TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ
BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN
HỌC PHẦN 2
Tên đề tài: HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG VÀ Ý
NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN THỊ TRƯỜNG
SỨC LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN
Sinh viên thực hiện: Trần Khánh Linh
MSSV: 1415510092
STT: 63
Lớp: TRI103(2-1415).1_LT
Giảng viên hướng dẫn: cô Vũ Thị Quế Anh
Hà Nội – Tháng 3 năm 2015
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
MỤC LỤC............................................................................................................................................2
Nội dung Trang.....................................................................................................................................2
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................................................3
NỘI DUNG..........................................................................................................................................4
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN..........................................................................................................................4
1.Khái niệm hàng hóa...................................................................................................................4
hàng hóa sức lao động Việt nam hiện nay, từ đó đề xuất ra một số giải pháp góp phần
nâng cao và hoàn thiện thị trường sức lao động tại Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.
Khái niệm hàng hóa
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con
người thông qua trao đổi, mua bán.
Hàng hóa có hai thuộc tính cơ bản là giá trị và giá trị sử dụng.
2.
Hàng hóa sức lao động
2.1.
Sức lao động và sự chuyển hóa sức lao động thành hàng hóa
Theo C.Mác: “Sức lao động, đó là toàn bộ thể lực và trí lực trong thân thể một
con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người
phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích”
Sức lao động vốn là yếu tố của sản xuất và nó sẽ trở thành hàng hóa khi:
- Người lao động phải được tự do về thân thể và có quyền bán sức lao động của
mình.
- Người có sức lao động không có hoặc không có đủ tư liệu sản xuất cần thiết để
thực hiện quá trình sản xuất nên phải bán sức lao động của mình.
2.2.
Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công tính theo số lượng sản phẩm
đã làm ra hoặc việc hoàn thành xong số lượng công việc mà người công nhân trong
một thời gian nhất định.
2.3.3.
Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế
Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao
động của mình cho nhà tư bản.
Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa và dịch vụ
mà người công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình.
3.
Thị trường sức lao động
Thị trường theo nghĩa hẹp là nơi diễn ra sự trao đổi, mua bán hàng hóa. Còn theo
nghĩa rộng, thị trường là tổng thể tất cả các mối quan hệ cạnh tranh, cung – cầu, giá
cả,...mà trong đó giá cả và lượng hàng hóa tiêu thụ được xác định.
Thị trường sức lao động hay còn gọi là thị trường lao động là một trong sốcác
loại thị trường, trong đó diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là người lao động tự
do (người bán) và một bên là người cần sử dụng lao động (người mua). Sự trao đổi
này dựa trên thỏa thuận về tiền công, điều kiện lao động,...được thể hiện trên hợp
đồng lao động.
II.
NAY
THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN
Hiện nay, thị trường lao động đang có sự phát triển không đồng đều, dẫn tới sự
chênh lệch về tỷ suất cung – cầu trong thị trường lao động ở mỗi ngành nghề và mỗi
vùng miền khác nhau.
Trong các ngành kinh tế, tỉ trọng ngườilao động hoạt động trong ngành nông lâm - ngư nghiệp vẫn chiếm phần lớn với trên 50%.
Trong khu vực nông thôn – thành thị, tỉ trọng người lao động ở nông thôn chiếm
tới khoảng 70% nhưngngười lao động đã qua đào tạo lại tập trung chủ yếu ở thành
thị. Điều này làm cho thị trường lao động của nước ta phát triển không đồng đều giữa
các ngành và giữa các vùng với nhau, khiến nhịp độ phát triển kinh tế đất nước cũng
trở nên không đồng bộ, thống nhất.
1.2.
Vấn đề việc làmvà sự mâu thuẫn cung - cầu trong thị trường lao động
Với nguồn lao động đông đảo về số lượngnhưng chất lượng lại hạn chế, tình
trạng thất nghiệp và thiếu việc làm hoặc phải làm trái ngành nghề đào tạo đang diễn
ra phổ biến và dần trở thành một vấn nạn của xã hội ở nước ta, gây lãng phí nguồn
lao động.
Theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê, sáu tháng đầu năm 2013, tỷ lệ thất
nghiệp của lao động trong độ tuổi ước tính là 2.28% (tăng 0.32% so với năm 2012),
còn tỷ lệ thiếu việc làm là 2.95% (tăng 0.21% so với năm 2012). Như vậy, tỷ lệ thất
nghiệp và thiếu việc làm ở nước ta đang có xu hướng gia tăng. Điều này đồng nghĩa
với hiện nay trong thị trường lao động, cung đang lớn hơn cầu.
Mặt khác, hằng năm, nước ta lại được bổ sung thêm khoảng 1 triệu lao động
mới, trong đó có khoảng trên 200 nghìn sinh viên đại học, cao đẳng tốt nghiệp, cung
cấp một lượng lớn nguồn nhân lực cho xã hội nhưng các công ty, doanh nghiệp, đặc
biệt là doanh nghiệp nước ngoài vẫn kêu ca “khan hiếm nguồn lực” dẫn đến tình
trạng “vừa thiếu vừa thừa” nguồn lao động.
Nguyên nhân của tình trạng này là do sự mất cân đối về cung – cầu lao động.
Nguồnlao động quá lớntrong điều kiện các ngành sản xuất chưa thể tạo ra đủ việc
làm. Thêm nữa,người lao động chưa qua đào tạo hoặc có tay nghề thấp quá nhiều,
trường hợp người lao động lại được hưởng mức lương quá cao so với sức lực mà họ
bỏ ra. Chính vì thế, hiện nay chế độ tiền công trong thị trường lao động nước ta còn
nhiều bất hợp lý, còn mang tính bình quân cao, cần được khắc phục để đáp ứng đúng,
đủ sức lao động mà người lao động đã bỏ ra.
Nguyên nhân của thực trạng tiền công cho người lao động ở nước ta hiện nay
chưa hợp lý là do chính sách tiền công của nhà nước còn hạn chế, mức lương tối
thiểu đặt ra quá thấp, cơ chế quản lý tiền công cho người lao động ở các doanh
nghiệp tư nhân còn lỏng lẻo. Ngoài ra còn do nền kinh tế trong nước phát triển chưa
bền vững, thường xuyên biến động, gây ảnh hưởng tới mức lương của người lao
động.
2. Giải pháp phát triển thị trường lao động Việt Nam
Trước hết, cần vận dụng linh hoạtlý luận hàng hoá sức lao động phù hợp với
điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
đồng thời chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ hai, cần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành, theo thành phần
kinh tế và giữa các vùng miền để thị trường lao động có sự phát triển đồng đều, thống
nhất, tránh tình trạng có nơi thì dư thừa, có nơi lại khan hiếm nguồn lực.
Thứ ba, để giảm tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm, cần tiếp tục kiềm chế tốc độ
gia tăng dân số nhằm thu hẹp cung của thị trường lao động; nâng cao chất lượng đào
tạo bằng cách cơ cấu lại chỉ tiêu đào tạo đối với từng ngành, từng nghề sao cho phù
hợp với nhu cầu sử dụng nguồn lực của xã hội, cải tiến chế độ ưu đãi đối với đội ngũ
giáo viên, giảm học phí, đầu tư trang thiết bị học tập hiện đại; đa dạng hóa các loại
hình đào tạo; khuyến khích phát triển các ngành thủ công, làng nghề truyền thống tại
các địa phương để giải quyết số lao động dư thừa tại chỗ; chú trọng sử dụng người
lao động trẻ tuổi có năng lực để tránh gây lãng phí nguồn lực. Đồng thời, nên đầu tư
xây dựng các dự án khu công nghiệp, khu chế xuất, khu trung tâm thương mại,…để
- Hỏi-đáp môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin – Bộ Giáo dục và
Đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – sự thật.
2.
Các website
- Vấn đề lý thuyết và thực trạng hình thành, phát triển ở Việt Nam:
/>- Thực trạng nguồn lao động ở nước ta hiện nay:
/>html
- Chất lượng nguồn lực – vấn đề cần quan tâm hiện nay:
/>- Tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam đang có xu hướng tăng lên:
/>- Cơ cấu “dân số vàng” cơ hội và thách thức:
/>- Lý luận của C.Mác về hàng hóa sức lao động với thị trường lao động ở Việt Nam
hiện nay
/> />- Chất lượng nguồn nhân lực quá thấp:
/>type_code_id=4&article_code_id=353