BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
-----------------------
TRẦN QUỐC HÙNG
ĐIỀU TRA, NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TỔNG
HỢP TRONG CANH TÁC HỒ TIÊU (Piper nigrum L.) THEO
HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI ĐẮKLẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
BUÔN MA THUỘT, NĂM 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
-----------------------
TRẦN QUỐC HÙNG
ĐIỀU TRA, NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TỔNG
HỢP TRONG CANH TÁC HỒ TIÊU (Piper nigrum L.) THEO
HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI ĐẮKLẮK
Chuyên ngành: Kỹ thuật trồng trọt
Mã số: 60 62 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS.Trần Kim Loang
những nguyên nhân chính của việc giảm diện tích và sản lượng các vườn tiêu. Bên
cạnh ñó là sự tác ñộng không hợp lý và không ñồng bộ các biện pháp kỹ thuật
canh tác trên ñồng ruộng dẫn ñến sự mất cân bằng trong sinh thái. Vấn ñề ñang
2
làm người trồng tiêu ñang quan tâm và lo ngại nhất hiện nay là giữ cho năng suất
vườn tiêu ñược ổn ñịnh, hạn chế ñược các loại sâu bệnh hại nguy hiểm mang tính
hủy diệt vườn tiêu. Kinh nghiệm trồng tiêu ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy các
loại sâu bệnh phát sinh từ ñất khó có thể phòng trừ bằng biện pháp hoá học ñơn
ñộc mà các kỹ thuật quản lý cây trồng tổng hợp thường có hiệu quả hơn. Do vậy
việc tiếp tục nghiên cứu ñể bổ sung các kỹ thuật canh tác tổng hợp và biện pháp
quản lý dịch hại tổng hợp trên cây tiêu là ñiều cần thiết
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành ñề tài: “Điều tra,
nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu (Piper nigrum L.)
theo hướng bền vững tại ĐắkLắk”.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Xác ñịnh các biện pháp kỹ thuật chủ yếu, ñặc biệt là trong quản lý bệnh
hại tiêu ñể góp phần ổn ñịnh năng suất và ñảm bảo tính bền vững trong canh tác
hồ tiêu tại ĐắkLắk.
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Ý nghĩa khoa học
Các kết quả ñề tài là cơ sở cho các nghiên cứu sau này về canh tác bền
vững cây hồ tiêu tại ĐắkLắk.
- Ý nghĩa thực tiễn
Giúp cho nông dân tại ĐắkLắk sản xuất tiêu bền vững
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Do thời gian có hạn nên ñề tài chỉ tập trung ñiều tra, nghiên cứu tại xã Ea
H’Leo - huyện Ea H’Leo và xã Ea B’Hôk - huyện Cư Kuin tỉnh ĐắkLăk.
nhiều, nhiệt ñộ thấp nhất khoảng 10 0C, thích hợp nhất trong khoảng 20 - 30 0C,
nhiệt ñộ ñất ở ñộ sâu 30 cm trong khoảng 25 - 28 0C [54].
4
* Lượng mưa
Hồ tiêu thích hợp trong ñiều kiện mưa ñều, lượng mưa hàng năm trong
khoảng 1.000 - 3.000 mm, lượng mưa lý tưởng cho cây tiêu sinh trưởng và phát
triển là 1.250 - 2.500 mm, tuy nhiên cây tiêu vẫn sinh trưởng và phát triển bình
thường trong vùng ít mưa nhưng phân bố ñều. Phân bố lượng mưa, tình trạng
thoát nước và khả năng giữ ẩm của ñất ñóng vai trò quan trọng ñối với cây tiêu
hơn là tổng lượng mưa. Lượng mưa khá là ñiều thuận lợi nếu ñất thoát nước tốt,
ngược lại tiêu dễ bị bệnh. Khô hạn cũng là một yếu tố giới hạn sinh trưởng và
phát triển của cây tiêu [17].
* Ẩm ñộ
Khí hậu nóng ẩm là ñiều kiện thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của
cây tiêu nhưng ẩm ñộ cao liên tục lại hạn chế sinh trưởng cây tiêu và tạo ñiều
kiện cho sâu bệnh phát sinh. Cây tiêu chịu ñược ẩm ñộ khoảng 63 % trong mùa
khô và 98 % trong mùa mưa [55].
