skkn nâng cao chất lượng dạy học vật lí 7 ở vùng đặc biệt khó khăn - Pdf 38

Cư’klông Năm 2015
I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lý do chọn đề tài.
Thực hiện chủ trương : “ Mỗi giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục thực hiện
một đổi mới trong phương pháp dạy học và quản lí. Mỗi trường có một kế
hoạch cụ thể về đổi mới phương pháp dạy học. Mỗi phòng GD&ĐT có một
chương trình đổi mới phương pháp dạy học”. Đổi mới phương pháp dạy học,
chú trọng nâng cao chất lượng Giáo dục, đặc biệt quan tâm tới HS dân tộc thiểu
số, huy động các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường, các bậc phụ
huynh cùng chăm lo sự nghiệp giáo dục.
Đứng trước yêu cầu dạy và học hiện nay ngày càng cao, vấn đề nâng cao
chất lượng dạy và học trong trường THCS là một vấn đề vô cùng bức bách đặt
ra cho mỗi giáo viên. Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Vật lý tôi nhận thức
sâu sắc về bộ môn mình đảm nhận có tầm quan trọng trong việc thực hiện mục
tiêu đào tạo của bậc THCS có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh một số kiến thức
vật lý cơ bản ở trình độ phổ thông cơ sở. Bước đầu hình thành ở học sinh các kỹ
năng cơ bản thói quen làm việc khoa học, góp phần hình thành ở học sinh các
năng lực và các phẩm chất mà mục tiêu giáo giục bậc THCS đề ra, cũng như
góp phần giáo dục học sinh ý thức, thái độ, trách nhiệm đối với cuộc sống gia
đình xã hội và môi trường. Môn vật lý ở trường THCS có vị trí cầu nối quan
trọng một mặt nó phát triển hệ thống kiến thức kỹ năng và thái độ mà học sinh
đã lĩnh hội và hình thành ở tiểu học, mặt khác nó góp phần chuẩn bị cho học
sinh những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để tiếp tục học lên trung học
phổ thông và trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc tham gia lao động sản
xuất, đòi hỏi những hiểu biết nhất định về vật lí, muốn có chất lượng tốt, phải
được bắt đầu ngay từ các lớp dưới. Vì vậy với người giáo viên kiến thức vững
vàng chưa đủ mà phải luôn đọc, tìm tòi cải tiến phương pháp dạy học cho phù
hợp với từng giai đoạn, từng khu vực.

1


tâm đúng mức hơn.
2


Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn vật lý 7 nhiều năm liền ở trường
THCS Nguyễn Trãi tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Nâng cao chất lượng dạy
học Vật lí 7 ở vùng đặc biệt khó khăn” ở trường THCS Nguyễn Trãi để góp
phần tăng lòng nhiệt tình, say mê nghề, góp phần tự bồi dưỡng nghiệp vụ,
chuyên môn, nghiên cứu khoa học. Đồng thời với mong muốn được trao đổi
kinh nghiệm giảng dạy môn vật lý với quý đồng nghiệp nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học môn vật lý 7 ở vùng đặc biệt khó khăn nói riêng cũng như ở vùng
khác trong toàn xã hội .
I.3. Đối tượng nghiên cứu.
- Nội dung kiến thức vật lí trong chương trình vật lí lớp 7 .
- Hoạt động dạy học vật lí 7 của trường trong các năm học 2014-2015,20152016.
- Cơ sở nghiên cứu: Giáo viên trực tiếp dạy môn vật lý ở trường THCS
Nguyễn Trãi.
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu biện pháp tổ chức dạy học nhằm nâng cao chất lượng học
tập cho học sinh trong học tập môn Vật lí 7 của học sinh trường THCS Nguyễn
Trãi.
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2014 đến 01/2016.
I.5.Các phương pháp nghiên cứu.
a. Phương pháp cơ bản :
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến lí
luận dạy học vật lí, các phương pháp dạy học vật lí THCS, dạy học phát triển
năng lực tư duy học sinh, các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa ...
- Phương pháp điều tra, phương pháp đàm thoại, phương pháp thực nghiệm
sư phạm ( áp dụng đề tài vào dạy học thực tế từ đó thu thập thông tin để điều
chỉnh cho phù hợp và bổ xung kiến thức cho chương trình).

