TIỂU LUẬN TRIẾT học PHÉP BIỆN CHỨNG mác xít và ý NGHĨA với VIỆC KHẮC PHỤC CHỦ NGHĨA CHỦ QUAN DUY ý CHÍ HIỆN NAY - Pdf 39

MỞ ĐẦU
Trong lịch sử triết học, phép biện chứng xuất hiện từ thời cổ đại, lịch
sử phat triển của nó đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, gắn liền với sự
phát triển của khoa học và thực tiễn, nó đã trải qua các hình thức: phép
biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại là phép biện chứng tự phát, ngây
thơ; trong triết học Hêghen là phép biện chứng duy tâm; còn phép biện
chứng trong triết học Mác - Lênin là phép biện chứng duy vật. Sự khác
nhau đó bắt nguồn từ sự khác nhau trong giải quyết vấn đề cơ bản của triết
học và trong giải quyết vấn đề quan hệ giữa biện chứng khách quan và biện
chứng chủ quan.
Kế thừa có phê phán hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm của
Hêghen và khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên đương
thời, Mác và Ăngghen đã đưa ra những quan niệm mới về phép biện
chứng:“là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự
phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy.” (C. Mác và
Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1994, t. 20, tr. 201).
Kế thừa và phát triển tư tưởng của Mác và Ăngghen, Lênin đã đưa ra
định nghĩa về phép biện chứng. Lênin viết: “Phép biện chứng là học thuyết về
sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập” (V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb
Tiến bộ, M. 1981, t. 29, tr. 240). Hồ Chí Minh đánh giá: “Chủ nghĩa Mác có
ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng”. (Tư tưởng Hồ Chí Minh và
con đường cách mạng Việt Nam, Nxb. CTQG, H. 1997, tr.43 ).Tại sao Bác
Hồ lại khẳng định như vậy? Nội dung cụ thể của các tư tưởng đó thể hiện như
thế nào?Nghiên cứu nó có tác dụng như thế nào?Để trả lời những câu hỏi đó,
tôi lựa chọn chủ đề: Phép biện chứng mácxít và ý nghĩa đối với việc khắc
phục chủ nghĩa chủ quan duy ý chí hiện nay làm nội dung tiểu luận sau khi
đã nghiên cứu triết học Mác-Lênin.


2



việc tổng kết cách mạng 1848-1849 đặt ra nhưng yêu cầu mới trong sư vận
dụng và phát triển phép biện chứng. Sự thất bại của cách mạng ở Đức, Pháp
và các nước khác buộc Mác và Ăngghen phải di cư sang Anh. Thời kỳ này,
các ông vận dụng và phát triển phép biện chứng vào đời sống chính trị - xã
hội, luận giải một cách tài tình những vấn đề phưc tạp nhất lúc bấy giờ trong
những biến động có tinh chất cách mạng, đúc kết kinh nghiệm và phát triển
những vấn đề chung nhất của phong trào vô sản. Điều đó được thực hiện
trong một loạt tác phẩm của Mác: Đấu tranh giai cấp ở Pháp (1850); Ngày
mười tám tháng sương mù của Lui Bônapáctơ (1852); trong tác phẩm của
Ăngghen Cách mạng và phản cách mạng ở Đức (1851).
Trong nửa cuối những năm 50, Mác ráo riết nghiên cứu kinh tế - chính trị
học. Trong tiến trình nghiên cứu, do tiếp cận đến sự khái quát lý luận cơ bản,
Mác ngày càng suy nghĩ nhiều hơn về vấn đề phương pháp. Các trao đổi thư từ
trong những năm 50 phần nào đã chứng tỏ điều đó. Sự khái quát về nguyên tắc
được thực hiện trong tác phẩm viết dở dang Lời nói đầu cho Các Bản thảo kinh
tế (1857-1858). Ở đây, Mác đã vận dụng và phát triển phép biện chứng duy vật
trong việc nghiên cứu các vấn đề kinh tế. Giải thích vấn đề này, Ăngghen cho
rằng, phải lựa chọn phương pháp nào để nghiên cứu: hoặc là phương pháp
Hêghen, hoặc là phương pháp siêu hình. Theo Ăngghen, phương pháp siêu
hình đã bị Cantơ và Hêghen đập tan tành rồi, nhưng chính phương pháp của
Hêghen lại không dùng được. Vậy mà chưa ai dám đảm đương nhiệm vụ lớn
lao là phê phán phương pháp Hêghen một cách triệt để. Ăngghen nhận xét
rằng, Mác là người duy nhất có khả năng đảm đương công việc ấy, phê phán
Hêghen một cách toàn diện, triệt để nhằm rút ra được cái hạt nhân hợp lý, để
khôi phục lại phép biện chứng, giải thoát nó khỏi vỏ duy tâm thần bí. Ăngghen
nhấn mạnh: Chúng tôi coi việc xây dựng được cái phương pháp dùng làm cơ
sở cho sự phê phán của Mác đối với khoa học kinh tế chính trị là một thành
quả có ý nghĩa vị tất đã kém so với quan điểm duy vật cơ bản.




