ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TÊ
------------oOo-----------
VŨ THỊ THANH HÀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VIỆT NAM SANG LÀM
VIỆC TẠI NHẬT BẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
.
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TÊ
------------oOo-----------
VŨ THỊ THANH HÀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VIỆT NAM SANG LÀM
VIỆC TẠI NHẬT BẢN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
cho tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu này.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Viện Khoa học Lao động và Xã hội,
Cục Quản lý Lao động ngoài nước thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã
hội đã chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu, tài liệu hữu ích
phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình, Lãnh đạo Trung tâm Thông
tin, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và những người bạn đã động viên,
hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành
luận văn này.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn
thiện luận văn, tuy nhiên do thời gian và trình độ lý luận cũng như kinh
nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất
mong nhận được những đóng góp tận tình của Quý thầy cô và các bạn.
Học viên
Vũ Thị Thanh Hà
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động đưa người lao động (NLĐ) đi làm việc ở nước ngoài (NN)
đã trở thành một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Hiện nay có khoảng
500 nghìn LĐ Việt Nam đang làm việc ở 40 nước, vùng lãnh thổ, với hơn 30
nhóm ngành nghề khác nhau. Trong đó, thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài
Loan và Malaysia luôn được đánh giá là những thị trường trọng điểm, tiếp
nhận số lượng lớn lao động (LĐ) của Việt Nam sang làm việc, nhu cầu tiếp
nhận LĐ ở các nước khác cũng tăng nhanh, thu nhập của NLĐ được nâng lên,
hàng năm số LĐ này chuyển về gia đình khoảng từ 1,8 tỷ đến 2 tỷ USD, góp
phần nâng cao thu nhập cho bản thân, gia đình và xã hội.
Để đạt được những kết quả nêu trên, phải kể đến sự đóng góp quan
chiến lược về hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN ở tầm quốc gia, hiệu quả
kinh tế xã hội (KT-XH) chưa cao, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật
còn hạn chế, dẫn đến nhận thức của một bộ phận NLĐ chưa đúng; thủ tục
hành chính, công tác khai thác, định hướng phát triển thị trường LĐ ngoài
nước còn nhiều bất cập.
Mặt khác, do cơ chế chính sách của ta chưa tương đồng với nhiều nước
tiếp nhận LĐ nên sự thay đổi về chính sách, biến động thị trường LĐ ngoài
nước thì thường xuất hiện những bất lợi cho LĐ của ta, dẫn đến cạnh tranh bị
hạn chế so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Do đó việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp hoàn thiện hoạt động quản
lý của nhà nước phù hợp với điều kiện thực tế và hội nhập kinh tế quốc tế
(KTQT), để hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN được hiệu quả hơn là một
yêu cầu cấp thiết đặt ra cho các ngành các cấp. Vì vậy, tác giả chọn đề tài:
“Quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang
thị trường Nhật Bản” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của đề tài: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện
quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang thị
trường Nhật Bản.
2
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hoá một số vấn đề cơ bản của quản lý nhà nước đối với hoạt
động xuất khẩu lao động.
+ Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với xuất khẩu lao động
Việt Nam sang thị trường Nhật Bản.
+ Đề xuất các giải pháp có tính khả thi về hoàn thiện quản lý nhà nước
về hoạt động xuất nhập khẩu lao động sang thị trường Nhật Bản.
- Luận văn kinh tế chính trị tại Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2009 của tác giả Trần Xuân Thọ về Xuất khẩu lao động của Việt Nam
sang thị trường EU, đã hệ thống hóa những cơ sở lý luận về xuất khẩu lao
động; đưa ra cái nhìn tổng quan về thị trường lao động EU; quan hệ Việt Nam
– EU; và đặc biệt nghiên cứu chủ yếu về thực trạng xuất khẩu lao động của
Việt Nam sang thị trường EU. Trong đó có những nghiên cứu chi tiết về khu
vực Trung và Đông Âu (với các quốc gia như Séc, Slovakia, Bungaria,
Rumania, Đức, Ba Lan, Litva và các nước vùng Bantic) cũng như các nước
Tây, Nam và Bắc Âu (Phần Lan, Italia, vương quốc Anh, Pháp, Bỉ, Thụy
Điển, Bồ Đào Nha,…). Đóng góp mới của luận văn là đã đưa ra những dự báo
về đặc điểm và xu hướng xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường
EU trong thời gian tới cũng như một số giải pháp có tính khả thi cao.
- Luận án tiến sỹ kinh tế của Trần Thị Ái Đức tại Học viện chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2011 về Xuất khẩu lao động của Việt
Nam sang thị trường Trung Đông cũng đã hệ thống hóa những cơ sở lý luận
về xuất khẩu lao động; tìm hiểu về cung – cầu lao động và các quy định lao
động ở trị trường Trung Đông, trong đó tập trung vào Cộng đồng các nước
vùng Vịnh (GCC). Dựa trên việc tìm hiểu kinh nghiệm xuất khẩu lao động
4
của một số nước trong khu vực châu Á cũng như nghiên cứu thực trạng hoạt
động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Trung Đông, tác giả
đã có những đánh giá về thành tựu, hạn chế, chỉ ra nguyên nhân của hạn chế
và phát hiện những vấn đề cấp thiết trong hoạt động xuất khẩu lao động của
Việt Nam sang thị trường này trong thời gian qua. Qua đó, tác giả đã đưa ra
dự báo và giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam
sang thị trường Trung Đông trong thời gian tới.