kiến thức kĩ năng. Để đạt được điều đó giáo viên phải lên kế hoạch giảng dạy cho
từng bài cụ thể, thấy rõ ý nghĩa của việc soạn bài: Là một công việc quan trọng
nhất trước khi lên lớp của giáo viên để đảm bảo các yêu cầu về mặt giáo dục trong
nhà trường phổ thông, trên bài soạn là toàn bộ công việc của thầy và trò ở trên lớp,
bài soạn tốt, chu đáo sẽ giúp giáo viên thể hiện tốt năng lực, trình độ của mình.

4


Trong bốn mục tiêu giáo dục thì việc dạy học phát triển tư duy cũng cần được
quan tâm đúng mức hơn. Dạy học phát triển tư duy là: Dựa vào hình tượng, con
người có thể tư duy một cách liên tục và nhất quán. Tư duy bằng hình tượng có 2
mức:
+ Mức độ thấp: Tư duy hình tượng sử dụng những đường cong biểu đồ, màu sắc, đồ
thị, hình ảnh và hàng loạt các phương tiện khác để biểu diễn các mối tương quan
rất khó biểu diễn bằng lời. Kiểu tư duy này rất thường gặp ở học sinh THCS. Ví
dụ: Học sinh có thể vẽ sơ đồ thí nghiệm, vẽ sơ đồ cấu trúc về mô hình cần tìm trên
giấy sau đó tiến hành lắp ráp các dụng cụ hoặc chi tiết theo sơ đồ rồi tiến hành thao
tác với bộ dụng cụ thí nghiệm hoặc mô hình đó. ( chương điện học vận dụng hình
thức tu duy này rất nhiều).
+ Mức độ cao: Tư duy mà không cần viết, vẽ hay nhìn một cái gì đó mà hoàn toàn
do tưởng tượng trong đầu. Ví dụ: HS có thể hình dung sơ đồ phương án thí nghiệm
về tác dụng từ của dòng điện lên nam châm thử, lên sắt…mà không cần viết hay vẽ
ra giấy.
Phối hợp cả hai kiêu tư duy hình tượng và tư duy ngôn ngữ.
Sáu cấp độ tư duy: Biết; Hiểu; Áp dụng; Phân tích; Đánh giá; Sáng tạo.
Muốn phát triển tư duy đối với HS phải áp dụng kiểu dạy tích cực, dạy cho HS cả
về kiến thức, cả về phương pháp nhất là phương pháp dạy học. Đặc biệt là các hoạt
động tự lực theo nhóm, theo cá nhân học sinh phải được rèn luyện, bộc lộ và phát
huy. Cụ thể: Học sinh phải đặt ra nhiều giả thuyết khi giải quyết một vấn đề về vật

hơn.
- Phối hợp nhiều hình thức tổ chức hoạt động học tập ngoài lớp học. Chú trọng
Việc “Học” đi đôi với “Hành”.
Hoạt động ngoại khóa là một thuật ngữ dùng để chỉ các hình thức hoạt động kết
hợp dạy học với vui chơi ngoài lớp, nhằm mục đích gắn việc học trong nhà trường
với thực tế xã hội. Dạy học ngoại khóa đem lại những tác dụng như: Các hoạt động
mang tính chất vừa vui vừa học giúp cho học sinh hiểu sâu, hiểu rộng về kiến thức
vật lí, liên hệ giữa kiến thức vật lí và kiến thức trong đời sống; Tạo hứng thú học
tập cho học sinh, qua đó góp phần phát triển năng lực tư duy của học sinh. Khi tiến
hành cần đảm bảo các nguyên tắc: Phải tôn trọng tinh thần tự nguyện tham gia,
tính độc lập sáng tạo của học sinh nhưng phải có sự hướng dẫn tổ chức chu đáo của