5

tư tương gia giáo điều của chúng mà thôi, vì trong quan niệm tích cực về cái
hiện tồn, phép biện chứng đồng thời cũng bao hàm cả quan niệm về sự phủ
định cái hiện tồn đó, về sự tuyệt vong tất yếu của nó; vì mỗi hình thái đã hình
thành điều được phép biện chứng xét trong sự vận động, tức là xét cả mặt
nhất thời của hình thái đó; vì phép biện chứng không khuất phục trước một
cái gì cả, và về thực chất thì nó có tính chất phê phán và cách mạng.”
(C.Mác: Tư bản, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1973, t.1, tr. 39).Có thể nói, tư tưởng
biện chứng của Mác đã được trình bày một cách sâu sắc trong nhiều tác phẩm
của ông, đặc biệt là trong bộ Tư bản. Tuy nhiên, do bận nhiều công việc quan
trọng và phải tập trung cho những nhiệm vụ ưu tiên, Mác không có điều kiện
để viết những tác phẩm bàn riêng về phép biện chứng. Do yêu cầu của lịch sử
và cũng do yêu cầu của Mác, Ăngghen đã nghiên cứu và trình bày phép biện
chững một cách tổng quát, nêu lên những nét cơ bản nhất của học thuyết này.
Những tư tưởng về phép biện chứng được Ăngghen trình bày tập trung trong
Chống Đuyrinh (1876-1878), Biện chứng của tự nhiên (1873 - 1883).
Trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ăngghen đã giải thích một cách đầy đủ,
hệ thống về những quy luật và phạm trù của phép biện chứng trong giới tự
nhiên và vô sinh, trong sự phát triển của xã hội, trong sự sáng tạo về tinh thần,
được biểu hiện như thế nào và ông cũng chỉ rõ ý nghĩa to lớn của phép biện
chứng đối với thế giới quan mácxít. Cần nói thêm rằng, cuốn sách này đã
được Mác đọc toàn bộ bản thảo và chương X về khoa kinh tế - chính trị là do
Mác viết. Nó có một ý nghĩa rất to lớn, đã được coi như một cuốn tóm tắt có
tính chất bách khoa về quan niệm của Mác và Ăngghen với các vấn đề triết
học, khoa học tự nhiên và lịch sử. Trong tác phẩm này, những vấn đề này về
phương pháp được đặc biệt chú ý, Ăngghen đã đánh giá cặn kẽ phép biện
chứng và làm rõ sự khác nhau về nguyên tắc giữa nó và tư duy siêu hình.

lớn nhất kìm hãm sự phát triển của khoa học tự nhiên. Đồng thời, nó lại được
giai cấp tư sản củng cố vì lợi ích của giai cấp đó, không từ bỏ nó và cũng


