HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
NGUYN TH HU
THÔNG TIN CHíNH TRị - Xã HộI VớI VIệC
RA QUYếT ĐịNH CủA ĐộI NGũ CáN Bộ CHủ CHốT
CấP CƠ Sở VùNG ĐồNG BằNG SÔNG HồNG HIệN NAY
Chuyờn ngnh
: CNDVBC & CNDVLS
Mó s
: 62 22 80 05
LUN N TIN S TRIT HC
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS TRN VN PHềNG
H NI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa
học của riêng tôi. Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong
luận án là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng.
Những kết quả khoa học của luận án chưa được công bố
trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả luận án
CƠ SỞ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG - THỰC TRẠNG
VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
3.1. Thực trạng môi trường thông tin chính trị - xã hội vùng Đồng
bằng sông Hồng
3.2. Thực trạng phát huy vai trò thông tin chính trị - xã hội đối với
việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vùng
Đồng bằng sông Hồng hiện nay
3.3. Một số vấn đề đặt ra từ hiện trạng môi trường thông tin và thực
trạng phát huy thông tin chính trị - xã hội đối với việc ra quyết
định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vùng Đồng bằng sông
Hồng hiện nay
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT HUY
VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRONG
VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ
CHỐT CẤP CƠ SỞ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
HIỆN NAY
4.1. Một số phương hướng cần thực hiện trong việc phát huy vai trò của
thông tin chính trị - xã hội đối với việc ra quyết định của đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp cơ sở vùng Đồng bằng sông Hồng hiện nay
4.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy có hiệu quả vai trò của
thông tin chính trị - xã hội với việc ra quyết định của đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp cơ sở vùng Đồng bằng sông Hồng hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
6
CCHC
:
Cải cách hành chính
CMTT
:
Cách mạng thông tin
CNTT
:
Công nghệ thông tin
CNH, HĐH
:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH
:
Chủ nghĩa xã hội
UBND
:
Ủy ban nhân dân
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1: Phân bổ thuê bao Internet băng rộng theo vùng miền năm 2008
79
Biểu đồ 3.2: Mật độ sử dụng Internet theo vùng, miền năm 2008
80
Biểu đồ 3.3: Điểm tổng hợp trục nội dung 1: Tham gia của người dân
ở cấp cơ sở (2013)
Biểu đồ 3.4: Điểm tổng hợp Trục nội dung 2: Công khai, minh bạch (2013)
90
91
kinh tế học, chính trị học.... Dù vậy, thực tế cho thấy, chúng ta có rất ít kinh
nghiệm và thành quả của các nhà khoa học đi trước để lại. Vấn đề này đã tạo
nên tính cấp thiết và tính hấp dẫn của việc nghiên cứu. Trong khi đó, xã hội
càng phát triển, tác động của thông tin càng lớn. Ở mỗi lĩnh vực hoạt động
thực tiễn khác nhau chúng ta sẽ chịu sự tác động chủ yếu của một loại hình
thông tin nhất định. Đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ CBCC
các cấp nói chung và cấp cơ sở nói riêng, bên cạnh việc chịu sự tác động của
các loại hình thông tin khác, thì loại hình thông tin chính trị - xã hội luôn
đóng vai trò quan trọng. Điều này, được thể hiện trực tiếp trong việc ra quyết
định - khâu quan trọng nhất trong chu trình hoạt động lãnh đạo, quản lý của
đội ngũ CBCC cấp cơ sở. Hiệu quả hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ
CBCC cấp cơ sở phụ thuộc nhiều vào chất lượng ra quyết định. Trong đó,
thông tin chính trị - xã hội vừa là căn cứ, vừa là một phần nội dung của quyết
2
định mà thiếu nó CBCC sẽ không đủ điều kiện để ra quyết định đúng, sát thực
với chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cũng
như không thể đưa ra phương án giải quyết triệt để các mâu thuẫn sự việc
phát sinh ở cơ sở.