6


giáo viên; Nội dung hoạt động phải gắn với chương trình học, mang tính khoa học
và hình thức hoạt động phải phong phú đa dạng.
* Bản chất của dạy và học tích cực là “ lấy học sinh làm trung tâm” : Khai thác
động lực học tập của người học để phát triển chính họ; Coi trọng lợi ích nhu cầu
của cá nhân người học, đảm bảo cho họ thích ứng với đời sống xã hội.
II.2. THỰC TRẠNG
a. Thuận lợi- khó khăn.
Ban giám hiệu trường THCS Nguyễn Trãi xác định nhiệm vụ cần đẩy mạnh,
nâng cao một bước chất lượng giáo dục của nhà trường, do đó tạo điều kiện thuận
lợi trong công tác giảng dạy cho tất cả các giáo viên nói chung và cho giáo viên
Vật lí nói riêng. Điều đó thể hiện rõ nhất ở việc tuy chưa xây dựng được phòng học
bộ môn theo chuẩn nhưng nhà trường đã tận dụng một phòng học để phục vụ cho
bộ môn Lí- Công nghệ. Khuyến khích giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy
học, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động dạy học chính khóa cũng
như ngoại khóa nhằm đa dạng các hình thức tổ chức hoạt động dạy học. Một số

trường GV còn nặng về dạy chay, không sử dụng hoặc chưa sử dụng hết đồ dùng
dạy học trong khi đây là một tiêu chuẩn trong quy chế chuyên môn. Trong dạy
học cũng đã tiến hành một số hình thức tổ chức ngoại khóa nhưng còn mang tính
riêng lẻ rời rạc, chưa có kế hoạch cụ thể rõ ràng dẫn tới hiệu quả chưa cao, hoạt
động ngoại khóa đôi khi chưa được quan tâm đúng mức. Về phía học sinh: với
một số bài học tương đối dài thì khả năng tập trung chú ý của một số học sinh
(nhất là học sinh yếu và một số em nam hiếu động) còn hạn chế. Học sinh chưa
thường xuyên lựa chọn được hoạt động phù hợp, chưa sáng tạo, khả năng vận
dụng kiến thức liên môn ( kiến thức hình học vào vẽ hình trong phần quang học
ví dụ đo góc và vẽ hai góc i’= i) của một số học sinh gặp nhiều khó khăn...
c. Mặt mạnh- mặt yếu.
Toàn bộ GV nhà trường đều đã qua các lớp tập huấn về thay SGK, có đủ năng
lực giảng dạy bộ môn. Tuy nhiên GV tiếp cận với nội dung và phương pháp giảng
dạy mới gặp không ít khó khăn dạy học chưa thật sát với từng đối tượng học sinh,
đặc biệt là khi áp dụng phương pháp này vào với vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào
dân tộc thiểu số. Kĩ năng sử dụng thiết bị dạy học còn hạn chế, do đó chất lượng và
hiệu quả giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra… Về phía học sinh, về cơ bản
các em đều ngoan, có ý thức học tập tốt, hứng thú học tập, chủ động lĩnh hội tri
8


thức...bên cạnh đó vẫn còn một số học sinh ham chơi, chưa xác định rõ động cơ
học tập, thụ động, nhút nhát trong hoạt động nhóm, trong giao tiếp với bạn, với
thầy. Một số ít học sinh còn đọc yếu, viết chậm, viết sai chính tả ảnh hưởng đến
học tập bộ môn. Giao bài tập về nhà một số HS còn làm với tính chất chống đối.
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động.
* Nguyên nhân thành công: Được Ban giám hiệu quan tâm, chỉ đạo sát sao , do
được đảm bảo về cơ sở vật chất, có thiết bị thí nghiệm, đồ dùng dạy học. Giáo viên
nắm vững kiến thức, kĩ năng dạy học, có phương pháp dạy học phù hợp với đặc
thù bộ môn, có lòng yêu nghề mến trẻ....