7

không cho nó thâm nhập vào khoa học tự nhiên. Vì thế xảy ra tình trạng thậm
chí phương pháp siêu hình trong điều kiện giữa thế kỷ 19 còn đưa khoa học tự
nhiên đến với thần học.
Trong tác phẩm này, Ăngghen cũng thử phân loại các hình thức vận
động của vật chất mà điều đó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của chủ
nghĩa duy vật biện chứng. Về thực chất, Ăngghen đã trình bày giả thuyết về
mối liên hệ phổ biến và sư phát triển của thế giới vật chất, và cố gắng phác
họa một sơ đồ về bức tranh của giới tự nhiên…
Sự phát triển của khoa học của giới tự nhiên ngay từ cuối thế kỷ 19 và
đặc biệt là trong thế kỷ 20 đem lại những cái mới mà những quan điểm của
Ăngghen về các hình thức cụ thể của vận động vật chất, tất nhiên đã lạc hậu.
Nhưng, việc tiếp cận biện chứng chung đến chỗ hiểu được kết quả phát triển
của khoa học, đến việc giải thích giới tự nhiên vẫn còn giữ nguyên ý nghĩa
của chúng trong thời đại ngày nay.
Điều đầu tiên cần nhấn mạnh là, trước những bước phát triển mới của
khoa học tự nhiên và những vấn đề phức tạp của xã hội, Ăngghen đã xác định
rõ tầm quan trọng của phép biện chứng. Ông cho rằng: Chính phép biện chứng
là một hình thức tư duy quan trọng nhất đối với khoa học tự nhiên hiện đại,
bởi vì chỉ có nó mới có thể đem lại sự tương đồng và do đó đem lại phương
pháp giải thích những quá trình phát triển diễn ra trong giới tự nhiên, giải
thích những mối liên hệ phổ biến, những bước quá độ từ một lĩnh vực nghiên
cứu này sang một lĩnh vực nghiên cứu khác.
Đi vào phân tích phép biện chứng, trước hết Ph.Ăngghen đã phân biệt
rạch ròi "biện chứng khách quan" và "biện chứng chủ quan". Theo ông, biện

trong các tác phẩm: Bàn về khẩu hiệu Liên bang châu Âu (1915); Chủ nghĩa đế
quốc, giai đoạn tuyệt cùng của chủ nghĩa tư bản (1916); Nhà nước và cách mạng
(1917)… Đó là những cống hiến vô giá vào kho tàng triết học Mác.
Từ những tư tưởng cơ bản của phép biện chứng mácxít trên đây, bước
đầu có thể rút ra một số kết luận sau:
1. Tư tưởng biện chứng mácxít không bao giờ tuyệt đối hoá sự khác biệt
giữa các mặt đối lập. Việc tuyệt đối hoá các mặt đối lập là quan điểm siêu
hình, luôn bị các nhà biện chứng phê phán kịch liệt.


11

2. Tư tưởng biện chứng mácxít, trước sau như một, đều khẳng định rằng
nguồn gốc của sự vận động và phát triển nằm ở bên trong sự vật, đó là sự tác
động qua lại của các mặt đối lập. Trong quá trình cùng tồn tại và sự tác động
qua lại giữa chúng, các mặt đối lập từ chỗ cân bằng trở nên mất cân bằng và
đến một lúc nào đó, vai trò chủ đạo của một mặt đối lập sẽ giảm đi trong quá
trình phát triển. Mặt đối lập khác từ vị trí phụ thuộc sẽ phát triển và chiếm giữ
vị trí chủ đạo. Sự phát triển của mặt đối lập này chỉ nằm ở trong phạm vi của
sự vật, do đó, nếu muốn vượt lên, nó phải chuyển hoá được mặt đối lập kia.
Chính sự chuyển hoá như vậy làm cho mặt đối lập thứ hai có được sức mạnh
tổng thể và sự vật mới ra đời có thể đạt tới một trình độ cao hơn sự vật cũ.
3. Phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh là sự vận dụng thuần thục
phương pháp biện chứng mácxít
Hồ Chí Minh không có tác phẩm riêng bàn về phương pháp. Nhưng
trong thực tế lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Người đã vận dụng
sáng tạo và nhuần nhuyễn các nguyên lý của phép biện chứng duy vật mácxít
kết hợp với các yếu tố biện chứng của triết học phương Đông qua đó tạo nên
một hệ thống phương pháp riêng của mình, rất macxít mà cũng rất Hồ Chí
Minh, không trộn lẫn được. Vì vậy, có thể nói, có phương pháp biện chứng

