MỞ ĐẦU
“…Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước
tôi được hoàn toàn độc lập, dân tôi được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng
có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái
nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc, để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm
bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu...”
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại của Đảng và nhân dân ta, chiến
sĩ cộng sản quốc tế lỗi lạc, Người đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách
mạng của dân tộc. Trước khi qua đời, Người đã để lại cho Đảng và nhân dân
ta di sản lý luận vô cùng quý giá, thật sự là nguồn trí tuệ to lớn soi sáng công
cuộc đổi mới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ, kinh tế
nông nghiệp là chủ yếu. Sản xuất nông nghiệp có vai trò cực kỳ quan trọng
đối với việc phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. Ngay trong ngày
đầu cách mạng Tháng Tám mới thành công, trong Thư gửi điền chủ nông gia
Việt Nam, Hồ Chí Minh viết: "Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp.
Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước
nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một
phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta
thịnh" ( Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, trang 215)
Trong khi lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược, Hồ Chí Minh cho rằng vai trò của sản xuất nông nghiệp
có ý nghĩa đối với sự thành bại của kháng chiến. Nông nghiệp, nông thôn lúc
bấy giờ có thể nói là toàn bộ hậu phương của cuộc kháng chiến, Hồ Chí Minh
nhiều lần nhắc đên câu châm ngôn “thực túc binh cường”. Ngay khi cuộc
kháng chiến bắt đầu nổ ra, Hồ Chí Minh đã nhận định để kháng chiến chóng
1
thành công thì phải tích cực phát triển nông nghiệp làm cơ sở, làm hậu phương
khẳng định: Trong quá trình đổi mới cần phải kiên định mục tiêu độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh. Những tư tưởng của Người đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam.
Như vậy, việc tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ về mặt lý luận, nâng cao
trình độ nhận thức phục vụ cho công tác giảng dạy và góp phần thúc đẩy sản
xuất nông nghiệp phát triển trong tình hình hiện nay là cần thiết, vì những lý
do trên tác giả xin chọn đề tài “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nông
nghiệp, nông thôn. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông
nghiệp, nông thôn trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài tiểu luận của mình, tác
giả mong muốn góp phần vào việc tìm hiểu tư tưởng kinh tế của Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Tuy nhiên, do những hạn chế về kiến thức,vì vậy tác giả sẽ không
tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình hoàn thành tiểu luận này. Rất mong
sự đóng góp ý kiến và của quý thầy cô, các bạn có quan tâm để đề tài nghiên
cứu được hoàn thiện tốt hơn.
Kết cấu tiểu luận ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu
tham khảo, nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
về phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn
Chương 2: Những tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát
triển kinh tế nông nghiệp và nông
Chương 3: Vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển
kinh tế nông nghiệp và nông thôn ở nước ta hiện nay
3
NỘI DUNG
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN HÌNH THÀNH TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.2 Lý luận C.Mác và Ăngghen về nông nghiệp
Dựa trên quan điểm duy vật lịch sử, C.Mác và Ăngghen cho rằng sản
xuất của cải vật chất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Thật
vậy, muốn sống, trước hết còn người phải có ăn, uống, ở và những của cải vật
chất khác. Những thứ này không có sẵn trong tự nhiên, chúng được tạo ra
thông qua lao động của còn người.
C.Mác cho rằng: "Đứa trẻ con nào cũng biết rằng bất kể dân tộc nào
cũng sẽ diệt vong, nếu như ngừng lao động, không phải một năm mà chỉ mấy
tuần thôi". Sản xuất của cải vật chất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói
riêng là một tất yếu khách quan. Nó cần thiết cho mọi hình thái kinh tế xã hội.
Tuy nhiên, do sự phát triển của lực lượng sản xuất và trên cơ sở đó, quan hệ
sản xuất có sự biến đổi làm cho tính chất của sản xuất, phân phối, trao đổi của
mỗi hình thái kinh tế xã hội có sự khác biệt nhất định. Trong lịch sử phát triển
của xã hội loài người, do tồn tại chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nên
đã tồn tại quan hệ người bóc lột người. Trong nông nghiệp cũng vậy, chế độ
tư hữu ruộng đất đã gây ra nhiều trở ngại cho sự phát triển và nâng cao năng
suất lao động nông nghiệp.