phương pháp học tập bộ môn, nhưng với nội dung mới mẻ hơn. Vậy thì việc đổi
mới nội dung và phương pháp dạy học nhằm năng cao chất lượng dạy học phải
luôn được quan tâm trong các giờ học chính khóa, đồng thời dạy cần lồng ghép các
hoạt động ngoại khóa về vật lí để góp phần nâng cao chất lượng dạy học vật lí 7.
- Như đã nêu ra ở trên, một số bài học có nội dung khá dài, phải làm sao để đảm
bảo mục tiêu của bài học mà vẫn thu hút được sự chú ý cũng như thái độ học tập
tích cực của HS, theo tôi nếu ta chuẩn bị một số nội dung của bài ra bảng phụ thì sẽ
tiết kiệm được thời gian và khi treo bảng phụ trên bảng thì HS sẽ tập trung chú ý
hơn là yêu cầu các em theo dõi SGK. Thiết bị thí nghiệm, đồ dùng dạy học có
nhưng còn thiếu nhiều, kỹ năng thực hành, thực nghiệm vật lý của học sinh một số
học sinh rất yếu, vậy GV cần dành công sức để làm đồ dùng dạy học và gợi ý cho
học sinh chế tạo đồ dùng học tập với những nguyên liệu có thể dễ dàng tìm được,
không gây tốn kém cho học sinh. Qua đó khơi dậy tiềm năng sáng tạo cuả các em;
Còn đối với việc thực hành thảo luận theo nhóm còn nhiều lúng túng, nhiều học
sinh còn có thói quen trông chờ ỷ lại vào kết quả học tập của bạn khác, thì GV cần
quan tâm động viên khuyến khích các em tham gia, hướng dẫn cụ thể HS phân
công nhiệm vụ trong nhóm. Qua đó góp phần giúp cho học sinh hoàn thiện bản
thân, tạo điều kiện tốt nhất cho học sinh sau này tham gia vào các hoạt động xã
hội.
Giáo viên còn lúng túng trong việc tổ chức học sinh thực hành vật lý theo
nhóm: Sử dụng nhóm tùy tiện, không có sự lựa chọn phù hợp với nội dung học tập,
trong nhóm chỉ có một số thành viên tham gia, những thành viên khác thụ động, vì
vậy kết quả làm việc của nhóm thực chất là kết quả làm việc của một hai thành
viên trong nhóm; Tổ chức báo cáo kết quả làm việc theo nhóm không khoa học;
10


Giáo viên quản lí thời gian hoạt động nhóm không chặt chẽ dẫn tới tốn nhiều thời
gian cho một hoạt động. Còn việc dẫn đến tình trạng “cháy’ giáo án là do GV tự
làm khó cho bản thân mình ( có thể đưa vào bài học những kiến thức khó hơn mức

vướng mắc mâu thuẫn và từ đó dẫn tới là hiệu quả chưa cao. Hoạt động ngoại
khóa đôi khi chưa được quan tâm đúng mức, giáo viên ngại tổ chức vì thời gian
đầu tư cho việc lên kế hoạch hoạt động ngoại khóa hạn hẹp, không có thời gian
theo dõi học sinh hoạt động ngoại khóa, phần nữa là nguồn kinh phí tổ chức cho
học sinh hoạt động ngoại khóa? Đôi khi cho rằng với nội dung kiến thức trong
khung chương trình là đủ, tổ chức các hoạt động ngoại khóa sẽ là mất thời gian
và sẽ tạo thêm áp lực cho học sinh. Thực ra hoạt động ngoại khóa tuy có làm mất
thêm thời gian của học sinh, nhưng tác dụng của hoạt động ngoại khóa là không
thể phủ nhận được, và nội dung mà hoạt động ngoại khóa vật lí cũng là xoay
quanh những nội dung đã được học trên lớp nhưng giúp học sinh hiểu sâu hiểu
rộng hơn và những hoạt động động mang tính chất vừa vui vừa học đó càng góp
phần tạo thêm hứng thú học tập cho học sinh. Với những phân tích ở trên tôi hi
vọng việc tổ chức các hoạt động chính khóa và ngoại khóa vật lí ở trường THCS
Nguyễn Trãi sẽ đem lại những hiệu quả dạy học đáng ghi nhận và góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục học sinh.
* Chất lượng HS trước khi thực hiện đề tài môn vật lí HS khối 7 năm học 20132014: Tổng số HS 69 học sinh đạt trung bình trở lên là 60 HS chiếm tỉ lệ 87%.
II. 3. CÁC GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP.
II.3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn của quá trình dạy học vật lí 7, tôi đưa ra
mục tiêu của giải pháp, biện pháp như sau:
- Đối với giáo viên: Đề ra những biện pháp khắc phục nhược điểm của quá trình
dạy học quán triệt tốt các yêu cầu về mặt giáo dục và giáo dưỡng nhằm từng
bước nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
- Đối với HS: Luôn cải tiến phương pháp học tập bộ môn thông qua đội ngũ cán sự,
nhóm học tốt, đôi bạn cùng tiến, phụ đạo bồi dưỡng HS thường xuyên, tổ chức
nhiều hoạt động ngoại khóa mang tính chất cá nhân, nhóm, tính chất rộng rãi.
Mục tiêu cuối cùng là hình thành cho học sinh một số biện pháp học tích cực tổ
chức các hoạt động dạy học chính khóa và ngoại khóa phát huy được tính tích
cực trong học tập, từ đó học sinh có thể áp dụng được các phương pháp học tích
12