* Ánh sáng
Tiêu là cây ưa bóng trong giai ñoạn cây con, ánh sáng tán xạ thích hợp
cho yêu cầu sinh trưởng, phát dục và phân hoá mầm hoa. Giai ñoạn tiêu ra hoa
ñậu quả, nuôi quả ñến khi quả chín cây tiêu cần nhiều ánh sáng [17], [22]. Việc
có ñủ ánh sáng trong giai ñoạn nuôi quả giúp giảm rụng quả non và tăng dung
trọng hạt tiêu [61].
* Chế ñộ gió: Cây tiêu thích hợp với môi trường lặng gió và gió nhẹ.
1.1.2. Điều kiện ñất ñai
Theo Phan Hữu trinh và cộng sự (1988) [22], Phan Quốc Sủng (2000)
[17] và Sadanandan (2000) [55] ñất thích hợp cho cây tiêu cần có các ñặc tính:
bệnh chết nhanh, chết chậm và tuyến trùng, các giống tiêu bản ñịa dần dần ñược
thay thế bằng một vài giống tiêu cao sản trong sản xuất ñại trà [53].
Việc phân ñịnh giống dựa vào phân tích nhiễm sắc thể rất tốn kém và
không phải lúc nào cũng có ñiều kiện thực hiện. Viện Nghiên cứu Tài nguyên Di
truyền Thực vật Quốc tế ñưa ra bảng chỉ dẫn dựa vào các chỉ tiêu hình thái ñể
nhận diện giống tiêu, bao gồm 29 chỉ tiêu về thân, lá và các ñặc tính sinh trưởng,
30 chỉ tiêu về gié và quả (hạt tươi) và sáu chỉ tiêu về hạt (trích dẫn từ Nguyễn
Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21].
6
Ravindran và cộng sự ñã tiến hành phân tích hợp phần chính (principal
component analysis) ñể phân ñịnh nhóm giống hồ tiêu, xác ñịnh ñược tám hợp
phần chính bao gồm:
1. Chỉ số kích thước lá, chiều dài lá, chiều rộng lá
2. Độ dày lá, ñộ dày biểu bì dưới lá, ñộ dày biểu bì trên lá
3. Tỉ lệ chiều dài lá/chiều dài gié, chiều dài gié, chiều dài cuống gié
4. Chiều dài và chiều rộng tế bào bảo vệ (guard cell)
5. Kích thước quả và hình dạng quả
6. Hình dạng lá và phía gốc lá
7. Tần suất khí khổng và mật ñộ diệp lục
8. Hình dạng lá ở cành cho quả và hình dạng lá ở cành bò (dây lươn)
Trong 51 giống ñược phân tích, kết quả cho thấy có 28 giống nằm chung
một nhóm, và ñiều ñáng lưu ý là Panniyur 1 nằm vào một nhóm riêng (trích dẫn
từ Ravindran và cộng sự, 2000) [53].
Kết quả ñiều tra trong sản xuất ñược tiến hành bởi Viện Nghiên cứu cây
Gia vị Ấn Độ cho thấy chỉ riêng ở Ấn Độ ñã có 38 giống tiêu ñược trồng phổ
biến và 63 giống khác ñược phát hiện [42].
Viện Nghiên cứu Gia vị Ấn Độ ñã tiến hành chương trình tuyển chọn và
năng chống bệnh thối rễ [22].
Năm 1950, Nha Khảo cứu và Sưu tầm Nông Lâm Súc Miền Nam Việt
Nam ñã khảo nghiệm việc trồng tiêu trên cao nguyên Bảo Lộc có ñộ cao trên
500m so với mặt biển [1]. Sau sáu năm khảo nghiệm tác giả này ñã khẳng ñịnh
tiêu hoàn toàn có thể sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất khá cao dưới ñiều
kiện khí hậu cao nguyên nước ta. Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của
sáu giống tiêu: Srechea, Kampot (từ Campuchia), tiêu Quảng Trị, tiêu Sơn
(Pleiku), tiêu Di Linh và giống Lada Belangtoeng, tác giả ñã kết luận giống Lada
Belangtoeng tỏ ra hợp khí hậu vùng Bảo Lộc, sinh trưởng khỏe, ít bệnh tật, chùm
tiêu dài, thơm cay, năm giống còn lại ít thích hợp hơn.
Năm 1960 giống Lada Belangtoeng ñược ñưa ra trồng ở Quảng Bình,
Vĩnh Linh và giống cũng tỏ ra thích nghi với khí hậu vùng này, có nhiều ưu ñiểm
về sinh trưởng, năng suất và chống ñỡ bệnh tật hơn giống Quảng Trị [26].
Theo Trần Văn Hoà và cộng sự, (2001) [7] các giống tiêu có triển vọng
8
phát triển ở nước ta gồm giống Sẻ ñịa phương vùng Đông Nam Bộ, các giống
nhập từ Campuchia qua ñường Hà Tiên là Sréchéa, Kamchay, Kampot, Kep,
giống Lada Belangtoeng từ Indonesia và Panniyur-1 từ Ấn Độ.
Khi nói ñến triển vọng cây tiêu xuất khẩu ở Miền Nam Việt Nam, Tappan
(1972) khuyến cáo nên du nhập bốn giống có ưu thế, gồm Balancotta và Kalluvalli
gốc Ấn Độ cho năng suất cao và hạt lớn, Kuching gốc Malaysia cho năng suất
cao, Lada Belangtoeng gốc Indonesia sinh trưởng khỏe và chống chịu tốt bệnh
thối rễ. Chỉ trừ giống Lada Belangtoeng ñược nhập vào trồng khảo nghiệm ở
nhiều vùng trong nước, các giống khác chưa ñược quan tâm nhập nội khảo sát một
cách chính thức (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21].
Các giống tiêu ñược trồng phổ biến trong sản xuất hiện nay chủ yếu do
nông dân tự chọn lọc từ nguồn giống ñịa phương hoặc du nhập từ ñịa phương
1.3.1. Trụ tiêu
Trong kỹ thuật trồng tiêu thì trụ tiêu ñóng vai trò quan trọng vì trụ tiêu là
nơi cây tiêu bám vào ñể leo lên cao và cho sản lượng trong suốt thời gian kinh
doanh. Hồ tiêu có nguồn gốc là cây mọc hoang trong các rừng nhiệt ñới ẩm của
Ấn Độ, ưa ánh sáng tán xạ vì vậy che bóng là yếu tố cần thiết ñể tạo môi trường
có tiểu khí hậu thích hợp với yêu cầu sinh thái của cây tiêu.
Tại Ấn Độ cây trụ sống là loại trụ phổ biến nhất và cũng là loại trụ truyền
thống ở nước này. Một số cây trụ sống thường ñược sử dụng ở Ấn Độ là: Cây
vông (Erythrina indica), muồng ñen (Cassia siamea), muồng cườm (Adenanthera
pavoninal), mít (Artocarpus heterophylum), sồi lá bạc (Grevilea robusta), keo dậu
(Leucaena leucocephala) (trích dẫn từ Tôn nữ Tuấn Nam và cộng sự, 2005). Tại
Srilanca, người ta sử dụng cây anh ñào (Gliricidia sepium) làm trụ sống cho cây
tiêu và thấy rằng vốn ñầu tư cho cây trụ thấp hơn hẳn các loại trụ khác như trụ
gỗ, trụ bê tông [41].
Trụ tiêu ở Indonesia là trụ gỗ, các bức tường gạch, một số vùng trồng tiêu
với cây trụ sống như keo dậu, cây gòn và cây ăn quả. Ở Sarawak (Malaysia), tiêu
ñược trồng chủ yếu với trụ gỗ (thường ñược gọi là gỗ thép Borneo), hiện ñang có
chương trình khuyến khích dùng trụ sống thay cho trụ gỗ (trích dẫn từ Nguyễn
Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21].