C.Mác viết: "Sở hữu ruộng đất, nguồn gốc đầu tiên của mọi của cải trở
thành một vấn đề lớn mà việc giải quyết sẽ định tương lai của giai cấp công
nhân". Theo Mác, để giải phóng giai cấp vô sản thoát khỏi ách áp bức, bóc lột,
trước hết phải giải quyết vấn đề sở hữu. Trong nông nghiệp đó là giải quyết
vấn đề sở hữu ruộng đất. Làm được việc đó, bước đầu đã khắc phục được trở
ngại lớn cho sự phát triển nông nghiệp, nhất là đưa tiến bộ khoa học công
nghệ vào sản xuất, kinh doanh. C.Mác chỉ rõ: "Trong nông nghiệp, do xiềng
5
xích của chế độ tư hữu, do tình trạng phân tán của ruộng đất, nên rất khó áp
dụng những sự cải tiến và những thành tựu của khoa học và sẽ cung cấp hoàn
toàn đầy đủ sản phẩm cho xã hội".
ngoại giao đầu tiên phục vụ cho sự nghiệp kiến quốc là: “Sẵn sàng gửi 50
thanh niên Việt Nam ưu tú sang học hỏi kỹ nghệ canh nông ở Hoa Kỳ…”
2.2 Xuất phát từ thực tiển cuộc sống
Từ khi sinh ra và lớn lên Hồ Chủ tịch đã chứng kiến nỗi thống khổ của
người dân mất nước. Người nông dân hiền lành chất phác, cần cù lao động
nhưng bị một cổ hai tròng áp bức, sưu cao, thuế nặng, làm quần quật mà vẫn
cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, Với tấm lòng yêu nước, thương dân,
Người đã ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng cho quê hương đất nước khỏi
cảnh nô lệ, lầm than đưa lại tự do, đưa lại nền độc lập cho nước nhà
2.3 Từ thực tiển lãnh đạo nhân dân trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc,
thống nhất đất nước và trong xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội.
Giai đoạn từ năm 1911 đến cách mạng tháng Tám năm 1945.
Đây là giai đoạn Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và về
nước chuẩn bị lực lượng để tiến hành cách mạng nhằm đánh đổ thực dân
phong kiến. Trong thời gian hoạt động ở nước ngoài, bằng ngòi bút sắc sảo
viết trên các báo chí nước ngoài và từ những bài tham luận trong các Hội nghị
quốc tế, Người đã tốt cáo đanh thép tội ác của thực dân Pháp đối với các nước
thuộc địa nói chung và đối với nhân dân Việt Nam và nhân dân Đông Dương
nói riêng nhằm thức tỉnh tinh thần đấu tranh của nhân dân các dân tộc bị áp
bức trên thế giới. Trong cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam, với khẩu
hiệu đánh đổ đế quốc, giành độc lập cho dân tộc và đánh đổ phong kiến, giành
ruộng đất cho dân cày, Người đã tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân
liên minh với giai cấp công nhân tiến hành Cách mạng tháng Tám thắng lợi
lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Giai đoạn 1945-1954.
Đây là giai đoạn vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Sau cách mạng tháng
Tám, chính quyền cách mạng non trẻ đứng trước muôn vàn khó khăn, thử
thách. Thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai.Quân Anh,
Tưởng đều lăm le xâm lược Việt Nam. Trong nước bọn phản động nổi lên như
nấm. Giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm luôn đe dọa sự tồn tại của chính
MINH VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN
Tại Đại Hội Đảng lần thứ XI Đảng chúng ta vân kiên trì lấy chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí
tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn
của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù
hợp với nguyện vọng của nhân dân.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn là
một bộ phận trong hệ thống tư tưởng kinh tế của Người. Hồ Chí Minh xác
định :“Phải lấy nông nghiệp làm chính, nhưng phải toàn diện, phải chú ý các
mặt công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông, kiến trúc,
văn hóa, giáo dục, y tế … các ngành này phải lấy phục vụ nông nghiệp làm
trung tâm”. Điều này đòi hỏi mọi chủ trương, đường lối, phương châm, kế
hoạch, mục tiêu phát triển của công nghiệp và các ngành kinh tế khác phải lấy
nông nghiệp, nông thôn làm đối tượng phục vụ, phải có chính sách ưu tiên, ưu
đãi đối với nông nghiệp và nông thôn. Người nói: “Nông thôn tăng gia sản
xuất thực hành tiết kiệm thì ngày càng giàu có. Nông thôn giàu có sẽ mua
nhiều hàng hóa của công nghiệp sản xuất ra. Đồng thời sẽ cung cấp đầy đủ
lương thực, nguyên liệu cho công nghiệp và thành thị. Như thế là nông thôn
giàu có giúp cho công nghiệp phát triển”. Những tư tưởng kinh tế nói chung,
về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng của Hồ Chí Minh là
một mẫu mực của sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác Lênin và những quy luật kinh tế khách quan vào hoàn cảnh lịch sử
cụ thể của Việt Nam. Tư tưởng về phát triển nông nghiệp của Hồ Chí Minh đã
và đang là những cơ sở lý luận cho đường lối phát triển kinh tế nói chung,
đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng của Đảng ta.
