THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC CÁC MƠN LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG HIỆN NAY
Võ Văn Dũng
Đỗ Thị Thùy Trang
Tóm tắt
Việc nâng cao chất lượng dạy và học các mơn Lý luận chính
trị trong các trường cao đẳng hiện nay là vấn đề hết sức cấp thiết.
Để chứng minh cho điều đó, chúng tơi đã tiến hành một cuộc khảo
sát ở 4 trường cao đẳng ở Nha Trang dưới hình thức bảng hỏi về
thực trạng dạy và học các mơn Lý luận Chính trị hiện nay. Qua kết
quả số liệu cho thấy, thực trạng dạy và học các mơn Lý luận chính
trị hiện nay còn nhiều bất cập. Những bất cập đó xuất phát từ nhiều
ngun nhân, nhưng ngun nhân lớn nhất được xuất phát từ
phương pháp giảng dạy của giảng viên. Trong bài viết này, chúng
tơi đưa ra một vài phương pháp mang tính tham khảo nhằm góp
phần vào việc khắc phục thực trạng trên.
1. Dẫn nhập
Giáo dục là một sự rèn luyện con người về cả ba phương diện:
trí tuệ, tình cảm và thể chất. Tuy nhiên, trong những năm qua, việc
dạy và học các mơn Lý luận chính trị ở các trường cao đẳng trong
cả nước nói chung đã tồn tại nhiều bất cập. Những bất cập này xuất
phát từ nhiều ngun nhân như: ngun nhân từ sự tích hợp giáo
ThS, trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Nha Trang
ThS, trường Đại học Tài chính - Kế tốn
154
việc trình bày kiến thức trong giáo trình ra thì khơng có thời gian để
cho người học thảo luận trên lớp. Tuy có một số ý kiến cho rằng,
giáo viên chỉ hướng dẫn trên lớp 70% thời lượng, còn lại 30 % thời
lượng người học tự nghiên cứu; nhưng trên thực tế giáo viên dùng
100% thời lượng để giảng 70% giáo trình thì vẫn còn gặp khó khăn.
Tính đặc thù của mơn học đối với người mới tiếp cận đã làm cho rất
nhiều người học nhận thức rằng, học các mơn chính trị cốt yếu chỉ
cho qua học phần, đây cũng chỉ là mơn học đại cương như những
mơn khác. Sự trừu tượng của mơn học cùng sự thiếu thời gian để
giải quyết vấn đề đã làm cho q trình giảng dạy và học ngày càng
gặp nhiều khó khăn. Thật khơng đầy đủ khi mọi thứ đều đổ lỗi cho
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA 2015
155
giáo trình mà khơng chú ý đến nhân tố khác như chất lượng giảng
viên.
Trước hết, chúng ta phải thừa nhận rằng, trong những năm
qua, việc giảng dạy các mơn lý luận chính trị ở bậc cao đẳng đã đạt
được một số thành tựu nhất định như: chấm dứt được tình trạng thầy
đọc, trò ghi; sinh viên đã có khả năng ghi chép tóm tắt bài giảng của
thầy. Một số giảng viên đã đổi mới phương pháp giảng dạy theo
hướng tích cực. Hình thức kiểm tra, đánh giá đã có những thay đổi
rõ rệt, đánh giá chính xác hơn kiến thức của sinh viên, hạn chế được
phần lớn hiện tượng quay cóp trong thi cử. Chất lượng đội ngũ
giảng dạy cũng đã được nâng lên đáng kể. Các hoạt động nghiên
cứu khoa học của giảng viên cũng có nét khởi sắc và mang diện
mạo mới về nội dung và hình thức tổ chức. Tuy nhiên, một thực tế
hiện nay đang tồn tại ở các trường cao đẳng; thậm chí ở cả đại học,
còn thiên về lý luận, chưa tìm ra những phương thức hiệu quả giúp
sinh viên chủ động hơn trong tiếp thu kiến thức và sử dụng những
kiến thức lĩnh hội được để luận giải các vấn đề của cuộc sống. Tất
cả các chun ngành, các giảng viên đều giảng một kiểu như nhau
nên sinh viên khơng có hứng thú trong học tập.
Phương tiện trợ giúp giảng dạy ở các trường cao đẳng vừa
thiếu lại vừa yếu nên khơng thể ứng dụng các cơng cụ hỗ trợ giảng
dạy, cùng với đó là việc những hình ảnh và các video có tính minh
họa cho bài giảng khơng thể thực hiện được. Bên cạnh những
ngun nhân xuất phát từ cơ sở vật chất và người thầy thì còn có
ngun nhân xuất phát từ người học.