Tại những vùng trồng tiêu lâu ñời ở Việt Nam nông dân thường ưa sử
10
dụng trụ gỗ vì cho rằng tiêu leo bám dễ dàng, không bị cạnh tranh về nước, dinh
dưỡng, ánh sáng như khi trồng trụ sống và không bị nóng làm tiêu tàn lụi sớm
như khi trồng với trụ bê-tông hoặc bồn gạch xây. Tuy vậy, thực tế sản xuất hiện
nay cho thấy tiêu có thể ñạt ñược năng suất cao trên tất cả các loại trụ, miễn là có
chế ñộ chăm sóc phù hợp. Các loại trụ sống rất phong phú như vông (Erythrina
spp.), keo (Leucena leucocephala), lồng mức (Wrightia annamensis), ñỗ quyên
12-29kg Mg (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21].
Wong (1986) (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21] ñã xác
ñịnh với mật ñộ trồng 1.600 trụ/ha, mỗi năm vườn tiêu từ 3-8 tuổi hấp thu một lượng
dinh dưỡng là 200kg N- 80kg P2O5-188kg K2O.
Theo Dierolf và cộng sự (2001) [35], liều lượng N-P-K cân bằng cho
vườn tiêu có năng suất 3 tấn/ha là 400N-200P2O5-500K2O kg/ha/năm, bón kèm
10 tấn phân hữu cơ và một lượng vôi nhất ñịnh. Nghiên cứu lượng phân bón cho
tiêu kinh doanh ở Bangka (Indonesia), Wahid và ctv. (1990) khuyến cáo sử dụng
phân hỗn hợp NPKMg 12-12-17-2 với lượng 400-600 g/trụ cộng với 500g
dolomit, bón mỗi năm hai lần là thích hợp hơn cả.
Theo tài liệu của tổ chức Krishiworld, tỷ lệ phân bón thích hợp bón cho
tiêu ñầu kinh doanh là 1 N - 1,6 P2O5 - 0,6 K2O, ứng với mức bón 100-160-60
g/trụ/năm N-P2O5-K2O (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21].
Trong một thí nghiệm cho hồ tiêu trên ñất ñỏ tại Nam Bahia (Brazil), các
tác giả ñã xác ñịnh liều lượng N và P205 cho năng suất tiêu cao nhất là 132 kg N
và 240 kg P2O5, không thấy ảnh hưởng có ý nghĩa của phân kali ñến năng suất
hồ tiêu trong thí nghiệm này (Rafael và cộng sự, 1986) (trích dẫn từ Nguyễn
Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21].
Nghiên cứu tương quan giữa dinh dưỡng lá và năng suất tiêu ñen (Nybe và
cộng sự, 1989) [49] ñã xác ñịnh hai loại phân P và K ảnh hưởng mạnh nhất ñến năng
suất tiêu.
Theo khuyến cáo Hiệp hội Nghiên cứu cây gia vị Ấn ñộ, liều lượng phân
bón áp dụng cho cây tiêu trên ñất ñỏ vùng nhiệt ñới có hàm lượng dinh dưỡng
các nguyên tố chính trong ñất từ thấp ñến trung bình là 140g N, 55g P2O5, 270g
K2O kết hợp 600g vôi và 10kg phân chuồng/trụ/năm. Tỷ lệ NPK ñược khuyến
cáo áp dụng là 2,5 - 1 - 5, với mức bón lân thấp, kali gấp 2 lần phân ñạm (Indian
12
13
ñạt từ 4,33-12,33kg tiêu ñen.
Theo Trần Văn Hoà (2001) [7], lượng phân bón tùy thuộc vào ñất, giống
và tuổi cây, trong ñó phân hữu cơ ñóng vai trò quan trọng và tỷ lệ NPK phù hợp
cho cây tiêu là (2:1:4). Lượng phân khoáng có thể chia 4 lần bón. Lần 1 giúp
cây phục hồi sau thu hoạch, lần 2 giúp thúc quá trình phân hóa mầm hoa (sau khi
vào mùa mưa nửa tháng), lần 3 và 4 nhằm tăng ñậu quả và nuôi quả.
Bảng 1.1 Khuyến cáo lượng phân bón cho cây hồ tiêu
Tuổi cây
Phân chuồng
N
P2O5
K2O
(kg/trụ)
(g/trụ)
(g/trụ)
(g/trụ)
Năm thứ 1
ñộ và khoảng cách trồng:10kg phân chuồng hoai mục, 300 - 400g urê, 450 600g super lân, 200 - 250g clorua kali và 200 - 300g vôi/gốc/năm tương ñương
300 - 400kg N, 150 - 200kg P2O5 và 250 - 400kg K2O/ha/năm. Phân chuồng, lân,
vôi, 1/4 N và 1/4 K ñược bón sau khi thu hoạch, lượng N và K còn lại chia làm
ba lần bón vào ñầu, giữa và cuối mùa mưa.
