ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HÀ THỊ THANH TÂM
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN HỌC HIỆN THỰC PHÊ PHÁN
(NGỮ VĂN 11)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60140111
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. TÔN QUANG CƢỜNG
HÀ NỘI – 2015
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, xu hướng hội nhập
diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Điều đó đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam
phải có sự cải tiến, đổi mới không ngừng để bắt kịp với sự vận động, phát
triển của các quốc gia tiên tiến trên thế giới và các nước trong khu vực. Mặt
khác, nền giáo dục Việt Nam đang tồn tại nhiều bất cập về chất lượng. Bởi
vậy, đổi mới phương pháp dạy học là một trong những mục tiêu lớn nhất của
ngành Giáo dục và Đào tạo. Xuất phát từ nhu cầu đổi mới phương pháp dạy
học nói chung và phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà
trường phổ thông nói riêng, đổi mới phương pháp bắt đầu từ việc cải tiến các
phương pháp dạy học truyền thống theo hướng phát huy tính tích cực của
mình vào tình huống có vấn đề của thực tiễn, cụ thể và sinh động của nghề
nghiệp rồi từ đó tự mình tìm ra cái chưa biết, cái cần khám phá học để hành,
hành để học, tức là tự tìm kiếm kiến thức cho bản thân.
Nghị quyết 29 của Ban chấp hành T.Ư Đảng khóa XI cũng nhấn mạnh
việc đổi mới “quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiế n thức sang phát triển
toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn
với thực tiễn; giáo dục nhà trường kế t hợp v ới giáo dục gia đình và giáo dục
xã hội”. Đồng thời, Nghị quyết cũng định hướng chỉ đạo sự cần thiết của việc
“chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú
ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học” trong bối cảnh hiện
nay.
Qua thực tế, có thể thấy một trong những giải pháp da dạng hóa các
hình thức tổ chức dạy học hướng đến việc đáp ứng được các yêu cầu về đổi
mới phương pháp dạy học, phát huy được vai trò tích cực chủ động của học
sinh chính là hoạt động ngoài giờ lên lớp (HĐNGLL).
Qua các hoạt động và nhiệm vụ học tập cụ thể được triển khai dưới
hình thức tổ chức dạy học này, học sinh có cơ hội được tăng cường khả năng
tiếp cận với những nhiệm vụ, yêu cầu và nội dung đặc thù của môn Ngữ văn
trong nhà trường phổ thông. Nếu áp dụng cho môn Ngữ văn có thể nhìn thấy
2
khả năng tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp (với tư cách là một giải pháp đa
dạng hóa hình thức tổ chức dạy học) sẽ góp phần khắc phục được tình trạng
đọc - chép, tạo động cơ và hứng thú học tập cho học sinh. Tuy nhiên, việc
ứng dụng tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp trong triển khai lịch trình
dạy học cụ thể cho các phần kiến thức, các bài học sẽ triển khai như thế nào,
có phù hợp và thực sự nâng cao hiệu quả dạy học môn học hay không… là
những vấn đề cần được nghiên cứu một cách kĩ lưỡng và thận trọng.
Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Tổ chức
Hiện nay, các nước tiên tiến có nền giáo dục hiện đại cũng đã tiến hành
tổ chức HĐNGLL dưới nhiều hình thức phong phú và đa dạng.
2.2. Việc nghiên cứu hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trong nước
Dựa trên nguyên lý giáo dục “ học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền
với xã hội” cùng sự đổi mới giáo dục ở Việt Nam, HĐNGLL là một yếu tố
không thể thiếu trong việc thực hiện mục tiêu đã đề ra.
Chính bởi tầm quan trọng của HĐNGLL nên có nhiều công trình
nghiên cứu đề cập tới vấn đề này.
Tác giả Đỗ Ngọc Thống đã đề cập tới một số nội dung của HĐNGLL
thông qua việc phân tích vị trí, vai trò của môn Ngữ văn ở trường phổ thông.