14
1. Vai trò của nông nghiệp và nông thôn.
đề rất quan trọng. Người đánh giá “Nông thôn của ta, nhà ở của đồng bào phần
nhiều đang ọp ẹp, tối tăm, chẳng ra sao, chẳng có hàng lối gì....Khi trước nhà nào
lo làm nhà nấy, làm thế nào cũng được. Nhưng bây giờ không phải như thế. Bây
giờ minh phải đổi mới nông thôn. Nông thôn mình phải quang đãng, sạch sẽ”.
1.2. Nông nghiệp là cơ sở để phát triển công nghiệp và các ngành kinh tế
quốc dân.
Trước hết, nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp.
Hồ chủ tịch nhấn mạnh vai trò của nông nghiệp đối với công nghiệp. Người
viết: “Sản xuất nông nghiệp ... cung cấp nguyên liệu, vật liệu để khôi phục tiểu
công nghiệp, thủ công nghiệp cho công nghiệp và cung cấp lâm thổ sản để mở
rộng quan hệ với nước ngoài
Thứ hai, phát triển nông nghiệp nhằm xây dựng một cơ cấu kinh tế quốc dân
thống nhất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ mối quan hệ và sự tác động qua lại
giữa nông nghiệp, công nghiệp và các thành phần kinh tế khác. Trong mối quan hệ
với công nghiệp, Người đã cho rằng “người thì có hai chân, kinh tế một nước thì
có hai bộ phận chính: nông nghiệp và công ngiệp. Người còn nhấn mạnh “Nông
nghiệp không phát triển thì công nghiệp không phát triển được”.
Tuy nhiên do xuất phát từ một nước nông nghiệp, sản xuất nhỏ đi lên, trong
từng giai đoạn cụ thể của cách mạng, nông nghiệp luôn được Người quan tâm và
chú ý nhiều hơn. Người khẳng định: “Nông nghiệp là ngành chính”; “Nông
nghiệp là mặt trân cơ bản”; “Nông nghiệp là mặt trận hàng đầu”...
Từ năm 1949, ở vùng được giải phóng, Bác đã nhận thức rõ về vai trò của
nông nghiệp trong việc đảm bảo lương thực, thực phẩm để kháng chiến chống
Pháp thắng lợi. Người viết: “ Mặt trận kinh tế gồm có công nghệ, buôn bán, nông
nghiệp, ngành nào cũng quan trọng, nhưng lúc này quan trọng nhất lầ nông
16
nghiệp, vì “ Có thực mới vực được đạo”, có đủ cơm ăn, áo mặc cho bộ độivà
máy cày, máy bừa, nhiều phân hóa học...”
Phải đẩy mạnh cải tiến nông cụ, ứng dụng khoa học kỹ thuật, thực hiện
công nghiệp hoá nông nghiệp. Hồ Chí Minh cho rằng cải tiến nông cụ là một
công việc rất quan trọng để phát triển sản xuất nông nghiệp. Nói về ích lợi của
việc cải tiến nông cụ, Người đã chỉ rõ nếu làm tốt phong trào cải tiến nông cụ,
thì sức lao động sẽ lợi gấp đôi, gấp ba, mà lúa và hoa màu sẽ tốt gấp bội, tức
là năng suất lao động sẽ tăng lên nhiều. Chúng ta đều biết rằng, năng suất lao
động chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, nhưng trong đó nhân tố giữ vai trò
quyết định năng suất cao hay thấp là do công cụ lao động hiện đại hay thô sơ.
