Nghiên cứu quy trình sản xuất cao nấm men từ bã men bia - Pdf 38

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
---------o0o---------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài: NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH SẢN XUẤT CAO
NẤM MEN TỪ BÃ MEN BIA

Giáo viên hướng dẫn

: TS Tạ Thị Thu Thủy
: ThS. Nguyễn Thành Chung

Sinh viên

: Nguyễn Thị Hạnh

Lớp

: 1202

Hà Nội, 2016


Viện đại học mở Hà Nội

Khoa Công Nghệ Sinh Học

LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất đến toàn thể các
thầy cô giáo trong Khoa Công Nghệ Sinh Học, Viện Đại Học Mở Hà Nội đã

MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................ 3
1.1. Tổng quan về bã men bia ......................................................................... 3
1.1.1. Khái niệm và nguồn gốc ....................................................................... 3
1.1.2. Cấu tạo của tế bào nấm men ................................................................. 4
1.1.3. Sản lượng bia của Việt Nam hiện nay................................................... 7
1.1.4. Thành phần hóa học của bã men bia ..................................................... 8
1.1.5. Các hướng tận dụng bã men bia.......................................................... 11
1.2. Tổng quan về cao nấm men ................................................................... 13
1.2.1. Thành phần hóa học của cao nấm men ............................................... 13
1.2.2. Ứng dụng của cao nấm men ............................................................... 14
1.2.3. Tình hình nghiên cứu trong nước........................................................ 15
1.2.4. Tình hình nghiên cứu cao nấm men trên thế giới ................................ 18
1.3. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu ........................................................... 19
1.3.1. Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................... 19
1.3.2. Nội dung nghiên cứu .......................................................................... 19
PHẦN 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................ 20
2.1. Vật liệu, hóa chất, môi trường nuôi cấy vi sinh vật, dụng cụ và thiết
bị.....................................................................................................................20
2.1.1. Vật liệu và môi trường nuôi cấy chủng vi sinh vật .............................. 20
2.1.2. Hóa chất và dụng cụ và thiết bị........................................................... 20
2.1.3. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 21
2.1.4. Nội dung nghiên cứu .......................................................................... 21
Nguyễn Thị Hạnh - 1202




Viện đại học mở Hà Nội

Khoa Công Nghệ Sinh Học

DANH MỤC BẢNG
STT

3
4
5
6
7
8
9

Tên Bảng
Bảng 1.1: Theo Densikow M.T (1963), trung bình trong
nấm men chưa ép chứa (%)
Bảng 1.2: Theo Uxtra (dẫn liệu từ Densikow M.T, 1963)
chất khô của nấm men bia thành phần như sau (%)
Bảng 1.3: Hàm lượng vitamin của nấm men bia sấy khô.
Bảng 1.4: Hàm lượng các axit amin trong nấm men
Bảng 1.5: Thành phần axit amin trong cao nấm nem (%)
Bảng 1.6: Thành phần vitamin trong cao nấm men (pg/g)
Bảng 2.1: Thành phần môi trường LB
Bảng 2.2: Thành phần môi trường ISP2:
Bảng 2.3: Dụng cụ, thiết bị thí nghiệm

10


27
29
30

1
2

14
15
16
17
18
19
20

Nguyễn Thị Hạnh - 1202

Trang
8
9
9
10
13
14
20
20
21

30

4

Hình 2.2: hình ảnh sự thay đổi mẫu của bradford

25

5
6
7

Hình 3.1 Sơ đồ dự kiến quy trình chế biến cao nấm
men từ bã men bia
Hình3.2: Khẩn lạc riêng rẽ của E.coli XL1 – blue
nuôi cấy trên 2 môi trường nồng độ pha loãng 10-6
Hình 3.3: Môi trường cơ bản nuôi cấy vi sinh vật
Gram ( + ) (xạ khuẩn S.Geri)

Nguyễn Thị Hạnh - 1202

34
35
36


Viện đại học mở Hà Nội

Khoa Công Nghệ Sinh Học

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT


men rất đa dạng, có tỷ lệ phù hợp với nhu cầu và khả năng hấp thụ, chuyển
hóa của cả người và động vật.
Ở Việt Nam, công nghiệp sản xuất bia và thị trường tiêu thụ bia ngày
càng phát triển, sản lượng bia tạo ra với số lượng lớn. Ước tính trung bình cứ
1000 lít bia thu được 1,5 kg nấm men khô, trong đó có chứa 700g protein
[1, 7, 15]. Năm 2005 sản lượng bia cả nước đạt 1,5 tỷ lít, tương ứng với 18
triệu tấn sinh khối nấm men thải ra. Năm 2010 sản lượng bia của cả nước đạt
2,5 tỷ lít và nấm men thải ra là 30 triệu tấn [1, 15]. Như vậy, lượng protein có
chất lượng cao của nấm men thải ra từ quá trình sản xuất bia nếu tận dụng
được là không nhỏ. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay các nhà máy bia vẫn
chưa ứng dụng men bia thải ra ngoài một cách hiệu quả, men thải ra từ các
nhà máy được sử dụng chủ yếu làm thức ăn chăn nuôi, khả năng khai thác
các thành phần có giá trị sinh học trong men bia để tạo ra các sản phẩm ứng
dụng cho người còn rất hạn chế. Hơn nữa nếu không sử dụng triệt để thì
nguồn bã men này còn là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi
trường.
Ở các nước đang phát triển nấm men được sử dụng tạo vị ngon tự nhiên
trong ngành Thực phẩm và các chất dinh dưỡng cho việc nuôi vi khuẩn trong
ngành Dược phẩm. Đồng thời nấm men còn được sử dụng như một loại thực
phẩm rất được người ăn chay ưa chuộng với giá trị dinh dưỡng cung cấp cao
hơn nhiều loại thực phẩm khác.
Cao nấm men là một mặt hàng thương mại quan trọng trên thị trường
Nguyễn Thị Hạnh - 1202

Page 1


Viện đại học mở Hà Nội

Khoa Công Nghệ Sinh Học

từ 2oC đến 5oC, quá thời gian trên sẽ xảy ra hiện tượng tự phân [2].
Nấm men bia dùng trong sản xuất bia thường là các chủng thuộc giống
Sacchromyces, chúng có khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng trong môi
trường nước mạch nha như các loại đường hòa tan, các hợp chất nitơ (các
axit amin, peptit), vitamin và các nguyên tố vi lượng ... qua màng tế bào. Sau
đó, hàng loạt các phản ứng hóa sinh mà đặc trưng là quá trình trao đổi chất để
chuyển hóa các chất này thành những dạng cần thiết cho quá trình phát triển
và lên men của nấm men được tiến hành. Nấm men bia là loài hô hấp yếm
khí tùy tiện. Nhiệt độ tối ưu cho sinh trưởng và phát triển tối ưu cho đa số các
chủng này là 25 - 30oC và ngừng hoạt động ở nhiệt độ 40oC và tới 50 - 60oC
thì nấm men bị chết [8, 10]. Trong sản xuất bia người ta chia nấm men bia
thành hai loại căn cứ vào tính chất thể hiện qua quá trình lên men bia: nấm
men nổi và nấm men chìm.
* Nấm men nổi
Nấm men thuộc loài Saccharomyces cerevisiae. Loài này chỉ phát triển
để tạo quá trình lên men bia ở nhiêt độ tương đối cao ≥ 12 - 13oC. Trong quá
trình lên men, tế bào của chúng lơ lửng trong dịch lên men và tập trung ở trên
bề mặt dịch. Sử dụng nấm men nổi đòi hỏi phải có kỹ thuật lọc mới có sản
phẩm bia trong suốt vì tế bào nấm men lơ lửng trong dịch lên men ngay cả

Nguyễn Thị Hạnh - 1202

Page 3


Viện đại học mở Hà Nội

Khoa Công Nghệ Sinh Học

cuối thời kỳ lên men phụ. Vì nấm men nổi lơ lửng trong toàn bộ khối dịch lên


Hình 1.1: Cấu tạo tế bào nấm men
1.1.2.1. Thành tế bào
Thành tế bào nấm men dày khảng 15-25 nm, có độ bền chắc, có nhiều lõ
nhỏ li ti đường kính khoảng 3,6 nm để chất dinh dưỡng có thể đi qua. Trong
thành tế bào có chứa 10% protein (tính theo khối lượng chất khô), trong số đó
có một phần là các enzym. Trên thành tế bào còn có một lượng lipit nhỏ [8,
10].
Thành tế bào được cấu tạo gồm có ba lớp: lớp trong cùng có cấu tạo từ
từ β - glucan không tan trong kiềm, lớp giữa cấu tạo từ β - glucan hòa tan, lớp
ngoài cùng được cấu tạo từ mannanphophoryl, ngoài ra còn có kitin. Mannan
là hợp chất cao phân tử của D – manannoze, rất phân nhánh. Thường manan
liên kết với protein theo tỉ lệ 2:1 tạo thành hợp chất polymepeptidomanan có
vai trò trong việc kết lắng của nấm men vì có khả năng gắn vớ ion Ca2+ nhờ
nhóm photphoat hoặc nhóm cacboxyl. Glucan là hợp chất cao phân tử của
D – glucoza có cấu trúc phân nhánh góp phần tạo nên độ cứng của thành tế
bào. Giữa lớp vỏ ngoài cùng và lớp giữa chứa các enzym: invertaza,
phophataza, protease, β–glucosidaza..... Kitin là hợp chất cao phân tử của Nacetylglucosamin rất bền vững, không bị phá hủy nên có tác dụng bảo vệ chồi
khi chồi còn non. Hàm lượng của chúng trong tế bào khoảng 1% [ 8, 10].

Nguyễn Thị Hạnh - 1202

Page 5


Viện đại học mở Hà Nội

Khoa Công Nghệ Sinh Học

1.1.2.2. Màng sinh chất

Page 6


Viện đại học mở Hà Nội

Khoa Công Nghệ Sinh Học

1.1.2.6. Không bào
Trong mỗi tế bào nấm men có một hoặc nhiều không bào [8]. Không
bào có tính thẩm thấu cao, là nơi tích lũy các sản phẩm trao đổi chất trung
gian, các enzym thủy phân, enzym oxy hóa - khử, các polyphosphat, lipit,
các hợp chất trung gian của tế bào có phân tử lượng thấp và các ion kim loại
[8, 4]. Ngoài tác dụng của một kho dự trữ, không bào còn có chức năng điều
hòa áp suất thẩm thấu của tế bào.
1.1.2.7. Ty thể
Ty thể được xem như nhà máy cung cấp năng lượng cho tế bào hoạt
động. Ty thể chứa nhiều enzym khác nhau như: oxydaza, xytocromoxydaza,
peroxydaza, phosphataza,....Ty thể của nấm men có cấu tạo chủ yếu từ
khoảng 30% chất béo và 60 - 70% protein, trong số protein này có khoảng
25 - 75% ở dạng protein cấu trúc [8].
1.1.2.8. Bộ máy golgi
Bộ máy golgi có vai trò trong việc đào thải các sản phẩm dị hóa và có
liên quan đến quá trình sinh tổng hợp các bộ phận của thành tế bào.
1.1.3. Sản lượng bia của Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam, trong dòng thức uống có cồn bia được tiêu thụ nhiều nhất,
chiếm khoảng 89% tổng doanh thu và 97% về khối lượng. So với các nước
trong khu vực như Thái Lan, Singapore... Việt Nam có GDP bình quân đầu
người thấp hơn nhiều nhưng mức tiêu thụ bia lại cao hơn. Năm 2011, Việt
Nam tiêu thụ 2,6 tỷ lít, Thái Lan 1,8 tỷ lít, Singapore 108 triệu lít [17].
Theo khảo sát của Vinaresearch (được tiến hành trong tháng 3/2012) về

bày ở các bảng dưới đây.
Bảng 1.1: Theo Densikow M.T (1963), trung bình trong nấm men chưa
ép chứa (%) [6]
Thành phần

Đơn vị (%)

Nước

75,0

Chất chứa nitơ

14,0

Lipit

0,75

Chất hòa tan không chứa nitơ

8,25

Tro

2,0

Nguyễn Thị Hạnh - 1202

Page 8

Bảng 1.3: Hàm lượng vitamin của nấm men bia sấy khô.
Thành phần

Hàmlượng (pg/g)

Thiamice (Bi)

50 – 360

Riboflavin (B2)

36 – 42

Niacin (B3)

320 – 1000

Pyridoxine (B6)

25 – 100

Folic axit (B9)

15 – 80

Pantothenate (B5)

100

Biotin (H)

Glutation là yếu tố điều chỉnh quá trình oxy hóa khử của hàng loạt các chất
khác giúp cho việc bình thường hóa sự trao đổi chất trong cơ thể sống. Do
đó, nấm men bia giúp bổ sung các chất dinh dưỡng có giá trị đặc biệt, thúc
đẩy việc sử dụng các chất dinh dưỡng khác. Dựa trên cơ sở đó khi cho nấm
men bia vào khẩu phần thức ăn của gia cầm, lợn con và trâu bò non có tác
dụng rất tốt [8, 12].
Protein cùng các chất chứa nitơ khác chiếm 50 - 70% vật chất khô của
nấm men bia, 90% tổng lượng nitơ nằm trong protein thực sự. Khoảng 10%
tổng lượng nitơ đó của men bia thuộc về các axit amin (leucine, tyrosine...).
Trong tro của nấm men bia chứa khoảng 50% H3PO4 , 30% K, cũng như Ca,
Mg và các chất khác. Mặt khác, trong các chất hữa cơ của tế bào nấm men thì
protein là thành phần có giá trị nhất. Tính chất protein của nấm men gần
giống như protein nguồn gốc động vật.
Protein của nấm men bia chứa khoảng 20 axit amin, trong đó có đủ các
axit amin thiết yếu [20].
Trong nấm men bia cũng chứa lipit, trong đó có 23,1% lipit rắn (bão hòa
hoặc no) và 76,1% lipit lỏng (chưa bão hòa hoặc chưa no). Lipit rắn gồm axit
palmitic (61,3%) và axit stearic (38,3%). Trong thành phần lipit lỏng của
nâm men bia có axit oleic, axit linolenic và axit linoleic. Trong lipit của nâm
men bia còn chứa các phosphatic - lecithins và xealin [8,10].
Chất khoáng chiếm 5 - 11%, có vai trò quan trọng trong hoạt động của
nấm men, đặc biệt là phospho có thành phần phosphatide, nucleoprotein.
Ngoài ra, trong tế bào nấm men còn chứa các ion kali, magie, sắt, lưu huỳnh
và axit silicic [10].

Nguyễn Thị Hạnh - 1202

Page 10



4,8
0,03
0,12
2,6
5,6
0,2
0,74
10,60
3,15
1,76
3,53
1,05
0,79
2,29
2,08
3,26
0,82
2,09
1,89
3,23
3,83
2,76

Men bánh mì (%)
4,2
0,02
0,54
1,43
5,00
0,14

Viện đại học mở Hà Nội

Khoa Công Nghệ Sinh Học

thành chất đường glucose và có khả năng chế biến rượu. Tuy nhiên, sau đó
người ta thấy rằng so với nấm men bia tươi hoặc men bia sấy khô dưới nhiệt
độ thấp, men bia được sấy ở nhiệt độ cao (trên 1000C ) cho hiệu quả cao hơn
về vitamin cũng như các axit amin và dần dần men bia được chế biến có dạng
cô đặc như ngày nay [18].
Sau đó, men bia được sản xuất với số lượng lớn càng ngày càng nhiều,
ngành bia cũng phát triển, kéo theo công tác nghiên cứu ứng dụng men bia một
cách có hiệu quả cũng phát triển theo và xuất hiện kỹ thuật chiết men bia.
Những thập niên gần đây nấm men được ứng dụng trong nhiều ngành
công nghiệp khác nhau như: sản xuất rượu, bia; sản xuất men bánh mỳ; sản
xuất chế phẩm enzym; sản xuất protein đơn bào; sản xuất dược phẩm; sản
xuất thực phẩm dinh dưỡng; sản xuất thức ăn gia súc... Với hàm lượng cao về
protein cùng những chất có giá trị như: vitamin và các chất khoáng, nấm men
đóng vai trò quan trọng như là nguồn bổ sung các chất dinh dưỡng có giá trị
vào thức ăn cho người và gia súc [2]. Những sản phẩm chế biến từ nấm men
cũng được ứng dụng rộng rãi trong y dược do đó có thể tăng cường sức khỏe
cho con người, tăng khả năng chịu đựng và chống đỡ các bệnh truyền nhiễm,
giảm sự mệt nhọc khi làm việc quá sức [5]. Ngoài ra nấm men là một nguồn
cung cấp protein đáng kể cho sản phẩm bột dinh dưỡng trẻ em, góp phần
khắc phục tình trạng thiếu protein và năng lượng trường diễn ra ở trẻ nhỏ [10].
Trong công nghiệp thực phẩm, nấm men được sử dụng trong công nghiệp
sản xuất bia, rượu, để tăng cường mùi vị, giá trị dinh dưỡng cho sản phẩm.
Người ta cũng dùng nấm men để điều trị một số bệnh thiếu chất dinh
dưỡng hoặc bệnh phá hoại cân bằng trao đổi chất trong cơ thể. Đặc biệt nếu
chiếu các tia tử ngoại vào nấm men sẽ thu được vitamin D - có tác dụng ngăn
chặn bệnh còi xương ở trẻ em. Một số phân tích cho biết trong mỗi gam nấm

B2
B5
B12
Panthonic axit
Inositol
Niacin
Biotin

Hàm lượng
150
60
25
0,13
40
2,8
300
0,13

Folic axit

0,33

Nguyễn Thị Hạnh - 1202

Page 13


Viện đại học mở Hà Nội

Khoa Công Nghệ Sinh Học

Serine

4,7

Glutamic axit

4,2

Tyrosine

0,5

Proline

0,5

Glycine

2,2

Alanine

4,9

Cystine

0,5

Valine


Page 14


Viện đại học mở Hà Nội

Khoa Công Nghệ Sinh Học

peptit, vitamin (đặc biệt là vitamin nhóm B) các hợp chất tạo hương [21]. Vì
vậy dùng làm chất tạo hương cho một số sản phẩm thực phẩm như súp, nước
thịt, thức ăn nhanh và các sản phẩm chế biến từ thịt. Trên thị trường, sản
phẩm nấm men thủy phân được xếp vào nhóm protein thủy phân thực vật
(HVP) - đó là một phụ gia được sử dụng rộng rãi nhất trong công nghiệp gia
vị sau mì chính [9]. Đặc biệt ở Nhật, các sản phẩm tăng lực như viên đạm
được sản xuất và tiêu thụ nhiều. Sử dụng viên đạm để nấu các bữa ăn nhanh
hay sử dụng các chất gia vị chế biến sẵn có nhiều tiện ích như tiết kiệm được
thời gian, tái tạo năng lượng nhanh, không sợ béo phì.
1.2.2.3. Bổ sung vào môi trường nuôi cấy vi sinh vật
Cao nấm men còn là nguồn bổ sung các chất dinh dưỡng cho môi trường
nuôi cấy vi sinh vì cao nấm men rất giàu đạm, vitamin và các hợp chất kích
thích sinh trưởng. Do đó nó được sử dụng như là một thành phần của môi
trường nuôi cấy vi sinh và thường dùng nuôi cấy các vi sinh vật sản xuất
kháng sinh, dược phẩm, vitamin, axit hữa cơ và probiotic.
Ngoài ra, nó còn được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, phục vụ cho
ngành Dược, nguyên liệu trong mỹ phẩm, sản phẩm dinh dưỡng cho thực vật
1.2.2.4. Làm thức ăn chăn nuôi
Viện Chăn nuôi đã nghiên cứu thành công chế biến nấm men thải của
quá trình sản xuất bia ở Việt Nam thành dạng bột có chất lượng cao, hàm
lượng protein 47 - 48% với sự có mặt đầy đủ của các loại axit amin không
thay thế [15]. Đây được coi như là nguồn thức ăn giàu đạm để bổ sung vào
khẩu phần thức ăn cho chăn nuôi.

snack, và thực phẩm ăn liền. Với tính năng làm tăng mùi vị nó giúp làm giảm
lượng muối cần thiết trong lĩnh vực thực phẩm, điều này rất phù hợp với xu
hướng sản xuất thực phẩm tốt cho sức khỏe ít natri hiện nay. Hơn nữa cao
nấm men chứa nucleotide tự nhiên còn có thể làm tăng hương vị và kích thích
khẩu vị của những dạng thực phẩm ít béo.
Bản chất của quá trình sản xuất cao nấm men chính là quá tình thủy
phân nấm men bánh mì hay phế liệu nấm men bia thành một hỗn hợp các
chất như axit amin, nucleotit, chuỗi peptit, protein, đường, vitamin và các
hợp chất có hương vị thơm ngon. Do đó, giai đoạn quan trọng nhất trong quá
trình sản xuất cao nấm men chính là giai đoạn phá vỡ vách tế bào nấm men.
Ngày nay tế bào nấm men được phá vỡ bằng phương pháp hóa học, phương
pháp sử dụng enzym hay cho nấm men tự phân trong môi trường nước.
Bã nấm men được tiến hành nghiên cứu và sử dụng ở Việt Nam từ vài
năm trở lại đây, song song với sự phát triển của ngành thực phẩm đồ uống.
Nguyễn Thị Hạnh - 1202

Page 16


Viện đại học mở Hà Nội

Khoa Công Nghệ Sinh Học

Và hiện nay trở thành một sản phẩm được quan tâm mang lại hiệu quả kinh tế
cao. Sản lượng bia nước ta không ngừng tăng. Năm 2010, sản lượng bia là
3,0 tỷ lít với 30 triệu tấn sinh khối nấm men thải ra [1, 15]. Nước ta tiến hành
nghiên cứu thành công rất nhiều đề tài về tận dụng nguồn bã men bia để sản
xuất thức ăn cho gia súc.
Năm 2003, tác giả Phạm Thu Hà, Nguyễn Thị Thu Vinh tiến hành
nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tận dụng nguồn nấm men bia dư thừa để sản

xuất nhỏ lẻ, chưa áp dụng được sản xuất trên quy mô công nghiệp... Những
nguyên nhân đó đã khiến ngành Sản xuất bột nấm men không đủ mạnh để
cạnh tranh với các ngành Sản xuất bột dinh dưỡng tương tự như bã đậu
tương, khô dầu, cám gạo... và cũng không đủ mạnh để cạnh tranh với các sản
phẩm cùng loại của các nước trên thế giới.
Khó khăn còn nhiều nhưng việc tận thu bã men bia sẽ từng bước tháo
gỡ, hứa hẹn mang lại nguồn doanh thu lớn cho quốc gia và cho nhà sản xuất,
giải quyết được vấn đề thiếu hụt protein hiện nay và vấn đề ô nhiễm môi
trường.
Để góp phần khắc phục được các hạn hiện nay, đóng góp vào nghiên
cứu đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu quy trình chế
biến cao nấm men từ bã men bia”.
1.2.4. Tình hình nghiên cứu cao nấm men trên thế giới
Cao nấm men là một mặt hàng thương mại quan trọng trên thị trường
quốc tế. Trên thế giới hiện nay có khoảng 20 nước tận thu ngồn sinh khối
nấm men bia và giá trị hàng hóa xuất khẩu hàng trăm triệu USD [4]. Trong
đó phải kể đến Nhật, Đức, Braxin, Đan Mạch... Riêng ở Nhật Bản, từ những
năm 30 của thế XX, người ta đã sản xuất bánh men khô từ nấm men bia dư
thừa bằng phương pháp sấy. Sau đó, sản xuất các sản phẩm từ men bia ngày
càng phát triển cả về sản lượng cũng như chất lượng [4, 5].
Ở Mỹ, năm 1946 mới tổ chức sản xuất sinh khối nấm men và đến nay
nhiều nước trên thế giới đã tổ chức sản xuất loại chế phẩm này, chủ yếu làm
thức ăn chăn nuôi và có thể tách tinh sạch protein dùng trong dinh dưỡng
người - làm thức ăn nhân tạo hoặc bổ sung vào các nguồn chế biến thực
phẩm [8].
Đến nay đã có rất nhiều cải tiến trong việc sản xuất cao nấm men cùng
với sự ra đời của các nhà máy khác trên thế giới. Có thể kể tên một số nhà
máy sản xuất cao nấm men chính như: công ty Grains (Anh), Fould - Spinger
(Pháp), Gist - Brocades (Newzealand), Nestles (Thụy Sĩ), công ty hóa chất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status