được làm quen với các dụng cụ kĩ thuật và có tác dụng giáo dục thế giới quan cho
học sinh, học sinh hiểu được con người biết chế tạo ra các dụng cụ khắc phục hạn
13


chế các giác quan. Hiểu được ứng dụng của gương trong giao thông ( Ví dụ lắp
gương cầu lồi ở phía trước ô tô, xe máy giúp người lái xe quan sát phía sau; lắp
gương cầu lồi lớn ở khúc cua, đường đèo gấp khúc để phòng ngừa tai nạn…) trong
đời sống ( ví dụ gương cầu lõm hứng năng lượng ánh sáng mặt trời để nung nóng
vật, đun nước…), trong quân sự ( lắp các gương phẳng ở dưới hầm để quan sát
phía trên mặt đất…)
- Những lưu ý khi giảng dạy chương II: Âm học. Lưu ý phần thí nghiệm thực hành,
liên hệ thực tế. Học sinh sau khi học phải giải thích được hiện tượng sấm sét, tiếng
vang…Có ý thức bảo vệ sức khỏe của bản thân (không ngoáy tai bằng vật cứng
gây thủng màng nhĩ), bảo vệ môi trường sống ( trồng cây xanh chống ô nhiễm
tiếng ồn).
- Những lưu ý khi giảng dạy chương III: Điện học.
Sự nhiễm điện do cọ sát, hai loại điện tích, sơ lược cấu tạo nguyên tử: Tất cả các
thí nghiệm về nhiễm điện đều rất khó thành công: Cọ sát nhựa vào len dạ thủy
tinh vào lụa ( giấy xé nhỏ đưa vào hộp nhựa đưa tới lớp) để thành công khi làm
thí nghiệm cần lưu ý: Chuẩn bị thêm các mảnh len, dạ, nhựa to, độ ráp càng cao
càng tốt. Có thể sử dụng bút thử điện thông thường hoặc bút thử điện thông
mạch, nhưng đều phải làm trước. Có thể sử dụng và làm thí nghiệm mô phỏng.
Khi dạy cho học sinh khẳng định chỉ có hai loại điện tích, cách kí hiệu.
Khi nói về sơ lược cấu tạo nguyên tử, không nên trình bày quá dài nên để học sinh
tự nghiên cứu SGK và trình bày phương án.
Dòng điện, nguồn điện, sơ đồ mạch điện, vật dẫn điện, vật cách điện, sơ lược về
dòng điện trong kim loại.
Khi trình bày dòng điện, nguồn điện như SGK.
Sơ đồ mạch điện: Đây là phần rất quan trọng để HS cấp THCS đưa vào trí nhớ và