Chính do nông cụ của chúng ta thô sơ, lạc hậu mà người nông dân làm việc
tốn nhiều công sức, vất vả nhưng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế lại
kém. Theo tư tưởng của Người, việc cải tiến nông cụ cần phải thực hiện mạnh
hơn nữa, toàn diện hơn nữa; phải chú ý cải tiến từ cái cày, cái bừa, chiếc xe
vận tải cho đến các dụng cụ làm cỏ, tuốt lúa, thái rau,...Đồng thời với việc gây
dựng phong trào cải tiến nông cụ rộng khắp, Người yêu cầu phải đẩy mạnh
công nghiệp phục vụ sản xuất nông nghiệp, đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn.
Trong Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III) bàn
về phát triển công nghiệp, Người nói: "Công nghiệp phát triển mạnh để cung
cấp đủ hàng tiêu dùng cần thiết cho nhân dân, trước hết là nông dân; cung
cấp máy bơm nước, phân hoá học, thuốc trừ sâu...để đẩy mạnh nông nghiệp;
và cung cấp dần máy cày, máy bừa cho các hợp tác xã nông nghiệp".
Cùng với việc gây dựng phong trào cải tiến nông cụ, đưa máy móc vào
sản xuất, Người đề nghị cán bộ và nhân dân phải ra sức học tập và ứng dụng
tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động, cải
thiện đời sống, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh rất coi trọng khoa
học công nghệ. Sở dĩ như vậy là vì Người đã nhìn thấy trước được xu hướng
18
phát triển của khoa học công nghệ trên thế giới và vai trò cực kỳ quan trọng
cứ lý luận, lịch sử phát triển cho đến các loại hình và cách thức tổ chức hợp
tác xã. Sở dĩ, Hồ Chí Minh quan tâm nhiều đến hợp tác hoá, xây dựng quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp, nông thôn là vì theo Người, đây
không chỉ là một biện pháp quan trọng để đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết
kiệm, nâng cao hiệu quả kinh tế, cải thiện đời sống nông dân, phát triển nền
sản xuất nông nghiệp một cách vững chắc, mà còn là một tất yếu khách quan
trên con đường đấu tranh cách mạng, xoá bỏ áp bức bóc lột, xây dựng nông
thôn xã hội chủ nghĩa.
Vấn đề đưa nông dân từng bước vào con đường làm ăn tập thể đã được
Ăng ghen nêu ra từ năm 1894. Trong tác phẩm "Vấn đề nông dân ở Pháp và
Đức" Ăng ghen đã dạy rằng khi nắm được chính quyền, chúng ta không được
suy nghĩ về việc cưỡng bức những người tiểu nông như chúng ta cần phải làm
với bọn địa chủ lớn, mà nhiệm vụ chính là ở chỗ phải chỉ rõ cho nông dân
thấy, chúng ta có thể cứu và giữ gìn đất đai, vườn tược cho họ chỉ khi chuyển
chúng thành sở hữu tập thể và sản xuất tập thể.
Sau này V.I.Lênin đã phát triển tư tưởng đó trong tác phẩm "Bàn về chế
độ hợp tác xã" chỉ rõ tầm quan trọng của hợp tác xã trong công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin khẳng định: "Nếu chúng ta tổ chức được toàn thể
nông dân vào hợp tác xã thì chúng ta đứng vững được hai chân trên miếng
đất xã hội chủ nghĩa" và đưa ra những chỉ dẫn có tính nguyên tắc về hợp tác
hoá trong thực tiễn, đó là: tự nguyện; nhà nước phải giúp đỡ về vật chất; thực
hiện từng bước đi dần từ thấp đến cao. Đồng thời V.I.Lênin lưu ý cần phải quan
tâm đến việc giáo dục thuyết phục, nâng cao trình độ văn hoá cho nông dân và
phải nêu gương bằng thực tiễn, tạo ra lợi ích thiết thân cho họ.
Kế thừa và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh
cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định công cuộc xây dựng
20
chủ nghĩa xã hội ở nước phải bắt đầu từ nông nghiệp, nông dân và muốn phát
thực tiễn, Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định hợp tác hoá nông nghiệp ở nước
ta, cần phải trải qua hình thức tổ đổi công và hợp tác xã sản xuất nông nghiệp.
Nhưng trước hết phải bắt đầu từ chỗ xây dựng và phát triển rộng khắp tổ đổi
công, với các hình thức như tổ đổi công từng vụ, từng việc, tổ đổi công
thường xuyên. Sau này tổ đổi công thường xuyên đã rộng khắp và có nền nếp
rồi, mới tiến lên xây dựng hợp tác xã nông nghiệp từ thấp đến cao. Chớ vội tổ
chức hợp tác xã ngay. Chúng ta phát triển từng bước vững chắc tổ đổi công và
hợp tác xã thì hợp tác hoá nông nghiệp nhất định sẽ thành công.