Hầu hết các nghiên cứu trong và ngoài nước ñều ñề cao vai trò của phân
hữu cơ trong canh tác tiêu mặc dầu yêu cầu về phân bón vô cơ cho cây tiêu cũng
khá cao. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự (2005) [21] tại
Bà Rịa Vũng Tàu cho thấy việc sử dụng các loại phân hữu cơ như phân bò, phân
gà, phân rác ñã hạn chế ñược sự phát triển của bệnh héo chết nhanh trên cây tiêu
so với không bón phân. Kết quả ñiều tra của Trần Kim Loang và cộng sự (2006)
[10] cũng cho thấy các vườn tiêu thường xuyên ñược bón phân hữu cơ có mức
ñộ nhiễm bệnh héo chết nhanh thấp hơn các vườn không ñược bón phân hữư cơ.
Hiện nay nhiều hộ nông dân ñã sử dụng phân hữu cơ ñể bón thường xuyên cho
cây tiêu nhất là những vùng ñầu tư thâm canh cao như Chư Sê (Gia Lai), Cư Jút
14
(Đak Nông) với lượng 10 - 20 tấn/ ha/ năm.
Nghiên cứu của Tôn Nữ Tuấn Nam và Bùi Văn Khánh (2004) [14] cho
thấy, trên ñất ñỏ bazan, ñể ñảm bảo năng suất tiêu vào thời kỳ kinh doanh và ñạt
hiệu quả kinh tế cao có thể áp dụng liều lượng phân khoáng 300kg N, 150kg
P205 và 225kg K20/ha/năm kết hợp với 40 m3 phân chuồng và phun phân bón lá
Growmore 4 lần vào thời kỳ ra hoa ñậu quả. Nếu thiếu nguồn phân chuồng có
thể thay bằng các loại phân hữu cơ chế biến khác cũng có tác dụng tốt cho tiêu.
1.3.3. Tỉa cành tạo tán
Kỹ thuật tạo tán ñể trụ tiêu có ñược hình dáng thích hợp và có nhiều cành
mang quả là biện pháp kỹ thuật ñược quan tâm ở nhiều nước trồng tiêu. Tùy theo
vật liệu trồng ban ñầu là dây thân hay dây lươn (cành vượt) các biện pháp tạo hình
cho tiêu có thể khác nhau. Tiêu trồng bằng dây thân có thể dùng kỹ thuật cắt dây
Nước tưới ñóng vai trò quan trọng ñối với cây tiêu, một nghiên cứu về ảnh
hưởng của tưới nước trên giống tiêu Karimunda và Panniyur-1 từ năm 19881996 ở Panniyur và Kerala (Ấn Độ) cho thấy tưới nước với tỷ lệ IW/CPE=0,25
làm tăng năng suất lên hơn 90% (Satheesan và cộng sự, 1997) (trích dẫn từ
Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21]
Một nghiên cứu khác của IISR cũng cho thấy rằng lượng nước tưới cho
một trụ tiêu từ 7-10 lít/ngày trong mùa khô sẽ ñạt năng suất cao nhất 4,07
kg/trụ/năm so với ñối chứng 1,33 kg/trụ/năm [42]. Một mô hình tưới tiết kiệm
nước trên tiêu tại Đồng Nai với chu kỳ tưới 3 ngày/lần, lượng nước tưới 20
lít/trụ/lần ñã ñược ñánh giá có hiệu quả cao so với ñối chứng [13]. Đối với tưới
nhỏ giọt, chu kỳ 3 ngày/lần, lượng nước tưới 280-320 lít/trụ/tháng là phù hợp
nhất cho tiêu Sẻ 4-5 năm tuổi, trồng với khoảng cách 5 x 5 m [24]. Kết quả ñiều
tra khảo sát cũng cho thấy khi sử dụng hệ thống tưới phun dưới tán cho tiêu thì
lượng nước tối ưu cần cho cây phát triển tốt từ 35-40 lít/trụ/lần tưới, trong khi
tưới bồn truyền thống thì lượng nước tối ưu cần từ 100-120 lít/trụ/lần tưới. Thực
tế chu kỳ tưới thay ñổi tuỳ thuộc vào ñộ bốc thoát hơi nước, lượng mưa hàng
tháng và thời kỳ sinh trưởng của cây.