Chỉ ra lịch sử giáo dục dưới chế độ phong kiến chủ yếu là học lễ nghĩa, văn
thư, sau là tới chính trị, pháp luật…của người quân tử. Giáo viên Ngữ văn
ngày nay cần phải thay đổi phương pháp dạy học để thích nghi với điều kiện,
biến động xã hội, giúp HS tiếp cận với môi trường ngoài nhà trường. Tổ chức
HĐNGLL nhằm giúp HS phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và nắm
vững được những kiến thức trong và ngoài nhà trường. Thực hiện HĐNGLL
cho HS dưới tinh thần ham mê, hứng thú, không gò ép.
Tác giả Nguyễn Minh Thuyết cho rằng người viết cần tham khảo cấu
trúc mới trong một số sách giáo khoa của các nước khác nhằm tăng cường các
nội dung gắn với HĐNGLL để hình thành và phát triển năng lực ở người học.
Các tác giả như Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Đỗ Việt Hùng… đã nghiên
cứu HĐNGLL trong mối quan hệ với các PPDH môn Ngữ văn và tiếng Việt ở
trường phổ thông.
4
Ngoài ra, HĐNGLL là một vấn đề được nhiều người quan tâm nên có
rất nhiều luận văn nghiên cứu:
Năm 1999, tác giả Nguyễn Văn Phước bảo vệ luận văn thạc sĩ “Người
hiệu trưởng tổ chức HĐNGLL ở trường THPT” nhằm nghiên cứu thực trạng
- Tìm hiểu về văn học hiện thực phê phán nói chung và văn học hiện
thực phê phán trong chương trình Ngữ văn lớp 11 nói riêng để vận dụng vào
việc tổ chức HĐNGLL cho phù hợp và đạt hiệu quả.
- Nghiên cứu, đề xuất cách tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp trong
dạy học tác phẩm văn học hiện thực phê phán (Ngữ văn 11 ).
- Tổ chức dạy học thực nghiệm nhằm kiểm chứng, đánh giá kết quả
nghiên cứu, từ đó rút ra kết luận và đề xuất.
6. Khách thể nghiên cứu, đối tƣợng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy họcvăn học hiện thực phê phán
trong chương trình Ngữ văn lớp 11 ở trường THPT
Đối tƣợng nghiên cứu:Khả năngtổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp
trong dạy học tác phẩm văn học hiện thực phê phán (Ngữ văn 11) trong nhà
trường THPT
7. Phạm vi nghiên cứu: Các tác phẩm văn học hiện thực phê phán trong
chương trình SGK Ngữ văn lớp 11
Đối tƣợng khảo sát: Học sinh lớp 11, giáo viên môn Ngữ văn THPT
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp lí luận: tổng hợp những vấn đề lí
luận chung về HĐNGLL trong dạy học.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, khảo sát thực trạng tổ
chức HĐNGLL trong dạy học Ngữ văn nói chung và VHHTPP nói riêng ở
trường phổ thông.
- Phương pháp thống kê: xử lí số liệu trong quá trình nghiên cứu trong
quá trình khảo sát thực tiễn và tiến hành thực nghiệm.
- Phương pháp thực nghiệm có đối chứng, phương pháp thống kê, điều
tra (bằng phiếu hỏi): xác định tính hiệu quả, khả thi của việc tổ chức
HĐNGLL trong dạy học TPVHHTPP.