Về nguyên tắc xây dựng tổ đổi công và hợp tác xã, Hồ Chí Minh căn dặn
là không được cưỡng ép ai hết. Phải tuyên truyền, giải thích cho nông dân thấy
được lợi ích của tổ đổi công và hợp tác xã. Phải làm sao cho những gia đình
trong tổ đổi công và hợp tác xã đều có lợi. Có lợi thì người ta mói vui lòng
vào. Quản trị phải dân chủ. Việc làm phải bàn bạc với nhau, mọi người đều
hiểu mới vui lòng làm.
Về phương châm tiến hành: chắc chắn, thiết thực, từ nhỏ đến lớn. Chớ
ham làm mau, ham rầm rộ. Làm ít mà chắc chắn hơn làm nhiều, làm rầm rộ
mà không chắc chắn. Đi bước nào vững vàng, chắc chắn bước ấy, cứ tiến tới
dần dần. Đã tổ chức là phải làm việc thiết thực, chứ không phải tổ chức cho có
tên mà không có thực tế, có số lượng mà không có chất lượng. Phải làm từ
nhỏ đến lớn, không nên tổ chức quá to, vì quá to thì khó quản lý, dễ thất bại.
Về củng cố và phát triển hợp tác xã, Hồ Chí Minh căn dặn cần phải chú ý
các điều kiện cần thiết sau:
Đi đôi với việc tuyên truyền, giáo dục, vận động thuyết phục nông dân
cần phải tổ chức tốt các hợp tác xã kiểu mẫu.
Cán bộ đảng viên phải chí công vô tư, phải làm tròn nhiệm vụ của người
cộng sản; đoàn viên thanh niên lao động phải làm gương mẫu, làm đầu tàu.
22
Lãnh đạo phải dân chủ. Quản lý phải chặt chẽ và toàn diện. Phân phối phải
lẻ vốn có trong nền kinh tế tự nhiên, làm hình thành một thị trường rộng lớn
thống nhất trong toàn quốc và sau đó trên toàn thế giới. Sản xuất cho mình
biến thành sản xuất cho toàn xã hội.
Hai là, thay vào tình trạng phân tán trước kia là sự tập trung sản xuất
chưa từng thấy, cả trong nông nghiệp cũng như trong công nghiệp.
Ba là, đẩy lùi những hình thức lệ thuộc cá nhân, là những hình thức vốn
có trong các chế độ kinh tế cũ...So với lao động của người nông dân bị lệ
thuộc hay bị nô dịch, thì lao động của người công nhân làm thuê tự do trong
tất cả các ngành kinh tế quốc dân là một hiện tượng tiến bộ.
Bốn là, tạo ra tình trạng lưu động của dân cư mà các chế độ kinh tế xã
hội cũ không cần có, và ở vào thời kỳ ấy tình trạng lưu động đó cũng không
thể tồn tại một cách khá rộng rãi được.
Năm là, thường xuyên làm giảm bớt tỉ lệ của số dân cư làm nghề nông và
làm tăng thêm số trung tâm công nghiệp lớn.
Sáu là, làm cho dân cư ngày càng thấy cần phải lập hội, kết đoàn và làm
cho các tổ chức liên hiệp ấy có một tính chất riêng biệt, tạo ra sự cạnh tranh
gay gắt hình thành những tập đoàn lớn trong sản xuất và thúc đẩy mạnh mẽ
nội bộ mỗi tập đoàn ấy đi đến chỗ liên hiệp nhau lại.
Bảy là, sự chuyển biến mau chóng của các phương thức sản xuất và sự
tập trung rất lớn của sản xuất, tiêu diệt hết thảy mọi hình thức lệ thuộc cá nhân
và những quan hệ gia trưởng, sự lưu động của dân cư, sự ảnh hưởng của các
trung tâm công nghiệp lớn… tất cả những điều ấy không thể không dẫn đến
một sự thay đổi sâu sắc trong chính ngay tính chất của những người sản xuất.
Từ các biểu hiện ở trên, chúng ta có thể khái quát: Xã hội hoá sản xuất là
sự liên kết nhiều quá trình kinh tế riêng lẻ thành quá trình kinh tế xã hội dựa
trên cơ sở phân công lao động xã hội và hợp tác sản xuất phát triển.
24
Trong lịch sử đã từng có hai loại hình xã hội hoá sản xuất, đó là xã hội