* Khai thác các phương pháp tích cực trong hệ thống các phương pháp dạy học
truyền thống:
- Trú trọng phương pháp dùng lời nói: Lời của thầy, lời của trò, lời của sách. Trong
phương pháp truyền thống lời nói rất quan trọng.
- Phương pháp trực quan: Cần giữ lại và phát huy, phương tiện trực quan sẽ là
nguồn chủ yếu dẫn đến kiến thức mới.
- Các thao tác mà giáo viên làm để học sinh quan sát không thể bỏ được.
* Phương pháp vấn đáp:
15


+ Vấn đáp – tìm tòi: Câu hỏi phù hợp, phải tường minh, kết hợp kiến thức cũ và
mới.
+ Vấn đáp- tái hiện: Hệ thống câu hỏi giúp học sinh tái hiện (nhớ lại) kiến thức
đó học, liên hệ kiến thức đã học với kiến thức mới cần tìm (sử dụng trong ôn tập
chương, trong giải bài tập).
+ Vấn đáp- giải thích, minh họa: Vận dụng cho những giờ học có thí nghiệm, có
sử dụng phương tiện trực quan.
+ Vấn đáp- phát hiện, đàm thoại.
* Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề.
Cấu trúc bài học theo phương pháp này gồm:
- Đặt vấn đề: Tạo ra tình huống có vấn đề . Phát hiện và nhận dạng những vấn đề
nảy sinh. Tìm ra vấn đề mấu chốt cần giải quyết.
- Giải quyết vấn đề: Đề xuất giả thuyết. Lập kế hoạch. Thực hiện kế hoạch
- Kết luận: + Thảo luận kết quả và đánh giá, khẳng định bác bỏ giả thuyết đã nêu.
+ Kết luận, đề xuất phương án mới.
* Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ: Đây là hình thức học tập được thể
hiện theo phương pháp dạy học mới, hình thức học tập này có ý nghĩa quan trọng
là rèn luyện năng lực tư duy của mỗi học sinh cũng được phát huy. Khi tổ chức học
tập theo nhóm, GV hướng dẫn để mỗi thành viên trong nhóm đều được tham gia

quá vội vàng...Sau khi lắng nghe cần biết tóm tắt lại những gì mình vừa nghe
được. Đồng thời HS cần biết cách phản hồi mang tính xây dựng cần cụ thể, chính
xác, mô tả một hành động/ sự kiện , không đưa ra phỏng đoán về động cơ hay
thái độ, có ích cho người nhận, liên quan đến việc mà ai đó có thể thay đổi.
Ngược với phản hồi mang tính xây dựng là phản hổi không mang tính xây dựng.
Các bước của phản hồi mang tính xây dựng gồm Bước 1: Nhận thức sâu sắc.

17


Bước 2: Kiểm tra nhận thức. Bước 3: Đưa ra ý kiến đóng góp của mình. Phản

hồi mang tính xây dựng là một kĩ năng chủ chốt trong đào tạo và trong bồi
dưỡng GV.
c. Khai thác tối đa phương tiện- thiết bị - đồ dùng dạy học, kết hợp tốt các phương
tiện dạy học hiện đại ( tổ chức hiệu quả dạy học trên phòng học bộ môn).
Khi dạy chương I giáo viên cần chú trọng đến việc sử dụng thí nghiệm để giúp HS
nắm vững cách tạo ảnh qua gương và các định luật của quang hình học, đặc biệt
nếu điều kiện thí nghiệm gặp khó khăn, GV có thể sử dụng các phần mềm tin học
để mô phỏng thiết kế các thí nghiệm, giúp HS hình dung trực quan hơn về đường
đi của tia sáng, tính chất của ảnh qua quang cụ…Đối với phần định luật phản xạ
ánh sáng yêu cầu HS phải có đầy đủ thước đo góc và GV hướng dẫn tỉ mỉ cách xác
định góc tới, góc phản xạ và đo đạc. Một số hình vẽ nên dùng bút màu vẽ sẵn trên
bảng phụ để HS dễ quan sát. Đối với chương II nội dung kiến thức rất gần gũi với
HS, đa phần các em có hứng thú học tập nhưng việc tổ chức điều khiển lớp học của
HS cần hết sức chú ý vì có thể HS làm các thí nghiệm phần âm học sẽ gây ra nhiều
tiếng động làm ồn ào.
Các bài trong phần điện học có nội dung khá dài, việc tổ chức dạy học có kết hợp
các thí nghiệm đòi hỏi GV phải hết sức khéo léo, kết hợp trình chiếu để đem lại
hiệu quả tốt hơn. Cần chú ý khi tiến hành các thí nghiệm phải bảo đảm thành công,