- Luận văn Thạc sỹ thương mại của Vũ Thị Quỳnh Vân tại Trường Đại
học Ngoại Thương, 2011 về Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động của Việt
sách và thực tiễn, tác giả Đặng Nguyên Anh, nhân viên của Văn phòng Lao
động Quốc tế khu vực châu Á của ILO - Tổ chức Lao động Quốc tế). Tác
phẩm này nghiên cứu những chính sách xuất khẩu lao động của Chính phủ
Việt Nam, thực trạng của hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam tại một số
thị trường trọng điểm, mức lương tại các thị trường, các minh chứng về vấn
đề ngược đãi lao động, tình trạng lao động bỏ trốn và các bất cập của doanh
nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam,.... Tác giả đưa ra quan điểm cốt lõi để
nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam là Chính
phủ cần thực sự chú trọng nâng cao chất lượng nguồn lao động.
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu, bài báo bàn về các vấn đề
liên quan đến quản lý hoạt động xuất khẩu lao động. Những nghiên cứu này
có các cách tiếp cận khác nhau về lĩnh vực xuất khẩu lao động cũng như các
thị trường xuất khẩu lao động khác nhau. Tuy nhiên, một nghiên cứu về quản
lý nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang thị trường Nhật Bản
dưới góc độ quản lý nhà nước trên cơ sở đánh giá điểm mạnh, điểm yếu hiện
nay, cũng như các cơ hội và thách thức trong tương lai để đề xuất những giải
pháp hoàn thiện sẽ có những đóng góp nhất định và không trùng lắp với các
công trình đã có.
6
1.2. Khái quát về hoạt động xuất khẩu lao động
1.2.1. Khái niệm về hoạt động xuất khẩu lao động
Việc người lao động một nước đi làm việc ở một quốc gia khác thường
được gọi bằng thuật ngữ "Di chuyển lao động quốc tế". Đây là một hiện tượng
xã hội đã xuất hiện từ lâu và gắn liền với lịch sử phát triển của loài người. Di
chuyển quốc tế sức lao động là hiện tượng người lao động ra nước ngoài
nhằm tìm kiếm việc làm, nói cách khác họ di chuyển ra khỏi biên giới quốc
gia và bán sức lao động của mình để kiếm sống. Người lao động khi đó được
5. Cục Quản lý LĐ ngoài nước – Bộ LĐTBXH, báo cáo hàng năm
6. Cục Quản lý LĐ ngoài nước, Đề án ổn định và phát triển thị trường
LĐ ngoài nước thời kỳ 2001-2010
7. Cục Quản lý LĐ ngòai nước, Báo cáo Hội nghị XKLĐ và chuyên gia,
Hà Nội tháng 6/2000 và tháng 9/2001
8. Cục Quản lý LĐ ngòai nước, Báo cáo Tổng kết và triển khai Nghị
định số 81/2003/NĐ-CP của Chính phủ, Hà Nội tháng 12 năm 2003
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ IX , Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 210-211
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ X , Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
11. Ths. Nguyễn Vân Điềm & PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân (đồng chủ biên)
(2004), Giáo trình quản trị nhân lực, Nhà xuất bản LĐ xã hội, năm 2004
12. Giáo trình QLNN về kinh tế (2004), Trường Đại học kinh tế quốc dân,
Hà Nội
13. Tô Tử Hạ (2003), Từ điển hành chính, Nhà Xuất bản LĐ – Xã hội.
14. Trần Văn Hằng (1996), Các giải pháp nhằm đổi mới QLNN về XKLĐ
ở Việt Nam trong giai đoạn 1995-2010, luận án PTS Khoa học kinh tế
15. ILO, Một số tài liệu về chính sách và quản lý việc làm ngoài nước giới
8
thiệu tại hội thảo quốc tế tổ chức tại Hà Nội từ 19-23/3/1991
16. ILO, Nghiên cứu so sánh thực tiễn việc làm ngoài nước của các nước
gửi LĐ ở châu á, 1991
17. Kinh tế học trong các vấn đề xã hội, NXB LĐ, năm 1996, Người dịch:
Phan Đặng Cường.
18. Luật số 72/2006 HQ11 ngày 29/11/2006 về NLĐ Việt Nam đi làm
việc ở NN theo hợp đồng (2006)
QLNN về XKLĐ của nước ta trong giai đoạn hiện nay”
30. Nguyễn Như ý, Từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB Giáo dục 1998,
Trang 616
31. Cổng Thông tin điện tử Bộ Thương mại, Bộ LĐ –Thương binh và Xã hội
PHẦN TIẾNG ANH
34. Migration clippings, scalabrini Migration centre, Philippines, 1995
35. Premachadra, Athukorala (1993) “Improving the contribution of
Migrant Remittances to Development: The experience of Asian
Labour-exporting countries”. Quartly Review Vol.XXXI No 1,
International Migration
36. Rupa Chandra (2003) “Movement of Service Supply and India: A
case Study of the IT and Health Sectors” Prepared for the UDPD
Asia-Pacific Regional Initiative
10