đoạn trước mắt của cách mạng Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn cho cách
mạng Việt Nam: từ giải phóng dân tộc đến giải phóng giai cấp và giải phóng
con người, tức là từ độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Tiếp theo, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhờ đứng
vững trên quan điểm thực tiễn và đường lối độc lập tự chủ, một mặt, chúng ta vẫn
tranh thủ viện trợ kinh tế và quân sự của các nước chủ nghĩa xã hội anh em, mặt
khác, chúng ta lại đánh theo đường lối và cách đánh Việt Nam, phù hợp với chiến
trường Việt Nam, vì vậy ta đã giành được thắng lợi vẻ vang: giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Khi miền Bắc từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tiền tư bản bước vào
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đặt vấn đề: Chúng ta phải


13

đùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến lên chủ
nghĩa xã hội và Người nhắc nhở: Tuy chúng ta đã có những kinh nghiệm dồi
đào của các nước anh em, nhưng chúng ta cũng không thể áp dụng những kinh
nghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta.
Đó là biện chứng Hồ Chí Minh trong xử lý mối quan hệ giữa thực tiễn và
lý luận, giữa cái riêng và cái chung.
Biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa mâu thuẫn và thống nhất của
các mặt đối lập.
Theo quan điểm mácxít, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập là quy luật cơ bản nhất của phép biện chứng duy vật, bởi mâu thuẫn là hiện
tượng phổ biến của mọi sự vật, hiện tượng và đấu tranh để đi tới chuyển hoá
giữa các mặt đối lập của mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động và phát triển.
Hồ Chí Minh cũng thừa nhận tính phổ biến của mâu thuẫn. Người viết: Cái gì
cũng có mâu thuẫn, vì cái gì cũng có biến âm, dương, có sinh có tử, có quá khứ, có
tương lai, có cũ, có mới. Đó là những mâu thuẫn sẵn có trong mọi sự vật.

Việt gian, đề thêm khẩu hiệu "giảm tô, giảm tức", chia lại ruộng công,...
Làm như vậy, theo Hội nghị phân tích, nếu không đánh đuổi được Pháp Nhật, nếu dân tộc còn phải chịu mãi kiếp ngựa trâu thì vấn đề ruộng đất cũng
không sao giải quyết được. Cuộc Cách mạng tháng 8/1945 đã lôi cuốn hàng
chục triệu nông dân, dù chưa được chia lại ruộng đất của địa chủ vẫn hăng hái
tiến bước cùng giai cấp công nhân làm nên cuộc cách mạng long trời lở đất,
giành lại nền độc lập cho dân tộc. Thắng lợi đó là sự thể hiện phép biện chứng
của Hồ Chí Minh trong xử lý mối quan hệ giữa mâu thuẫn cơ bản và mâu
thuẫn chủ yếu trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam.
Hồ Chí Minh cũng là bậc thầy về xử lý mâu thuẫn địch - ta, nêu tấm gương
về nghệ thuật vận dụng mâu thuẫn, khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù.
Theo quyết định của Đồng minh tại Hội nghị Pốtxđam (tháng 7/1945), gần 20 vạn
quân Tưởng đổ vào Bắc Đông Dương (từ vĩ tuyến 16 trở ra) và hàng vạn quân


15

Anh - Ấn Độ đổ vào Nam Đông Dương với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật.
Núp dưới bóng quân đội Anh, thực dân Pháp cũng đem quân trở lại nước ta. Nếu
kể cả quân đội Nhật tuy đã đầu hàng nhưng chưa bị tước vũ khí, thì vào lúc đó, có
gần nửa triệu quân nước ngoài đóng trên đất nước ta. Cùng một lúc phải đối phó
với nhiều kẻ thù, tình thế cách mạng Việt Nam như đang "nghìn cân treo sợi tóc".
Để bảo vệ thành quả cách mạng, Hồ Chí Minh chủ trương phải phân hoá kẻ thù,
bằng cách khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ của chúng.
Quân đội Tưởng vào miền Bắc có ba thế lực: cánh Lư Hán thuộc Đệ nhất
chiến khu Vân Nam, cánh Tiêu Văn thuộc Đệ tứ chiến khu Quảng Tây, cánh
Chu Phúc Thành thuộc quân khu Trung ương Trùng Khánh. Chúng giống
nhau về mục tiêu "diệt cộng, cầm Hồ" để dựng lên chính phủ tay sai, phục vụ
cho mưu đồ lâu dài của chúng, nhưng mâu thuẫn với nhau về lợi ích cá nhân.
Biết Lư Hán vốn có tư thù sâu sắc với Tưởng Giới Thạch và cả với Pháp (vì đã
bị Pháp tịch thu mấy chuyến hàng lớn trên tuyến đường sắt Hải Phòng Côn