tượng đơn giản hơn, cho học sinh dự đoán kết quả, biến các tư tưởng khoa học
thành sơ đồ, mô hình, cấu trúc có kĩ thuật. Biện pháp để phát triển năng lực tư
duy cho học sinh:
- Làm cho học sinh nắm được logic của những kiến thức vật lí cần nghiên cứu.Việc
ghi bảng của giáo viên giúp học sinh tích cực hóa trong quá trình học tập và tư duy
dựa vào sơ đồ trên bảng có thể theo kịp sách giáo khoa. Thông qua hệ thống ghi
bảng của giáo viên, học sinh có thể thấy rõ bản chất của vấn đề đang nghiên cứu (
tên bài học được viết in hoa to rõ ràng, các đề mục được trình bày khoa học, phần
quan trọng nhất của bài giáo viên có thể dùng phấn màu để làm nổi bật)
VD: Khi dạy bài 10: “Nguồn âm” có thể ghi
Dây cao su phát ra âm khi dao động.
Cây sáo phát ra âm khi không khí trong ống dao động
Mặt trống phát ra âm khi rung động.
=>Âm có quan hệ với dao động.
19


Trong quá trình giảng dạy phải phát triển năng lực tư duy và thực hiện các thao tác
tư duy đối với học sinh thông qua các câu hỏi.
- Phát triển tư duy của học sinh trong quá trình nghiên cứu kiến thức bằng cách:
+ Tạo ra tình huống có vấn đề, hướng dẫn học sinh giải quyết tình huống có vấn đề.
VD: Bài 26 Hiệu điện thế giữa hai đầu dụng cụ dùng điện.
- Dạy theo phương pháp truyền thống: GV thông báo “ Trên các bóng đèn cũng
như các dụng cụ dùng điện đều có ghi số vôn, chẳng hạn bóng đèn ghi 2,5V;
12V; 220V. Liệu các số vôn này có ý nghĩa giống như ý nghĩa của số vôn được
ghi trên các nguồn điện không?” ta học bài 26.
- Dạy học theo hướng phát triển tư duy HS: Đặt vấn đề vào bài
Đặt trên bàn 1 pin tròn (1,5V) và một bóng đèn sợi đốt (220V). HS quan sát.
Hỏi: Số 1,5 V ghi trên nguồn điện ( pin) cho ta biết giá trị nào? - HS liên hệ kiến
thức cũ, trả lời.


Vật dẫn
nóng lên

Nhiệt độ cao

Vật dẫn
phát sáng

Bóng đèn bút
thử điện
Dòng điện làm sáng

Đèn điốt phát
quang

+ Đối với thầy: Kiến thức phải vững, chính xác, rộng, phải biết cách hệ thống kiến
thức để học sinh dễ nhớ, dễ học.
+ Đối với trò: Để học tốt một giờ ôn tập tổng kết thì trò phải ôn tập trước ở nhà
những câu hỏi “ tự kiểm tra” trong sách giáo khoa; phải có ý thức tự giác, nghiêm
túc.
Khi tới lớp giáo viên hướng dẫn học sinh tổng kết theo khung và sơ đồ
Kết quả trên sơ đồ phải biểu diễn được mối quan hệ qua lại giữa các kiến thức với
nhau và chú ý tới sáu cấp độ tư duy đã nêu trong phần cơ sở lí luận. Bài tập có thể
đưa lên phần nội dung, đưa những bài có tích chất tổng hợp.
Ví dụ: Hướng dẫn HS tổng kết chương I Quang học bằng sơ đồ tư duy
- Xác định từ chìa khóa: “ Quang học”
- Xác định nội dung chính (nhánh chính) Sự truyền thẳng ánh sáng; Sự phản xạ
ánh sáng
- Xác định các nội dung cần nhớ trong từng nhánh chính ( các nhánh con)

hoạt động
ngoại khóa

Làm sổ tay
Tổ “ Vật lí”

