SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN - Pdf 38

SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN
VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
UTILIZATION OF HUMAN RESOURCES IN VIETNAM’S RURAL AREA
BÙI QUANG BÌNH
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Nguồn nhân lực (NNL) là một trong những nguồn lực phát triển kinh tế quan trọng nhất của mỗi
quốc gia. Bài báo chỉ nêu một vài đánh giá về tình hình sử dụng NNL ở nông thôn Việt Nam
dưới góc độ xem xét cung cầu trên thị trường lao động ở khu vực này. Trên cơ sở đó, chúng tôi
đề xuất một số giải pháp góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của nông thôn Việt
Nam.
ABSTRACT
Human resources are one of the most important forces in a country’s economic development.
This paper is to examine the human resource utilization in Vietnam’s rural area in terms of the
demand and supply on this area’s labor market. We also propose some solutions to promote the
socio-economic development in Vietnam’s rural area.
1. Tình hình cung lao động ở nông thôn nước ta
Ở Việt Nam, đại bộ phận dân cư tập trung sinh sống ở khu vực nông thôn, tính đến ngày
1/7/2002, dân số cả nước là 79,93 triệu người, thì dân số nông thôn là 60,05 triệu người
(75,13%). Số người trong độ tuổi lao động là 35,44 triệu, khoảng 59% dân số, trong đó 30,9
triệu người tham gia vào lực lượng lao động (LLLĐ). Tốc độ tăng dân số bình quân hơn 10
năm qua là 1,7%, mức tăng trung bình của số người trong độ tuổi lao động là 2,6% năm.(1)
Khu vực nông thôn đang tập trung một số lượng lớn lực lượng lao động của cả nước và
với tốc độ tăng khoảng hơn 2,5% năm. Nhưng thời gian trung bình chưa sử dụng của cả nước
có xu hướng giảm xuống, nếu năm 1998 là 29,12% thì năm 2002 còn 24,46. Với LLLĐ ở nông
thôn năm 2002 là 30,98 triệu người và thời gian chưa sử dụng trung bình cả nước là 24,46 %,
nếu quy đổi thì sẽ tương đương đương khoảng 7,5 triệu người không có việc làm.
2. Xem xét cầu lao động ở nông thôn nước ta
Trong những năm gần đây, ở khu vực nông thôn, cầu lao động tăng chậm làm cho tình
hình cung cầu trên thị trường lao động mất cấn đối lớn.
Về cơ cấu ngành kinh tế, năm 2002 trong tổng số gần 31 triệu người tham gia LLLĐ ở

ở nhiều nước châu Á đã chứng minh cho lý thuyết trên.
Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 1991-2000 khoảng 632 ngàn tỷ (theo giá năm
1995 là khoảng 57 tỷ USD; trong đó đầu tư cho NN, nông thôn là 65.2 ngàn tỷ (5.9 tỷ USD)
chiếm khoảng 10,37%. Tương tự cho CN là 264 ngàn tỷ đồng (23.8 tỷ USD) chiếm 41,85 %, và
đầu tư cho giao thông bưu điện là 95.5ngàn tỷ đồng (8.6 tỷ USD) chiếm 15,14%). Nếu so sánh
với số lao động thu hút vào công nghiệp là 1,76 triệu, dịch vụ là 4,2 triệu, nông nghiệp là 3,1
triệu mười năm qua, thì rõ ràng việc đầu tư không mang lại hiệu quả cho việc thu hút thêm lao
động đặc biệt trong công nghiệp. Nếu tính giá trị vốn đầu tư cho một chỗ làm mới thì một chỗ
làm trong công nghiệp gấp khoảng 7 lần so với nông nghiệp. Chỉ thu hút thêm 3,1 triệu lao
động này trong 10 năm là quá nhỏ só với nhu cầu tăng thêm của hàng năm của khu vực nông
thôn là khoảng gần 1triệu người. (3)
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có vai trò lớn với nền kinh tế nước ta
hiện nay, song sự tác động của nó với ngành nông nghiệp không nhiều. Trong nông nghiệp, kể
từ khi có luật nước ngoài năm 1988 đến hết năm 2002, thu hút được 354 dự án với số vốn là
1,4333 tỷ USD trong đó có 678 triệu USD vốn pháp định, quy mô bình quân của một dự án chỉ
khoàng 4 triệu USD vốn đăng ký và 1,9 triệu USD vốn pháp định. Doanh thu từ các dự án FDI
này chỉ chiếm 0,4% giá trị tổng sản lượng nông lâm nghiệp (năm 2003). Nhìn chung, quy mô
vốn đầu tư không nhiều, đầu tư chủ yếu vào vùng Đông Nam Bộ, còn các vùng khác ít về số
lượng và quy mô nhỏ. Ngay đối với những vùng trọng điểm về nông nghiệp tập trung nhiều lao
động, với số lượng nông sản lớn như đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng cũng
rất ít (đặc biệt năm 2003 khu vực này không có dự án nào).