Hệ thống vi tưới (micro-irrigation) ñược áp dụng từ thế kỷ 19 và phát
triển mạnh trong những năm 60 khi chất dẻo Polyethylene ñược ứng dụng rộng
rãi. Sau ñó, việc bón phân qua hệ thống tưới (fertigation) cũng ñược ứng dụng ở
16
các nước nông nghiệp phát triển nhằm tăng hiệu quả sử dụng và giảm chi phí
bón phân. Đây là kỹ thuật mũi nhọn giúp phát triển nông nghiệp ở những nơi gặp
khó khăn nguồn nước như ở Úc, Nam Phi và Trung Đông. Hiện nay hệ thống
tưới tiết kiệm nước này ñược một số nhà vườn trồng tiêu ở nước ta sử dụng trên
những khu vực khó khăn về nguồn nước tưới [24].
Mặc dầu tiêu là loại cây thân leo có bộ rễ ăn nông và phân bố hẹp nhưng
nhiều nước trên thế giới trồng tiêu không tưới nước vì có lượng mưa phân bố
bệnh lá nhỏ do virus. Đối với bệnh chết nhanh nấm Phytophthora sp. là tác nhân
gây bệnh chính. Bệnh chết nhanh trước tiên ñược ghi nhận là do nấm
Phytophthora palmivora var piperis, nhưng sau ñó nấm ñược ñặt lại tên
Phytophthora palmivora MF4 (Tsao và ctv., 1985). Tên nấm bệnh ñược
Alizadeh và Tsao (1985) ñã xác ñịnh lại chủng P. palmivora MF4 phân lập từ
cây ca cao và hồ tiêu với tên P. capsici, theo nghĩa rộng, và cuối cùng là
Phytophthora capsici sensu lato (Tsao và Alizadeh, 1988) (trích dẫn từ Trần
Kim Loang và cộng sự, 2006) [10]. Bệnh rất nguy hiểm, nấm gây bệnh tấn công
trên tất cả các phần của cây tiêu, và ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng của cây,
trường hợp nấm bệnh tấn công vào rễ hoặc cổ rễ sẽ gây cây chết ñột ngột (chết
ẻo, hoặc héo rũ).
Sarma và cộng sự (1991) [51] cho rằng nguyên nhân gây bệnh thối gốc
trên cây hồ tiêu ở Ấn Độ là do Phytophthora capsici gây nên. Tại Philippines
[52], Thái Lan [51] ñã phát hiện có sự xâm nhập và gây hại của loài
Phytophthora
parasitica. Tuy nhiên loài gây hại phổ biến vẫn là loài
Phytophthora capsici. Tại Việt Nam, cũng có nhiều ý kiến khác nhau về tác nhân
gây bệnh chết nhanh trên cây tiêu. Theo Phạm Văn Biên (1989) [2]
Phytophthora sp. là một trong những tác nhân gây bệnh hại rễ và gốc thân cây
tiêu ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu
thành phần sâu bệnh hại hồ tiêu tại Tân Lâm (Quảng Trị) của Nguyễn Ngọc
Châu (1995) [5] cho biết tác nhân gây bệnh héo chết nhanh là do nấm
Phytophthora palmivora var. piperis. Từ các mẫu rễ tiêu bị bệnh thu thập ñược
ở Long Khánh (Đồng Nai), Nguyễn Vĩnh Trường và cộng sự (2002) [23] ñã xác
ñịnh nấm gây bệnh cây tiêu tại các vùng này là Phytophthora capsici bằng kỹ
thuật sinh học phân tử. Bằng phương pháp PCR và men cắt, Trần Kim Loang và
cứu tính ñối kháng của 5 dòng vi khuẩn Pseudomonas fluorescens phân lập từ