Hoạt động ngoại
khóa theo tổ, nhóm
Hoạt động ngoại khóa
mang tính chất rộng rãi

Tổ chế tạo
Theo khối, toàn trường
Kết hợp với môn khác

* Hình thức thứ nhất: Hoạt động ngoại khóa mang tính chất cá nhân:
- Quan sát làm các thí nghiệm vật lí đơn giản mang tính chất cá nhân. Thực ra:
Hình thức ngoại khóa này học sinh vẫn thường tiến hành có thể do yêu cầu của
giáo viên hoặc do lòng say mê môn học, do sự ham hiểu biết tìm tòi của học sinh.
Tạo điều kiện cho mỗi học sinh bộc lộ khả năng học tập của mình (được tự nghĩ,
được làm việc một cách tích cực) nhằm đạt tới mục tiêu học tập. Tự đọc SGK thu

22


thập thông tin, tự tiến hành thu được kết quả thí nghiệm, tự rút ra nhận xét kết
luận và vận dụng các kiến thức đã học vào tình huống mới.
Ví dụ : Sau khi học xong định luật truyền thẳng ánh sáng, học sinh có thể tự làm
thí nghiệm bóng tối, bóng nửa tối ở nhà, ứng dụng định luật này để giải thích các
hiện tượng ví dụ thấy bóng của mình trên tường vào ban đêm, hay tại sao có bóng

dụng cụ kiểm tra ánh sáng truyền thẳng, dụng cụ kiểm tra sự truyền âm trong chất
rắn tốt hơn chất khí…
* Hình thức thứ ba: Hoạt động ngoại khóa mang tính chất rộng rãi.
- Tổ chức các hội vui vật lí trong toàn khối.
Nội dung: Các kiến thức vật lí đã học, kiến thức có liên quan.
Hình thức: Dựa theo những trò chơi phát sóng trên truyền hình ví dụ như : Chiếc
nón kì diệu, đường lên đỉnh Olympia, hái hoa dân chủ, rung chuông vàng....
Yêu cầu người đứng ra tổ chức phải nhanh nhẹn, tháo vát, giỏi chuyên môn, vững
kiến thức, biên soạn chu đáo, biết ứng dụng công nghệ thông tin có hiệu quả.
Cụ thể tôi tiến hành hình thức tương tự chương trình đường lên đỉnh Olympia với
tên gọi: Hội vui vật lí, mỗi lớp cử ra một đội chơi gồm hai thành viên, số học sinh
còn lại làm khán giả.
Nội dung thi “HỘI VUI VẬT LÍ ” gồm bốn phần:
Phần một: KHỞI ĐỘNG.
Luật chơi: GV công bố luật chơi. Nội dung: Có ba gói câu hỏi phần khởi động dành
cho ba đội tương đương nhau về mặt kiến thức . Ví dụ gói câu hỏi cho Đội 1.
Câu hỏi

Đáp án

1. Gương nào cho ảnh ảo nhỏ hơn vật?

1. Gương cầu lồi

2. Vật tự nó phát ra ánh sáng gọi là gì?

2. Nguồn sáng

3. Độ to của tiếng nói chuyện bình thường?


Q

9

E
N

T
G

U

3

T

I

A

S

A

4

5

P


U

H A O
O 3
C 8

5

T

A
S
H

6
7
8

N

H

A

T



T hng dc


7

M
M
M

7

M
M
M
M

C

10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
0
1
2
3

Cõu 1: Ti sao trc khi c xỏt, thc nha khụng hỳt cỏc vn giy nh?
Cõu 2: Ti sao ta nghe c ting vo vo ca con mui m khụng nghe c ting
v cỏnh ca con bm?

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status