Đồng bằng sông Hồng có vị trí chiến lược quan trọng đối với sự phát
triển của cả nước. Điều này, đòi hỏi sự cần thiết phải nâng cao chất lượng các
quyết định của đội ngũ CBCC cấp cơ sở vùng ĐBSH. Một trong những chìa
khóa dẫn đến hiệu quả các quyết định đó là việc sử dụng tính hiệu dụng của
loại hình thông tin chính trị - xã hội trong việc ra quyết định của đội ngũ này.
Vì, thông tin chính trị - xã hội sẽ là cơ sở, điều kiện cần thiết để tiến hành
quản lý xã hội; tùy theo chất lượng nó có thể đẩy nhanh hoặc làm chậm tốc độ
phát triển của hệ thống xã hội và cuối cùng quyết định sự thành công hay thất
bại của cả quá trình quản lý xã hội. Với ý nghĩa đó, thông tin chính trị - xã hội
giúp cho đội ngũ CBCC cấp cơ sở ra được quyết định có tính khả thi cao,
Dưới góc độ tiếp cận triết học, luận án phân tích làm rõ những vấn đề lý
luận và thực tiễn phát huy vai trò của thông tin chính trị - xã hội trong việc ra
quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đồng bằng sông Hồng, từ đó,
đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm phát huy có hiệu quả vai trò
thông tin chính trị - xã hội trong việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ này.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, luận án cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm rõ bản chất, đặc điểm, vai trò, tầm quan trọng của thông tin
chính trị - xã hội trong việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở.
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng phát huy vai trò thông tin chính
trị - xã hội trong việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay.
Thứ ba, đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát
huy có hiệu quả vai trò thông tin chính trị - xã hội trong việc ra quyết định của
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay.
4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu thông tin chính trị
- xã hội trong việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Việt
Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu thông tin chính trị - xã hội và
vai trò của nó trong việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
vùng đồng bằng Sông Hồng, gồm có 10 tỉnh: Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nội, Hà
Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình (chủ
yếu là trưởng, phó các chức danh).
Mốc thời gian để tiến hành khảo sát là bắt đầu từ năm 2001 cho đến
nay (Kể từ khi nước ta thực hiện đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà
nước; thực hiện quyết định 136/2001 của Thủ tướng Chính phủ về cải cách
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận, luận án góp phần xác định và luận giải vai trò của thông
tin chính trị - xã hội đối với việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp cơ sở.
Về mặt thực tiễn, trong chừng mực nhất định, luận án có thể được dùng
làm tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên cứu khoa học và hoạt động thực
tiễn của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
nội dung của luận án bao gồm 4 chương, 10 tiết.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Vấn đề phát huy vai trò của thông tin chính trị - xã hội đối với việc ra
quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đang là vấn đề bức xúc
trong hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay. Đảng và Nhà nước ta đã có
những thay đổi cả về văn bản lẫn phương án hoạt động thực tiễn ở cơ sở để
tạo ra sự phát triển trong hệ thống chính trị đồng bộ, hiệu quả từ cơ sở đến
trung ương. Tuy nhiên, việc làm trên chưa được đầu tư và quan tâm thích
đáng. Liên quan đến nội dung đề tài có các công trình nghiên cứu theo các
hướng sau:
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐỀ CẬP ĐẾN THÔNG TIN, THÔNG TIN
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI, VAI TRÒ THÔNG TIN, RA QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÝ
1.1.1. Nhóm các công trình dưới góc độ là cơ sở lý luận, phương pháp
nghiên cứu chuyên nghành
Công trình liên quan đến thông tin của các tác giả nước ngoài, luận án
chủ thể. Tuy nhiên, quan niệm thông tin mang tính giai cấp cần được cân nhắc
xem xét thêm.
A.L.Levin, với bài viết “Phát triển bền vững và xã hội thông tin, xu
thế, vấn đề, mâu thuẫn” [70]. Trong bài viết này, tác giả bàn sâu về mối quan
hệ của phát triển bền vững và xã hội thông tin trong nền văn minh đương đại.
Tác giả cho rằng, hai trạng thái này của xã hội có những khía cạnh khác nhau:
đặc trưng xã hội thông tin là sự tương tác hệ thống các mối quan hệ qua lại
“con người - kỹ thuật” và “con người - con người”; phát triển bền vững đang
hình thành các mối quan hệ trong hệ thống “con người - giới tự nhiên” hay
“xã hội - giới tự nhiên”. Xã hội thông tin và phát triển bền vững có liên hệ
gắn bó, rằng buộc nhau, trong đó xã hội thông tin là cái chiếm vị trí có ý
nghĩa quy định trong hệ thống “con người - giới tự nhiên”, còn phát triển bền
vững phụ thuộc trực tiếp vào nó. Theo tác giả, việc phải tìm được sự cân bằng
tự nhiên giữa nhu cầu vận hành của môi trường xung quanh và nhu cầu vật
8
chất có xu hướng gia tăng của con người là một mục tiêu của phát triển bền
vững. Bởi vì, trên thực tế, sự phát triển tự phát theo cơ chế thị trường của quá
trình tin học hóa trên thế giới, không thể hạn chế được nhu cầu của con người
về tài nguyên vật chất, do đó trong xã hội thông tin, cộng đồng thế giới vẫn
đang đối mặt với vấn đề cũ là thảm họa sinh thái. Bằng những phân tích lý
luận và luận chứng thực tiễn sâu sắc, tác giả cho chúng ta thấy, sự tiến bộ của
khoa học công nghệ thông tin là điều kiện quan trọng cho xã hội phát triển
trong xã hội hiện đại, song nó cũng kéo theo những biến đổi xã hội dưới nhiều
hình thức khác nhau. Điều này, cung cấp cho chúng ta cách nhìn mới về sự
tác động của thông tin trong quản lý xã hội hiện đại và vai trò chủ thể quyết
định đối với sự phát triển của xã hội.
Cùng với hướng nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới, các nhà
khoa học trong nước cũng bàn đến khái niệm thông tin như là cơ sở lý luận và
kinh tế, tác giả luận giải sự tác động này trong hoạt động sản xuất xã hội,
trực tiếp từ lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất. Trong lĩnh vực chính
trị, công nghệ thông tin tác động nội dung các vấn đề: dân chủ, bình đẳng,
quyền lực. Đối với lĩnh vực văn hóa, công nghệ thông tin tác động mạnh
mẽ đến cách nhìn nhận của con người về thế giới, về mối quan hệ giữa
người và người. Sự thay đổi này thể hiện rõ trong nhận thức, đạo đức, lối
sống của con người.
Ba là, trên cơ sở luận giải sự tác động công nghệ thông tin đối với tổng
thể đời sống xã hội, tác giả đã phân tích sự tác động đó đối với xã hội Việt
Nam hiện nay. Theo tác giả, hiện trạng xã hội Việt Nam hiện nay là sự đan
xen rất phức tạp của các nền văn minh nhân loại đã và đang trải qua. Điều này
vừa tạo ra cho nước ta những cơ hội thuận lợi để phát triển kinh tế một cách thiết
thực và hiệu quả, song cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức, thậm chí xuất
hiện các nguy cơ: sự tụt hậu hơn về kinh tế; phát triển kinh tế không bền vững; bất
ổn về chính trị; mất phương hướng trong tiếp nhận các giá trị văn hóa,...
Bốn là, tác giả xây dựng các nhóm giải pháp về kinh tế, kỹ thuật; về
chính trị - pháp luật; về văn hóa, giáo dục, nhằm khai thác tác động tích cực
của công nghệ thông tin trong phát trển xã hội toàn diện.
10
Hướng nghiên cứu của tác giả có nhiều giá trị khoa học nhưng mối
quan hệ giữa thông tin chính trị - xã hội và công nghệ thông tin nói riêng vẫn
còn là mảng trống còn bỏ ngỏ. Vì vậy, vai trò của công nghệ thông tin với tư
cách là “cầu nối” là “phương tiện” chuyển hóa thông tin và tri thức (chính là
quá trình xử lý thông tin) tác động đến tổng thể đời sống xã hội cũng chưa
được làm sáng tỏ.
Tóm lại, với hướng nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới và
trong nước cho thấy, thông tin, công nghệ thông tin tác động đến mọi mặt của
đời sống xã hội hiện đại. Song, vấn đề thông tin chính trị - xã hội với việc ra
Ông khẳng định việc ra quyết định của chủ thể quản lý dựa trên hai tình huống.
Đó là: tình huống đã xác định được vấn đề (tức là có đầy đủ thông tin) và tình
huống khó xác định vấn đề (tức là khi thông tin chưa đầy đủ nhưng thực tế vẫn
đòi hỏi có quyết định). Trong hai tình huống đó vai trò của tư duy logic, kinh
nghiệm, khả năng trực giác của chủ thể rất quan trọng. Nói cách khác, lúc này
nghệ thuật xử lý thông tin của chủ thể sẽ quyết định đến hiệu quả quản lý.
Nghiên cứu này, là nguồn tài liệu tham khảo khá tốt cho tác giả luận án.
Cuốn sách “Bí mật của các doanh nghiệp chưa hề thất bại” [134] của
tác giả Uwayaki, nhà nghiên cứu chiến lược kinh doanh Nhật Bản. Với việc ra
quyết định, tác giả khẳng định: sự quyết đoán của nhà doanh nghiệp là mấu
chốt cho sự phát triển của doanh nghiệp. Quyết đoán là sự cần thiết song chưa
đủ, điều quan trọng là thực hiện các quyết định đề ra. Các quyết định quản lý
không phải ngẫu nhiên mà có, để có các quyết định đúng đắn đòi hỏi người
cán bộ quản lý phải có bản lĩnh, có kiến thức, có năng lực tư duy, khả năng
phán đoán tốt… Tác giả cũng khẳng định, trong cuộc sống hằng ngày cũng
như trong lĩnh vực hoạt động của mình, chúng ta phải đưa ra những quyết
định để giải quyết các vấn đề đặt ra. Nếu quyết định đúng lúc, kịp thời, khoa
học thì hiệu quả chất lượng cuộc sống được nâng lên.
Cuốn sách “Tâm lý học tiêu dùng” của Học viện tài chính mậu dịch Bắc
Kinh (Trung Quốc), do Mã Nghĩa Hiệp chủ biên [49], khẳng định quyết định
được lý giải là quyết sách. Tác giả định nghĩa: “quyết sách là sự lựa chọn phương
án hợp lý từ nhiều phương án. Theo phương pháp suy lý lôgíc và phương pháp
12
thống kê trên cơ sở cân nhắc hiệu quả kinh tế nhằm đạt tới mục đích dự định, nói
một cách giản đơn là chọn phương án hợp lý từ nhiều phương án nhằm đạt tới
hiệu quả tối ưu” [49, tr.120]. Các tác giả cho rằng, quyết định ảnh hưởng trực
tiếp đến sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp, do đó để có quyết định khoa học
phải tuân thủ các bước sau: một là, phải điều tra nghiên cứu một cách hệ thống,
tạo của chủ doanh nghiệp, nhằm định ra mục tiêu, chương trình và tính chất
hoạt động của doanh nghiệp để giải quyết một vấn đề đã chín muồi trên cơ sở
hiểu biết các qui luật vận động khách quan của hệ thống bị quản trị và việc
phân tích các thông tin về hiện trạng của hệ thống. Tác giả cho rằng, quá trình
ra quyết định được tiến hành theo 10 bước, chất lượng của quyết định phụ
thuộc vào động cơ và chủ thể quản lý, đồng thời 3 yếu tố khách quan tác động
đến việc ra quyết định: Tính đồng bộ, tính hợp lý của hệ thống chính sách
kinh tế, pháp luật của nhà nước; Mâu thuẫn giữa tham vọng và khả năng có
hạn của chủ thể ra quyết định; Yếu tố thực tiễn. Như vậy, tác giả chủ yếu đề
cập đến quyết định quản trị, chưa đề cập đến quyết định của cán bộ lãnh đạo,
quản lý.
Luận án phó tiến sĩ khoa học kinh tế, chuyên ngành tổ chức và quản lý
sản xuất của tác giả Phan Kim Chiến, “Giám đốc doanh nghiệp với việc ra
quyết định quản lý kinh doanh” [21]. Luận án luận giải một số nội dung: ra
quyết định là nội dung cơ bản của hoạt động quản lý; Quyết định quản lý là
hành vi sáng tạo của chủ thể quản lý nhằm định ra mục tiêu, chương trình và
tính chất hoạt động của doanh nghiệp. Quy trình ra quyết định gồm 8 bước: 1)
Sơ bộ đề ra nhiệm vụ, 2) Chọn tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả, 3) Thu thập
thông tin để làm rõ nhiệm vụ đề ra, 4) Chính thức đề ra nhiệm vụ, 5) Dự kiến
các phương án quyết định, 6) Xây dựng mô hình toán học, 7) So sánh các
phương án quyết định theo tiêu chuẩn hiệu quả, 8) Đề ra quyết định chính
thức. Đồng thời, trong luận án tác giả Phan Kim Chiến cũng khẳng định thông
tin chính là nguyên liệu làm ra quyết định, nếu thông tin không tốt sẽ không
có quyết định chính xác. Tuy nhiên, tác giả bàn về thông tin và quyết định nói
chung chứ chưa bàn tới thông tin chính trị - xã hội và quyết định của CBCC
cấp cơ sở.
14
Có thể thấy rằng, với nhóm công trình nghiên cứu về ra quyết định, các
15
Luận án tiến sĩ khoa học chuyên ngành báo chí của tác giả Phạm Thị
Thanh Tịnh, “Nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công
chúng nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay” [123]. Luận án này
cung cấp cho chúng tôi nhiều ý tưởng sẽ được hiện thực hóa trong luận án.
Nghiên cứu này, giúp cho tác giả nhận thấy việc ra quyết định của đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hiệu quả hay không hiệu quả phụ thuộc một phần
không nhỏ vào thực tiễn nhu cầu thông tin của công chúng địa bàn đó.
Đồng thời, nghiên cứu hiện trạng môi trường thông tin vùng ĐBSH của tác
giả cho thấy thế mạnh và hạn chế đối với tiếp nhận thông tin của người dân
trong vùng. Thực tế chứng minh, địa phương nào thông tin được xã hội hóa
cao sẽ là nguồn cung cấp thông tin chính xác, kịp thời cho đội ngũ CBCC
nơi đó ra các quyết định phù hợp. Tác giả dự kiến sẽ tham khảo điều này
trong phần đề xuất các giải pháp.
Từ tình hình nghiên cứu trên, chúng ta thấy rằng, các nhà nghiên cứu
bàn đến các vấn đề: thu thập thông tin là bước quan trọng trong quản lý, lãnh
đạo của chủ thể; nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin của công chúng vùng
đồng bằng sông Hồng... Tuy nhiên, việc nghiên cứu thực trạng môi trường xã
hội của thông tin chính trị - xã hội, một trong những nhân tố tác động tới việc
phát huy loại hình thông tin này trong việc nâng cao chất lượng các quyết định
của đội ngũ CBCC cấp cơ sở vùng ĐBSH chưa được đề cập đến.
1.2.2. Nhóm công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước về
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở. Về hướng nghiên cứu này, tiêu biểu có
các công trình sau:
Sách chuyên khảo của tác giả Trần Xuân Sầm (chủ biên), “Xác định cơ
cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới”
[107]. Trên cơ sở trình bày các luận cứ khoa học, tác giả phân tích thực trạng,
xác định cơ cấu, tiêu chuẩn cơ bản, từ đây đề xuất những phương hướng và
giải pháp lớn để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt theo cơ cấu, tiêu
ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện ở đồng bằng sông
17
Cửu Long thời kỳ tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
hiện nay.
Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu
Long (ĐBSCL) hiện nay, tác giả Phạm Công Khâm [67]. Luận án đã bàn đến
một số nội dung sau:
Một là, tác giả khẳng định cấp xã là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện,
biến mọi chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà
nước thành hiện thực trong cuộc sống. Đồng thời, cấp xã là nơi cung cấp kinh
nghiệm, bổ sung, hoàn chỉnh chính sách.
Hai là, CBCC cấp xã có vai trò hết sức quan trọng. Họ giữ vai trò quyết
định trong hiện thực hóa sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước về mọi mặt
đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn. Hơn nữa, họ giữ vai trò quyết định trong
việc xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh ở cơ sở. Việc xây dựng CBCC cấp
xã vững mạnh sẽ là nguồn quan trọng cung cấp cán bộ cho cấp trên.
Ba là, tác giả phân tích thực trạng CBCC cấp xã vùng nông thôn ở
ĐBSCL. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng đội ngũ CBCC cấp xã nơi đây. Đó là, nhóm giải pháp, xác định cụ thể
tiêu chuẩn và cơ cấu của đội ngũ CBCC cấp xã vùng nông thôn ở ĐBSCL;
nhóm giải pháp, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC cấp xã vùng nông thôn
ĐBSCL; nhóm giải pháp về chính sách đối với đội ngũ CBCC cấp xã vùng
nông thôn ở ĐBSCL.
Kết quả nghiên cứu trên của tác giả sẽ giúp nghiên cứu sinh trong quá
trình triển khai đề tài của mình tìm ra những nét đặc thù của CBCC cấp xã
của ĐBSH khác với CBCC cấp xã ĐBSCL.
Nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn của cán bộ chủ chốt cấp xã ở một
số tỉnh đồng bằng sông Hồng trong điều kiện hiện nay. Đây là đề tài nghiên
lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
nhà nước và các nhiệm vụ chính trị cụ thể của cơ sở; Cấp cơ sở được xem là
nền móng của tòa nhà, nếu nền móng tòa nhà bị suy yếu, rệu rã sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến toàn bộ tòa nhà.
19
Người CBCC cấp cơ sở còn phải chủ động đề xuất đổi mới và góp phần
hoàn thiện thể chế ở cơ sở; là người trực tiếp tác động đến lợi ích của dân, đại diện
hợp pháp cho những yêu cầu nguyện vọng chính đáng của dân; là người giải tỏa
các mâu thuẫn xung đột ở cơ sở để tạo ra sự đồng thuận trong đời sống cộng đồng.
Luận án cũng phân tích, các yếu tố tác động đến phẩm chất và năng lực
của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở: Phẩm chất chính trị - tư tưởng; phẩm
chất đạo đức; phẩm chất trí tuệ; phẩm chất sức khỏe và tâm lý; năng lực tư
duy sắc bén; năng lực tổ chức thực tiễn; năng lực sáng tạo và quyết đoán.
Trên cơ sở luận giải, tác giả đề xuất một số các giải pháp nhằm nâng
cao vai trò của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở. Chúng tôi đồng tình và
trân trọng với những phân tích lý giải của tác giả. Tuy nhiên, theo chúng tôi,
để góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở cơ sở, một trong những vấn
đề khá quan trọng của người CBCC cấp cơ sở là nắm bắt và xử lý thông tin
chính trị - xã hội của đội ngũ này có kịp thời, thường xuyên không. Hơn nữa,
trong luận án này, tính đặc thù của đội ngũ CBCC cấp cơ sở ở các tỉnh đồng
bằng sông Hồng chưa được làm rõ.
Bài viết của tác giả Phúc Sơn, Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ cấp
xã đạt chuẩn [108]. Tác giả đưa ra một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ
cấp xã: Một là, cần thiết điều chỉnh xây dựng quy hoạch cán bộ cấp xã giai
đoạn 2010 - 2015 trên cơ sở rà soát quy hoạch cán bộ giai đoạn 2005 - 2010;
Hai là, đổi mới nội dung, hình thức đào tạo bồi dưỡng cán bộ cấp xã, phường,
thị trấn theo chức danh; Ba là, tăng cường đầu tư nâng cao chất lượng, năng
lực và khả năng đào tạo của các cơ sở đào tạo; Bốn là, tiếp tục nghiên cứu sửa
- xã hội trong việc ra quyết định của đội ngũ CBCC cấp cơ sở vùng đồng bằng
sông Hồng.
Ba là, nghiên cứu sinh đề xuất các nhóm giải pháp về phát huy vai trò của
thông tin chính trị - xã hội trong việc ra quyết định của CBCC cấp cơ sở vùng
đồng bằng sông Hồng.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và tầm quan trọng cả về mặt lý luận và
thực tiễn của vấn đề trên, chúng tôi đi sâu nghiên cứu vấn đề: “Thông tin
chính trị - xã hội với việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