo về sự thay đổi nhận
thức, thái độ, hành vi của các chương trình/dự án/chiến dịch/hoạt động truyền
thông. Việc xây dựng các chỉ số đánh giá , vì thế , có ý nghĩa rất quan trọng
trong khi thực hiện tiến trình đánh giá.
gia-sự thật – Hà Nội, 2012.
PGS. TS. Nguyễn Văn Dững – Cơ sở lý luận báo chí – Nxb Lao Động – Hà
6.
Nội, 2012.
Tạ Ngọc Ái – Giao tiếp thông minh và tài ứng xử - Nxb Từ điển Bách Khoa –
Hà Nội, 2010.
23
7.
8.
Từ điển Tiếng Việt – Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992.
Từ điển Thượng Hải Trung Quốc, Thượng Hải, 1980.
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Internet
Giaoduc.vn