đoàn kết mọi lực lượng "miễn là không phản lại quyền lợi dân chúng, không
là Việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với Tổ quốc”, và
"Không được phép bỏ một lực lượng nào sẵn sàng phục vụ quốc gia".
Phương pháp đại đoàn kết Hồ Chí Minh là lấy cái chung, cái tương đồng để
khắc phục cái riêng, cái dị biệt, lấy nhân ái, khoan đung để cảm hoá, lấy nhân
nhượng, thoả hiệp lẫn nhau để giải quyết bất đồng, "biến đại sự thành tiểu sự,
biến tiểu sự thành vô sự". Người phê phán một số cán bộ chỉ biết: chia rẽ, bênh
vực lớp này chống lại lớp khác, không biết làm cho các tầng lớp nhân nhượng
lẫn nhau, hoà thuận với nhau... quên rằng lúc này ta phải toàn dân đoàn kết,
không chia già trẻ, giàu nghèo để giữ nền độc lập, chống kẻ thù chung.
Như vậy, trong mâu thuẫn nội bộ nhân dân (mâu thuẫn không đối
kháng), có mặt thuận và mặt nghịch, bên cạnh mặt mâu thuẫn còn có mặt
thông nhất, để tồn tại trong sự thống nhất, phải biết lấy thuận chế nghịch, lấy
cái chung, cái đồng thuận để khắc phục cái riêng, cái dị biệt. Đó là biện chứng


17

trong cách xử lý của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giũa mâu thuẫn và thống
nhất các mặt đối lập.
Biện chứng giữa cái "bất biến" và cái “vạn biến".
Đây là một tư tưởng biện chứng hết sức sâu sắc của triết học phương
Đông, xuất phát từ quan niệm vạn vật sinh hoá đều do điều lý (quy luật) chi
phối, nếu nắm được điều lý của vũ trụ thì có thể điều khiển được mọi biến hoá
của trời đất (hiện tượng), nghĩa là có thể lấy cái bất biến chế ngự được cái vạn
biến, lấy tĩnh chế động, lấy nhu thắng cương...
Phép biện chứng duy vật mácxít cũng đã đề cập đến các cặp mâu thuẫn
và thống nhất, vận động và đứng im, nhưng mối quan hệ giữa bất biên và vạn
biên trong phép biện chứng của Hồ Chí Minh có nguồn gốc chủ yếu từ trong
triết học phương Đông và Việt Nam. Xưa Lý Thánh Tông, khi đi lo việc biên

ăn cơm, uống nước, hít thở khí trời... không bao giờ cũ, xưa nay và sau này
đều phải làm. Cần, kiệm, liêm, chính cũng vậy.
Trước khi sang Pháp đàm phán, Người chỉ dặn lại cụ Huỳnh có một câu:
"Mong cụ ở nhà: dĩ bất biến, ứng vạn biến". Ta hiểu đó là Người nói đến mối
quan hệ giữa mục tiêu và phương pháp, nguyên tắc và sách lược. Mục tiêu
của chúng ta là độc lập, thống nhất của Tổ quốc, tự do hạnh phúc của nhân
dân, đó là điều bất biến còn phương pháp - sách lược có thể tuỳ tình hình mà
biến hoá đa dạng, thay đổi linh hoạt, nhưng không được xa rời cái bất biến.
Hồ Chí Minh đã vận dụng phương pháp biện chứng này một cách rất hiệu quả
trong chỉ đạo cách mạng, đưa tới những thắng lợi to lớn chưa từng có trong lịch sử
dân tộc. Đúng như một nhà báo Pháp đã nhận xét: "Chính sự kết hợp mà không ai
bắt chước nổi giữa tính mềm dẻo với tính cương nghị, giữa tính linh hoạt về chính
trị với tính cứng rắn về nguyên tắc, giữa việc vận dụng truyền thông yêu nước với
sự phân tích mácxít đã tạo nên tính chất độc đáo của ông Hồ Chí Minh".
Cũng xuất phát từ phép biện chứng Đông - Tây kết hợp này, chúng ta
thấy Hồ Chí Minh đã giải quyết rất thành công, vừa khoa học, vừa nhuần nhị