2.2. Thực trạng học các mơn lý luận chính trị trong các
trường cao đẳng hiện nay
Để phục vụ cho bài nghiên cứu này, chúng tơi đã tiến hành
khảo sát thái độ học tập của sinh viên ở 4 trường cao đẳng trên địa
bàn tỉnh Khánh Hòa với số phiếu phát ra là 1000, số phiếu thu vào
là 850 phiếu, số phiếu hợp lệ là 800. Khi hỏi về “Thái độ của bạn
như thế nào khi học các mơn lý luận chính trị?”. Kết quả thu được:
tỉ lệ sinh viên cảm thấy hứng thú khi học các mơn lý luận chính trị
chiếm 20,7%; 56% sinh viên có thái độ học đối phó và có 23,3%
sinh viên cảm thấy chán nản. Theo kết quả trên cho thấy, thái độ
sinh viên đối với các mơn học lý luận chính trị có hứng thú là rất
khiêm tốn, trong khi đó phần chính sinh viên muốn đối phó cho
qua các mơn này. Để xác minh cho tính chính xác của vấn đề này,
chúng tơi đã hỏi “Bạn có thích học các mơn lý luận chính trị
khơng?”, Kết quả thu được là 29,3% trả lời có thích, 41% trả lời là
khơng thích và 29,7% trả lời tùy vào từng giảng viên dạy mà
người học có thái độ khác nhau. Ở câu hỏi này cho thấy, sinh
viên khơng thích học các mơn lý luận chính trị nhiều hơn là thích
học. Thái độ học tập của sinh viên tùy thuộc vào người thầy dạy
lướt web, chát
mới
Đi chơi
với bạn
bè
Đi học
thêm
Đi làm
thêm phụ
giúp gia
đình
105
371
268
22
34
13.1%
46,4 %
33.4%
chất lượng dạy và học các mơn lý luận chính trị trong các trường
cao đẳng trong thời gian tới, chúng tơi mạng dạn đề xuất một vài
phương pháp sau:
Thứ nhất, về phía Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhằm đáp ứng
được sự cân bằng về khối lượng của giáo trình và thời gian giảng
dạy, Bộ nên có những chủ trương cụ thể như: tăng thời lượng giảng
dạy cho phù hợp với khối lượng của giáo trình, hoặc lược bỏ một số
nội dung trong giáo trình để khối lượng và thời gian cho phù hợp.
Bên cạnh việc điều chỉnh giáo trình, Bộ cũng nên chú trọng đến chất
lượng của đội ngũ giảng viên là vơ cùng quan trọng. Mặc dù trong
những năm qua, các trường đã cử khơng ít lượt giảng viên đi học
nâng cao chun mơn, nghiệp vụ nhưng việc tồn tại khơng ít giảng
viên đi học trái ngành vẫn thường xun diễn ra; do vậy, việc quy
định giảng viên phải học đúng ngành bằng thứ nhất là một điều cần
thiết hiện nay. Việc giảng dạy phải gắn với việc nghiên cứu khoa
học là một điều hồn tồn đúng đắn nhưng Bộ phải có hình thức chế
tài hiệu quả đối với những trường hợp cố ý làm trái quy định nhằm
khuyến khích giảng viên nghiên cứu để phát triển chun mơn,
nghiệp vụ.
Thứ hai, về phía giảng viên, muốn nâng cao năng lực giảng
dạy, trước hết giảng viên phải khơng ngừng bồi dưỡng về phẩm chất
chính trị, đạo đức cách mạng, lương tâm và trách nhiệm nghề
nghiệp. Phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng là một trong những
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA 2015
159
tiêu chuẩn cần thiết của mọi nghề nhưng đối với nghề nhà giáo thì
lại cực kỳ cần thiết bởi giảng viên khơng chỉ truyền đạt tri thức,
thức còn sinh viên là người tiến cận tri thức một cách sáng tạo.
Tránh tình trạng giảng viên là người truyền bá tri thức còn sinh viên
là người tiếp thu tri thức một cách thụ động. Giảng viên “cần coi
trọng cả ba mặt giáo dục: dạy làm người, dạy chữ, dạy nghề, đặc
160
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
biệt chú trọng giáo dục lý tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống lịch
sử, truyền thống văn hóa dân tộc, giáo dục về Đảng. Ngăn chặn xu
hướng coi nhẹ giáo dục chính trị, tư tưởng, xa rời định hướng xã hội
chủ nghĩa, các biểu hiện tiêu cực trong hoạt động giáo dục…, quan
tâm hơn nữa đến việc giáo dục nhân cách, kỹ năng và phương pháp
làm việc; phát triển năng lực, trình độ chun mơn làm cho thế hệ
trẻ có đủ khả năng và bản lĩnh thích ứng với những biến đổi
nhanh chóng của thế giới” [1]. Bên cạnh việc đổi mới phương
pháp giảng dạy, giảng viên cần phải đổi mới phương pháp đánh
giá hiệu quả, chính xác và cơng bằng. Việc đánh giá sinh viên phải
kích thích được khả năng sáng tạo trong q trình đánh giá.
Thứ ba, về phía nhà trường, việc đổi mới phương pháp giảng
dạy của giảng viên phải gắn liền với đổi mới phương tiện, cơ sở
vật chất và tổ chức lớp học. Các yếu tố cần thiết cho một tiết dạy
như: máy chiếu, phòng học, số lượng sinh viên hợp lý (khoảng 40 50 sinh viên /lớp). Hiện nay, điều kiện cơ sở vật chất ở các trường
cao đẳng chỉ mới chỉ dừng lại ở mức độ đáp ứng được một phần u
cầu. Tài liệu tham khảo của các mơn lý luận chính trị trong thư viện
các trường Cao đẳng còn hết sức nghèo nàn, lạc hậu nên cần phải
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Chính trị, Thơng báo kết luận về tiếp tục thực hiện Nghị quyết
Trung ương 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào
tạo đến năm 2020.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Đổi mới giáo dục Việt Nam, Luật
Giáo dục và các văn bản mới nhất về các đề án giáo dục, quy chế
tuyển sinh năm 2010, Nxb. Lao động, Hà Nội.
3. Đỗ Minh Cương, Nguyễn Thị Doan (2001) phát triển nguồn nhân lực
giáo dục đại học Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. Nguyễn Tiến Cường (1998), Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở
Việt Nam thời phong kiến, Nxb.Giáo dục, Hà Nội.
5. Lê Văn Giạng (2001), Những vấn đề lý luận cơ bản của khoa học giáo
dục, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Phạm Minh Hạc (2001), Về phát triển tồn diện con người thời kỳ
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
162
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO