HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA BÁO CHÍ
Tiểu Luận
Lịch sử Báo chí Việt Nam
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Lê Thúy Hằng
Sinh viên: Trần Anh Phương
Khoa: Báo chí
Lớp: Báo Ảnh K30
Hà Nội ,ngày 28 tháng 12 năm 2012
1
Tiểu luận môn
Lịch sử báo chí Việt Nam.
*****
Đề bài: Sự nghiệp báo chí và quá trình hoạt động báo chí của
nhà thơ,nhà văn, nhà báo Tản Đà- Nguyễn Khắc Hiếu.
2
2
Tản Đà (1889-1939)
3
3
4
II. Giới thiệu về Tản Đà:
Tản Đà (1888–1939) tên thật Nguyễn Khắc Hiếu ,là một thi sĩ, văn sĩ,
kịch tác gia lãng mạn người Việt Nam. Trên văn đàn của văn học Việt Nam
trong hơn 3 thập niên đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng,
vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tạo. Ông là một cây bút phóng khoáng,
xông xáo trên nhiều lĩnh vực, đi khắp miền đất nước, ông để lại nhiều tác phẩm
với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp
chí.
Trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao
sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác. Ông là một cây bút phóng
khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực. Đi khắp miền đất nước, ông đã để lại
nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu
Thanh, An Nam tạp chí. Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông
nghênh, đậm cá tính, ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của
thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là "gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ
điển và hiện đại".
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu quê tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt,
tỉnh Sơn Tây (nay là xã Sơn Đà, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội), nguyên quán
ở làng Lủ tức làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà
Đông (nay là phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội).
Ông thuộc dòng dõi quyền quý, có truyền thống khoa bảng. Tổ tiên ông
xưa kia có nhiều đời làm quan dưới triều Lê. Sau Gia Long lên ngôi, dòng họ
này thề sẽ không đi thi, không làm quan với tân triều. Đến thời cha ông là
Nguyễn Danh Kế ,do hoàn cảnh gia đình cực khổ, lại phải nuôi mẹ già, đành
lỗi ước với tổ tiên. Nguyễn Danh Kế thi đỗ cử nhân, làm quan cho triều
Nguyễn đến chức Ngự sử trong Kinh, giữ việc án lý, nổi tiếng là người có tài
văn án trong triều. Ông Kế vốn là người phong lưu tài tử, thường lui tới chốn
đã nổi tiếng là thần đồng của tỉnh Sơn Tây.
Giai đoạn niên thiếu của Tản Đà phần lớn giành cho chuyện thi cử, đến
năm 19 tuổi, ông mới có những rung cảm tình ái đầu đời. Đó là mối tình với
con gái nhà tư sản Đỗ Thận. Năm sau ông lại yêu con gái ông tri huyện phủ
Vĩnh Tường. Nhưng 2 mối tình này đều không được trả lời.
6
6
Năm 1909 (Kỷ Dậu), ông tham dự kỳ thi hương ở Nam Định, rồi trượt
trong lần đi thi đầu tiên này. Ông về lại nhà ở Phủ Vĩnh Tường ôn tập. Trong
thời gian này, ông say mê một cô gái bán tạp hoá ở phố hàng Bồ. Vì nhà nghèo,
không có tiền hỏi cưới, ông đành nuôi hy vọng bằng cách tiếp tục đường khoa
cử. Kỳ thi xảy đến, ông dùng bằng Ấm sinh để thi hậu bổ, nhưng bị rớt vì môn
vấn đáp bằng tiếng Pháp. Mùa thu năm ấy, ông lại đi thi hương, nhưng lại
trượt. Chuyện tình với cô bán sách tan vỡ, cô đi lấy chồng. Ông chán nản bỏ về
Hòa Bình tìm khuây lãng. Tại đây nhờ sự giới thiệu của anh rể là nhà thơ trào
phúng Nguyễn Thiện Kế, Tản Đà kết giao với nhà tư sản Bạch Thái Bưởi. Hai
người bạn mới gặp đã như quen, cùng vào dãy Hương Sơn, ngọn Chùa Tiên,
đêm ngày uống rượu, làm thơ, đọc sách, thưởng trăng, sống theo lối "tịch cốc".
Lúc này lần đầu tiên ông đọc Tân thư, sách của Khang Hữu Vi, Lương Khải
Siêu, tìm hiểu về cách mạng Tân Hợi. Nhiều bài thơ và tư tưởng đặc biệt của
ông ra đời trong giai đoạn này.
Năm 1913, anh cả Nguyễn Tài Tích mất. Tản Đà về Vĩnh Yên làm nghề
báo, tờ báo ông cộng tác đầu tiên là "Đông Dương tạp chí" của Nguyễn Văn
Vĩnh, phụ trách mục "Một lối văn nôm".
Đến năm 1915, ông lấy vợ là bà Nguyễn Thị Tùng, con gái ông Nguyễn
Mạnh Hương tri huyện ở tỉnh Hà Đông, trở thành anh em cột chèo với nhà
của Tản Đà chính thức đình bản sau 3 lần đình bản và 3 lần tái bản. Sự kiện
này khi đó bị nhiều người thuộc phe "thơ mới" đem ra cười cợt, trong đó có Tú
Mỡ Hồ Trọng Hiếu, đã viết một bài "văn tế An Nam tạp chí" với lời lẽ xỏ lá.
Thời kỳ đầu của phong trào thơ mới, Tản Đà im lặng. Mãi đến năm 1934, ông
mới có một vài lời khuyên nhẹ nhàng gửi các nhà thơ Mới.
Tuy vậy, với vai trò là nhà thơ nổi tiếng nhất trong làng thơ cũ đương
thời, Tản Đà vẫn là một đối tượng chính để những người thuộc phe thơ mới tìm
cách đánh đổ. Tờ Phong hóa của Tự Lực văn đoàn rất hăng hái chê ông, chê
mọi thứ, từ tính nghiện rượu, nói nhiều lúc say, hay say, cho đến cái mũi ửng
đỏ của Tản Đà cũng bị chê nốt.
Do ảnh hưởng của phong trào Thơ Mới và phong trào theo Tân học, Tản
Đà, con người thuộc phe cựu học, làm thơ cũ đã dần dần trở nên cô độc. Tên
tuổi ông gần như bị đẩy lui vào dĩ vãng, nhường chỗ cho các nhà thơ mới:
Xuân Diệu, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư... Cộng với việc "An Nam tạp chí" đình bản
vĩnh viễn, cuộc sống của Tản Đà vốn nghèo túng lại càng trở nên thiếu thốn
hơn, phải chạy ngược chạy xuôi để kiếm sống. Có khi người ta thấy ông ở khu
Bạch Mai dạy chữ Nho. Có lúc ở Hà Đông, đăng quảng cáo lên mấy tờ báo:
"Nhận làm thuê các thứ văn vui, buồn, thường dùng trong xã hội - Tản Đà
9
9
Nguyễn Khắc Hiếu". Năm 1938, ông còn mở cả một phòng đoán số Hà Lạc để
xem bói.
a) Tản Đà trong thơ văn:
Từ thập niên 1920 cho đến nửa đầu thập niên 1930, văn đàn Việt Nam
không có một nhà thơ nào nổi tiếng và được yêu mến như Tản Đà. Kể cả khi
phong trào thơ mới xảy ra, thì Tản Đà, sau khi "phái thơ mới" bị đả kích kịch liệt
b) Con đường làm báo của Tản Đà:
Con đường đến với báo chí văn chương của Tản Đà là một sự lạ lùng.
Sống trong hoàn cảnh bần hàn nhưng cao vọng của Tản Đà là muốn đem tài
năng của mình thực hành để mong giúp ích cho văn chương xã hội và báo chí
nước nhà. Tuy chưa nổi tiếng trên văn đàn buổi đầu nhưng có những nhà văn,
nhà báo ở Hà Nội biết tiếng Tản Đà, thường mời tiên sinh hợp tác. Người bước
vào trường báo chí Việt Nam bằng thơ ca và những bài bút luận.
Chưa ra Hà Nội làm báo, nhưng liền trong mấy năm ở quê nhà Bất Bạt,
Tản Đà đã kịp gây dựng cho mình một lâu đài văn chương khá hoành tráng, mà
sau này vì vậy thanh thế người lẫy lừng.
•
Đông Dương tạp chí:
Đông Dương tạp chí ra số đầu tiên vào ngày 15 tháng 5 năm 1913 và
đình bản vào năm 1917. Cũng có nhiều tài liệu cho rằng số cuối cùng của tạp
chí được ra ngày 15 tháng 9 năm 1919, nhưng qua khảo cứu những số báo hiện
11
11
nay Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I còn lưu thì không thấy số báo nào của năm
1919. Đây là một phụ bản của tờ Lục Tỉnh tân văn (xuất bản ở Sài Gòn), ra vào
thứ 5 hàng tuần tại Hà Nội và phổ biến rộng ở Bắc kỳ và Trung kỳ.
Đông Dương tạp chí đã có những đóng góp không nhỏ trong việc tìm
cách phổ biến chữ Quốc ngữ trong mọi tầng lớp dân chúng. Đây cũng là tờ báo
đầu tiên mà Tản Đà tham gia với vai trò cộng tác.
Ngay từ những ngày đầu xâm lược Việt Nam, báo chí đã được
cũng luyến tiếc, cố nài thi sĩ lưu lại nhưng ông một mực ra đi… Và trước khi
rời tòa báo, vẫn còn mấy câu thơ đăng lên báo tỏ tấm tình với bạn hữu:
13
13
Mới nửa năm trời báo Hữu Thanh
Biệt ly lai lãng xiết bao tình
Chút tình hữu ái không ly biệt
Tiếng gọi đàn xa núi Tản xanh.
Sau khi rời Hữu Thanh tạp chí, Tản Đà gắn bó với báo Đông Pháp trong
khoảng thời gian ngắn.
•
An Nam tạp chí:
Số đầu tiên ra ngày 1 tháng 7 năm 1926, Tản Đà làm chủ báo, thư ký tòa
soạn là Ngô Tất Tố. Tờ báo xem như gắn liền với sự nghiệp làm báo của Tản
Đà, song nó không hoạt động yên ổn như ý, cho đến ngày chính thức “chết”, tờ
báo đã trải qua ba lần đình bản. “An Nam tạp chí” đình bản lần đầu tiên vào
tháng 3 năm 1927, sau khi ra được 10 số. Sau đó, đến năm 1929, Tản Đà hợp
14
14
tác với một người ở Hàng Gai, cho tái bản tạp chí. Theo ông Lâm Tuyền
Khách, sự tái bản này là ý của người kia, ra tạp chí để có dịp thu nợ vì Tản Đà
nợ ông một món không dễ trả. Trên bìa “An Nam tạp chí” lúc ấy ghi Tản Đà là
thì lại bị đình bản. Tháng 4-1931, ông tái bản tạp chí nhưng lại nhanh chóng bị
đình bản… Như vậy, An Nam tạp chí có tới 6 lần xuất hiện và tái xuất - một kỷ
lục trong ngành in ấn, xuất bản Việt Nam.
Có thể nói sự nghiệp báo chí của Tản Đà, cũng như cuộc đời của ông,
thường gặp gian nan trắc trở. Song những đóng góp của ông trong thời buổi sơ
khai của báo chí Việt Nam, là một cái giá trị mà người ta phải công nhận.
•
Gia Định báo:
Gia Định báo là tờ báo đầu tiên bằng tiếng Việt mới (chữ Quốc ngữ),
được ra mắt vào ngày 15 tháng 4 năm 1865 tại Sài Gòn. Đây là phương tiện
truyền thông đầu tiên hoàn toàn mới mẻ, làm cho tiếng Việt mới có cơ hội phổ
biến trong dân chúng. Gia Định báo được phát hành số đầu tiên vào ngày
15.04.1965 , bên trên cùng có dòng chữ "REPUBLQUE FRANCAISE"(cộng
hòa Pháp), phía dưới là dòng chữ to in đậm GIA ĐỊNH BÁO. Thời gian
đầu, Gia Định báo ra mỗi tháng 1 kỳ vào ngày 15 hàng tháng. Sau báo ra
mỗi tháng 2 kỳ, rồi mỗi tuần 1 kỳ. Tuy ra mỗi tuần 1 kỳ, nhưng Gia Định báo
lại không có ngày ra cố định, khi thì thứ ba, thứ tư, lúc lại thứ bảy. Việc in ấn
16
16
Gia Định báo thường tập trung tại các dinh quan, khi ở dinh quan Thượng Lạt
ở Saigon, lúc ở dinh quan Hiệp lý Nam kỳ, hoặc ở các phòng thông ngôn
c) Vị trí của Tản Đà với nền báo chí Việt Nam
Tản Đà là nhà thơ sinh ra và lớn lên trong hòan cảnh đất nước đang
Trong bài báo có tên "Người làm văn" in trên Đông Pháp thời báo (số
641, năm 1927), Tản Đà viết: "Các báo quán đã là một đạo quân tiên phong
trong trận tiến thủ của xã hội, thời phàm các người viết văn trong báo giới đều
là một tên lính ở trong đội tiên phong. Oai nghiêm thay! Hùng dũng thay! Một
ngọn bút sắt tung hoành có quan hệ đến vận hội của đồng bào hai mươi lăm
triệu".
Rải rác ở nhiều bài thơ, bài hát nói, Tản Đà cũng thường khẳng định
trách nhiệm to lớn của báo chí đối với đời sống, đối với nhân quần. Rõ ràng,
mang cao vọng trở thành một "Á châu Khổng phu tử chi đồ", lập một sự
nghiệp văn chương "có bóng mây hơi nước đến dân xã", làm báo với Tản Đà
không đơn giản chỉ là việc "nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng".
Thế nhưng, để tờ báo có thể thực hiện được trọng trách xã hội như ông
hằng kỳ vọng, trước hết nó phải không bị chết yểu. Mà muốn tờ báo không bị
chết yểu, người chủ báo trước hết phải biết và phải giải được những con toán
đơn giản về cân đối nguồn thu nguồn chi (tiền), rồi nguồn bài vở để báo ra đều
kỳ. Tản Đà có làm được điều đó không?
Trong "Giấc mộng lớn", Tản Đà kể lại về tình cảnh của An Nam tạp chí
trước khi bị đình bản lần đầu tiên: "Tiền ăn tiêu hàng tháng không có sổ chi
tiêu, một là tạp chí về công việc tòa báo, hai là nuôi người nhà làm, ba là cung
tiếp tân khách, lại bằng khi phóng phiếm vô ích, mỗi tháng không biết là bao
nhiêu? Vì mỗi tháng không biết bao nhiêu tiền chi tiêu, cho nên không bao lâu
mà tòa tạp chí An Nam lại như thể cái thành bị vây vậy".
Ngô Tất Tố, người cùng chèo chống con thuyền An Nam tạp chí với Tản
Đà qua bao sóng gió cũng xác nhận: "Trong những cái khác người của ông Tản
Đà, đức tiêu tiền cũng nên để ngang với tài thơ và tài rượu" (Tản Đà ở Nam Kỳ
- Tao Đàn, 1939).
Cũng trong bài viết ngay sau khi Tản Đà qua đời này, Ngô Tất Tố cho
biết thêm: "Đành rằng nếu không có rượu thì ông Tản Đà sẽ không phải là ông
Tản Đà, nhưng trong khi nó làm cho ông Tản Đà thành ông Tản Đà, chính nó
18
21
21
MỤC LỤC
22
22