19

các mối quan hệ biện chứng giữa truyền thông và hiện đại, kế thừa và đổi
mới, dân tộc và giai cấp, nội lực và ngoại lực, lực - thế, thời… mà do phạm vi
của bài viết, chúng tôi không có điều kiện bàn hết ở đây.
Tóm lại, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh được thể hiện một phần quan
trọng trong phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh. Về bản chất, đó là phương
pháp biện chứng duy vật mácxít được vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam, có
sự kết hợp với tư duy biện chứng phương Đông, in đậm dấu ấn phương Đông
và Việt Nam, nổi bật lên trong đó là sự kết hợp tính cương nghị về nguyên tắc
với tính mềm dẻo, linh hoạt về sách lược, lấy cái đại đồng để khắc phục cái
tiểu dị, đi từ dân tộc đến giai cấp, nhằm mục tiêu đại đoàn kết dân tộc, phân

đúng như Đảng ta đã thừa nhận: “Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí,
vi phạm qui luật khách quan.” và bài học “Mọi đường lối, chủ trương của
Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan” (Đảng Cộng
sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
CNXH, Nxb Sự thật, Hà Nội 1991, tr. 5).
Tương tự, có thể thấy nhận định trên trong Văn kiện Đại hội VIII với chủ
trương “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát
triển nhanh và bền vững”. (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb ST, H. 1996, tr. 107); vừa cần tránh sai lầm
chủ quan nóng vội trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vừa phải biết khơi dậy
trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của người Việt
Nam; và ở Đại hội IX với bài học “đổi mới phải dựa vào dân, vì lợi ích của
nhân dân, phù hợp với thực tiễn và luôn luôn sáng tạo”.(Đảng Cộng sản Việt
Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb ST H. 2001, tr. 81).
Cách đây hơn một thế kỷ, Mác đã khẳng định: Trong tiến trình phát triển
của mình, con người trước hết cần phải tạo ra những điều kiện vật chất của một
xã hội mới và không một nỗ lực mạnh mẽ nào của tư tưởng hay ý chí lại có thể
giải thoát họ khỏi số phận ấy. Trong quá trình xây dựng một chế độ xã hội mới,


21

việc hoạch định đường lối chiến lược lâu dài và định ra đường lối sách lược,
chính sách cụ thể cho từng giai đoạn là hết sức quan trọng. Song, như Lê nin đã
từng cảnh tỉnh chúng ta: Đối với một chính Đảng vô sản, không có sai lầm nào
nguy hiểm hơn là định ra sách lược của mình theo ý muốn chủ quan... Định ra
một sách lược vô sản trên cơ sở đó có nghĩa là làm cho sách lược đó bị thất bại.
Thực tiễn cũng đã chỉ ra rằng sự can thiệp một cách duy ý chí vào các quá trình
kinh tế, văn hoá và khoa học – kỹ thuật, việc áp đặt ý muốn chủ quan vào việc
hoạch định đường lối, chính sách vào hoạt động thực tiễn đã dẫn đến những biến