6
chất vốn có trong mỗi con người, là trạng thái tâm lí và thể lực của HS hướng
vào hoạt động chiếm lĩnh tri thức ở một mức độ cao, thể hiện sự quyết tâm
của cá nhân. Tính tích cực được thể hiện ở hai mặt: chuyên cần và tư duy sâu
sắc. Chuyên cần là chăm chỉ, cần cù, cố gắng vượt khó khăn để đạt được mục
tiêu. Tư duy sâu sắc là hoạt động trí tuệ, đi sâu vào phân tích bản chất của vấn
đề nhằm tìm ra những nét mới. Tính tích cực phải được xuất phát từ động cơ
học tập – nhu cầu nhận thức, mong muốn có kết quả tốt và sự khích lệ, động
viên. Động cơ đúng tạo ra hứng thú học tập. Hứng thú là tiền đề của tính tự
giác. Tính tính cực sẽ sản sinh ra lối tư duy, khả năng làm việc độc lập và
sáng tạo của HS. Đồng thời chúng cũng có sự tác động ngược trở lại đối với
8
tính tích cực học tập ở HS. Tính tích cực được biểu hiện bằng niềm say mê,
hứng thú và quyết tâm học tập ở HS.
- Tính tích cực học tập được thể hiện qua các cấp độ: bắt chước - làm
theo mẫu có sẵn; tìm tòi - tìm kiếm kiến thức, độc lập giải quyết vấn đề bằng
cách xâu chuỗi các hiểu biết của mình; sáng tạo - tìm ra cái mới, độc đáo,
hiệu quả sau khi đã tổng hợp, nghiên cứu, tư duy.
Thế nào là phƣơng pháp dạy học tích cực?
- PPDH tích cực là một thuật ngữ rút gọn được sử dụng phổ biến nhằm
để chỉ PPDH phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong
quá trình học tập. “ Tích cực” trong “PPDH tích cực” là tính chủ động, tự
giác, trái nghĩa với thụ động, bị động chứ không hề trái nghĩa với tiêu cực,
hạn chế. Khái niệm PPDH tích cực để chỉ những phương pháp có tính mới
mẻ, hiện đại khắc phục được lối truyền thụ một chiều, lối tiếp nhận kiến thức
thụ động. Tuy nhiên việc đổi mới PPDH này không có nghĩa là phủ nhận các
PPDH truyền thống mà là sự kế thừa, phát huy những mặt tích cực của chúng
góp phần tạo nên chất lượng dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu xã hội hiện nay.
- Đối với việc áp dụng PPDH tích cực vào trong dạy học đòi hỏi GV
lớp và có nội dung hóa học cho học sinh lớp 10 và 11 ở trường trung học phổ
thông, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Lương Thúy Hà (2011), Tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp trong dạy học
môn Ngữ văn chương trình trung học phổ thông, Đại học Giáo dục - Đại học
Quốc gia Hà Nội.
8. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2010), Từ điển thuật ngữ văn
học, NXB Giáo dục Việt Nam.
9. Trần Bá Hoành (2007), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và
sách giáo khoa, NXB Đại học Sư phạm.
10. GS. Đặng Vũ Hoạt, PGS. Nguyễn Sinh Hùng, PTS. Hà Thị Đức (1997),
Giáo dục đại cương 2, Hà Nội.
11. Lê Mỹ Linh (2013), Tích cực hóa hoạt động của học sinh trong dạy học
thơ mới ở trung học phổ thông, Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội.
10
12. Nguyễn Thu Loan (2011), Tổ chức hoạt động ngoại khóa trong dạy học
phần văn học dân gian lớp 10 ( Ban cơ bản), Đại học Giáo dục- Đại học
Quốc gia Hà Nội.
13. Phan Trọng Luận (2005), Phương pháp dạy học văn – Tập 1, NXB Đại
học Sư phạm.
14. Nguyễn Đăng Mạnh (2000), Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam 1930 1945.
15. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà
trường, NXB Đại học Sư phạm.
16. Trần Đăng Suyền, Nguyễn Văn Long, Lê Quang Hưng, Trịnh Thu Tiết
(2008), Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại tập 1 ( Từ đầu thế kỉ XX đến
1945), NXB Đại học Sư phạm.
17. PGS. TS. Vũ Hồng Tiến(2009), Phương pháp dạy học tích cực, Dạy học
Intel.net.