Với sự phát triển của các ngành công nghiệp dịch vụ cơ cấu ngành kinh tế có sự thay
đổi, NN tăng khá về giá trị tuyệt đối, song tỷ trọng trong GDP giảm từ 40.49% năm 1991
xuống còn 24,3 % vào năm 2000, tương ứng CN tăng từ 23,79% lên 36.61% và dịch vụ là
35,72% lên 39,09%. Nhưng cơ cấu lao động theo ngành kinh tế thay đổi không khả quan lắm,
lao động trong nông nghiệp giảm từ 72,6% (1991) tổng số lao động cả nước xuống còn 62,61
% năm 2000. Lao động trong công nghiệp tăng không đáng kể, nếu năm 1991 chiếm 13,6% thì
năm 2000 là 13,11%. Sự chuyển dịch lao động chủ yếu từ nông nghiệp sang các ngành dịch vụ,
năm 1991 tỷ trong lao động trong các ngành dịch vụ là 13,8% thì năm 2000 là 24,28%. Bài toán
việc làm cho lao động ở nông thôn nếu chờ đợi cả vào sự phát triển của các ngành công nghiệp

NSLĐ trong nông nghiệp là chỉ tiêu chất lượng phản ánh trình độ sử dụng lao động
trong lĩnh vực này, gia tăng NSLĐ là điều kiện cho phép thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và lao động nông nghiệp, nông thôn.
Năng suất lúa bình quân cả năm tăng từ 28,1 tạ/ha năm 1986 lên 45,5 tạ/ ha năm 2002
tăng gần 62% (bình quân tăng hơn 01 tạ/ ha năm). Trong nông nghiệp, ngành trồng trọt chiếm
tỷ trọng 80% giá trị tổng sản lượng nông nghiệp, lúa là cây trồng chính. Do đó, tăng năng suất
lúa là yếu tố quan trọng để tăng giá trị tổng sản lượng nông nghiệp (GTTSLNN). Điều đáng
chú ý là sản lượng lương thực tăng lên từ 18,4 triệu tấn năm 1986 thì năm 2002 là 36,3 triệu
tấn, bình quân tăng khoảng 1,052 triệu tấn 1 năm, trong đó do yếu tố tăng diện tích (từ 5,76
triệu ha năm 1986 lên 8,295 triệu ha năm 2002) khoảng gần 60 % còn do năng suất tăng là gần
40 %. Một trong những nguyên nhân tăng năng suất lúa ngoài yếu tố khoa học kỹ thuật, thì tác
động của năng suất lao động trong nông nghiệp tới mức tăng sản lượng là không nhiều. (5)
Chất lượng thấp của nguồn nhân lực ở khu vực nông thôn thể hiện qua tỷ lệ không biết
chữ là 4,79%, tốt nghiệp trung học phổ thông cơ sở là 34,59% và tốt nghiệp trung học phổ
thông là 11,18%. Nếu đánh giá trình độ văn hoá bình quân theo giới tính có thể thấy số năm đi
học văn hoá trung bình của khu vực nông thôn thấp hơn thành thị, của phụ nữ thấp hơn nam
giới. Theo các nhà nghiên cứu, năng suất lao động sẽ tăng nếu người nông dân có trình độ học
vấn ở mức độ nào đó, và nếu tốt nghiệp phổ thông, mức tăng này là 11%. Ngoài ra trình độ học
vấn còn cho người lao động khả năng lĩnh hội những kiến thức, kinh nghiệm sản xuất kinh
doanh. Với chất lượng của NNL nông thôn Việt Nam như vậy sẽ hạn chế họ trong sản xuất và
kinh doanh, đặc biệt là tự tạo việc làm.
Những năm qua trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn thay đổi không
đáng kể, tình trạng thu nhập thấp và thiếu việc làm ở nông thôn, trong lúc đó thu nhập cao hơn
ở các đô thị đã tăng sự dịch chuyển lao động, nhất là những lao động kỹ thuật từ nông thôn tới
các thành thị, và làm cho tỷ lệ lao động đã qua đào tạo giảm từ 6,91% xuống còn 5,94%. Trong
số 8 vùng nông thôn, những vùng có trình độ học vấn thấp cũng chính là những vùng có tỷ lệ
lao động đã qua đào tạo chuyên môn thấp, vùng Tây Bắc chỉ có 2,3%, Tây Nguyên là 3,41%.
NSLĐ nông nghiệp thấp còn vì lao động ở đây chủ yếu vẫn là lao động thủ công. Khâu
làm đất là khâu nặng nhọc nhất thì quá trình cơ giới hoá (CGH) diễn ra chậm, nếu năm 1990 tỷ
lệ cơ giới hoá là 21%, năm 1995 là 26% và năm 2002 là khoảng 30%. Một số khâu khác như

thực hiện nghiêm túc quy hoạch dài hạn sử dụng đất. Trong nông nghiệp phải thay đổi cơ cấu
về diện tích cây trồng trên cơ sở lựa chọn đúng cơ cấu cây trồng vật nuôi thích hợp, phải đẩy
nhanh thâm canh tăng vụ, nâng cao hệ số sử dụng ruộng đất, tăng nhanh giá trị sản lượng trên
một đơn vị diện tích. Phải tiếp tục thực hiện giao đất giao rừng cho nhân dân để gắn đất đai với
lao động, đất rừng phải có chủ. Hoàn thành giao đất cho những hộ dân không có đất sản xuất và
kèm theo những điều kiện hỗ trợ về khuyến nông để giúp họ sản xuất và khắc phục tình trạng
sử dụng kém hiệu quả đất đai của các doanh nghiệp nông lâm nghiệp. Trong xây dựng đô thị và
kết cấu hạ tầng quan trọng phải trên cơ sở quy hoạch tránh lãng phí. Tạo ra thị trường đất đai ở
khu vực nông thôn sẽ làm cho sự minh bạch về giá, giúp cho quá trình sử dụng nguồn vốn này
tốt hơn, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung đất đai, từ đó góp phần thực hiện CNH, HĐH
nông nghiệp nông thôn.
Thứ ba: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Xác định chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn và xây dựng nền nông nghiệp hàng hoá lớn. Vì thế cần một là: phát triển mạnh công
nghiệp và dịch vụ ở khu vực nông thôn. Tiếp theo là phát triển mạnh lâm nghiệp và thuỷ sản
nhằm thay đổi cơ cấu giữa nông- lâm- thuỷ sản. Trong nội bộ ngành nông nghiệp cần tiếp tục
đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, và tất nhiên là thay đổi cơ cấu cây trồng giảm tỷ trọng cây
lương thực, tăng tỷ trọng cây màu cây công nghiệp. Hai là: củng cố thị trường đã có, mở rộng
thị trường mới để tiêu thụ nông sản phẩm và dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn. Ba là: hoàn
chỉnh quy hoạch sản xuất nông lâm thuỷ sản và ngành nghề dịch vụ ở nông thôn theo hướng
hàng hoá gắn với thị trường. Bốn là: phát triển kinh tế nhiều thành phần.
Thứ tư: Cải tiến và đổi mới cơ chế huy động vốn, sử dụng và quản lý vốn đầu tư
Một mặt tăng tỷ lệ đầu tư từ ngân sách nhưng chủ yếu cho kết cấu hạ tầng cho nông
nghiệp nông thôn. Có cơ chế và chính sách phù hợp như chính sách miễn giảm thuế, chính sách
tín dụng..., để kêu gọi khuyến khích đầu tư từ nhiều nguồn vốn khác nhau vào nông nghiệp
nông thôn, đặc biệt là nguồn vốn FDI vẫn là nguồn vốn quan trọng để thúc đẩy sự phát triển và
chuyển giao công nghệ trong ngành nông -lâm- thuỷ sản.
Cần thúc đẩy sự hoạt động của hệ thống tài chính ngân hàng vào khu vực thị trường
nông thôn, nơi tỷ lệ rủi ro cao. Tạo ra những thuận lợi nhất để nông dân có thể tiếp cận với các
nguồn tài chính. Đẩy nhanh việc cổ phần hoá, hình thành thị trường vốn và vận hành tốt loại thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status