còn có mặt chủ quan. Mặt khách quan của đường lối, chính sách là hoàn cảnh
kinh tế, chính trị - xã hội, mối quan hệ giữa các giai cấp và lợi ích của chủ thể
đường lối, chính sách. Mặt chủ quan của đường lối, chính sách thể hiện trong ý
chí, nguyện vọng của chủ thể, trong việc lựa chọn các biện pháp, phương tiện
thực hiện nó trong thực tiễn. Bởi vậy, ngay trong những điều kiện hết sức thuận
lợi (lợi ích và ý muốn của chủ thể phù hợp với quy luật khách quan của sự phát
triển xã hội) thì trong bất cứ đường lối, chính sách nào và việc thực hiện nó
trong thực tiễn vẫn cứ tồn tại nguy cơ của chủ nghĩa chủ quan, của ý chí luận.
Nguy cơ đó là ở chỗ coi thường quy luật khách quan và lợi ích của quần chúng
lao động, xuyên tạc tư tưởng và mục đích của công cuộc cải tạo xã hội, xem
nhẹ kinh nghiệm lịch sử. Nó biểu hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, vi phạm nguyên tắc phân tích và đánh giá một cách khách
quan khoa học các hiện tượng xã hội, hiểu không đúng mối liên hệ giữa quy
luật phát triển của xã hội và lợi ích, nhu cầu của quần chúng.
Thứ hai, áp dụng biện pháp hành chính mệnh lệnh (thậm chí cả biện
pháp bạo lực) trong quản lý kinh tế và quản lý xã hội, bất chấp quy luật khách
quan của sự phát triển xã hội.
Thứ ba, từ bỏ nguyên tắc dân chủ, say mê quyền lực, sùng bái cá nhân và
coi thường quần chúng lao động.
Trong lịch sử, chủ nghĩa chủ quan và duy ý chí thường gắn liền với "lý luận
bạo lực". Cơ sở của lý luận này là tuyệt đối hóa "phương pháp chiến tranh", sùng


23

bái bạo lực và vai trò của cá nhân trong lịch sử. Mác và Ăngghen đã chứng minh
tính vô căn cứ của lý luận này và khẳng định sự phá sản tất yếu của nó.
Khi vạch ra phép biện chứng của nhân tố chủ quan và nhân tố khách
quan, khắc phục chủ nghĩa ... trong lịch sử, các ông đã đưa ra luận cứ về khả
năng và giới hạn của bạo lực trong đời sống xã hội. Và, khi phê phán quan

trên thực tế, chưa thực sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hóa
đang tồn tại khách quan, do đó không chú ý vận dụng chúng vào việc chế
định các chủ trương, chính sách kinh tế.
Một biểu hiện nữa của sai lầm do mắc bệnh chủ quan duy ý chí là đường
lối tiến hành công nghiệp hóa và tập thể hóa nông nghiệp. Từ chỗ không đánh
giá đầy đủ những đặc thù của một nước nghèo nàn và kém phát triển, nền
kinh tế vẫn ở tình trạng nông nghiệp lạc hậu, trang bị kỹ thuật, kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội thấp kém, chúng ta đã vội vàng tiến hành công nghiệp hóa xã
hội chủ nghĩa, hơn nữa lại tập trung ngay vào công nghiệp nặng với vốn đầu
tư lớn song hiệu quả chẳng thu được là bao. Đặc biệt, khi tiến hành tập thể
hóa nông nghiệp chúng ta đã cứng nhắc, rập khuôn theo nước ngoài, không
tính đến một cách đầy đủ sự lạc hậu, nặng tính tự cấp, tự túc và phân tán của
nền nông nghiệp nước ta. Khi đó chúng ta đã quên rằng chính Ăngghen đã chỉ
rõ: Bất cứ ở đâu, bản thân những biện pháp quá độ cũng sẽ phải thích ứng
với những điều kiện sẽ có trong thời gian đó, những biện pháp quá độ đó,
trong các nước có chế độ chiếm hữu ít ruộng đất, sẽ căn bản khác với những
biện pháp quá độ trong các nước có chế độ chiếm hữu nhiều ruộng đất. Sai
lầm đó đã được lặp lại sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Khi đó, với khí thế của một dân tộc vừa chiến thắng lại cộng thêm nhiệt tình
mang nặng tính tiểu tư sản, chúng ta chỉ thấy một mầu hồng mà không lường
hết khó khăn trong quá trình công nghiệp hóa và tập thể hóa nông nghiệp.
Chủ nghĩa chủ quan duy ý chí đã dẫn chúng ta đến chỗ tạo ra chế độ
hành chính mệnh lệnh, tạo ra cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Đến lượt
mình, chế độ hành chính mệnh lệnh, cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp lại
trở thành "mảnh đất mầu mỡ" để chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí phát triển.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status