Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các dòng lúa QT vụ Xuân 2015 tại xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức - Pdf 38

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
KHOA LÂM HỌC

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
SINH VIÊN
Chuyên đề: “Đánh giá đặc điểm sinh trưởng
và phát triển của các dòng lúa QT vụ Xuân 2015
tại xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức”.

Giáo viên hướng dẫn:

TS.Bùi Thị Cúc

Sinh viên thực hiện : Chẳng Thị Huyền
Phùng Thị Tuyết Nhung
Trần Thị Xuân
Lớp

: K58_Khuyến nông

Hà Nội, 2015

1


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện chuyên đề nghiên cứu, chúng
tôi đã nhận được sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của các
thầy cô trong Bộ môn Khuyến nông và Phát triển nông thôn, trường Đại học
Lâm nghiệp Việt Nam.
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của từng cá

dễ chế biến và cho năng lượng khá cao. Theo tính toán của Peng et al (1999),
đến năm 2030 sản lượng lúa của thế giới phải đạt 800 triệu tấn mới có thể đáp
ứng được nhu cầu lương thực của con người.
Vấn đề lúa gạo không còn là vấn đề lương thực của một quốc gia mà đã
trở thành vấn đề an ninh lương thực toàn cầu, mang tính chính trị và có ảnh
hưởng sâu rộng đến sự phát triển của nền nông nghiệp nước nhà và thế giới
(Phạm Quang Diệu, 2009).
Theo đà phát triển của sức sản xuất và phân công lao động quốc tế, nhu
cầu của con người ngày càng phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, nhu cầu về ăn và
mặc vẫn là nhu cầu cần thiết hơn cả, trong đó nhu cầu về ăn uống lại đóng vai
trò số một trong đời sống hàng ngày. Bởi vậy, lương thực trở thành yếu tố được
chú trọng hàng đầu. Thực tế trong nhiều thập kỷ qua, thế giới luôn quan tâm, lo
lắng đến vấn đề lương thực như một đề tài thời sự cấp bách. Nhiều sách báo,
nhiều tổ chức và cá nhân, nhiều cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế thường xuyên
đề cập đến chương trình an ninh lương thực quốc gia và toàn cầu.
Việt Nam với dân số trên 90 triệu dân, việc đảm bảo an ninh lương thực là
mục tiêu lớn được Đảng và Nhà nước đặt ra trong giai đoạn trước mắt và lâu
dài. Vì thế, việc áp dụng các giống mới có năng suất, chất lượng được khuyến
khích và mở rộng trên phạm vi cả nước.
Với địa hình và điều kiện thời tiết thuận lợi, Mỹ Đức được đánh giá là
một huyện có khả năng phát triển một nền nông nghiệp toàn diện, trong đó lúa là
cây trồng thế mạnh của vùng. Mỹ Đức là huyện có truyền thống thâm canh lúa,
diện tích gieo cấy lúa hàng năm lên đến 23940 ha. Trong đó, vụ Xuân là 11940
ha và vụ Mùa là 12000 ha. Các địa phương trong huyện đang nỗ lực cố gắng
5


trong việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, đưa các giống lúa mới có sản lượng và
chất lượng cao vào sản xuất (Nguyễn Thái Dương, 2014).
Vấn đề đặt ra cho từng địa phương là lựa chọn giống lúa nào và bố trí

định đến năng suất. Kiểu gen tốt chỉ được biểu hiện trong một phạm vi nhất định
của môi trường. Những giống được so sánh qua một loạt môi trường thì biểu
hiện năng suất thường khác nhau. Vì vậy, tính ổn định và thích nghi của giống
với môi trường thường được sử dụng để đánh giá giống.
Mặc dù hầu hết các nước trên Thế giới đều nghiên cứu phát triển giống
cây trồng nói chung và giống lúa nói riêng nhưng chưa bao giờ đáp ứng đủ cho
nhu cầu sản xuất. Viện nghiên cứu lúa quốc tế International Rice Research
Institute đã có chương trình nghiên cứu lâu dài về lúa, các vấn đề về chọn giống,
tạo giống nhằm đưa ra những giống có đặc trưng chính như: thời gian sinh
trưởng, tính chống sâu, bệnh hại, chất lượng gạo, tính mẫn cảm với quang chu
kỳ thích hợp nhất với những vùng trồng lúa khác nhau.
Giống lúa mới được coi là tốt thì phải có độ thuần cao, thể hiện đầy đủ
các yếu tố di truyền của giống đó, khả năng chống chịu tốt với các điều kiện
7


ngoại cảnh bất thuận của từng vùng khí hậu, đồng thời chịu thâm canh, kháng
sâu bệnh hại, cho năng suất cao, phẩm chất tốt và ổn định qua nhiều thế hệ.
Muốn phát huy hết tiềm năng năng suất của một giống tốt đó phải sử dụng
chúng hợp lý, phù hợp với đất đai, điều kiện khí hậu và kinh tế xã hội của
vùng đó.
Các giống khác nhau có khả năng phản ứng với điều kiện sinh thái ở mỗi
vùng khác nhau. Do đó, để xác định được một số giống tốt cho từng vùng sản
xuất nông nghiệp là việc làm cần thiết và đòi hỏi có thời gian nhất định. Bởi vậy
việc xác định tính thích nghi của một giống mới trước khi đưa ra sản xuất trên
diện rộng thì giống đó phải được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau. Mục
đích là để đánh giá tính khác biệt, độ đồng đều, tính ổn định, khả năng thích
ứng, khả năng chống chịu sâu bệnh cũng như điều kiện bất thuận và khả năng
cho năng suất chất lượng, hiệu quả kinh tế của giống đó.
Bên cạnh các chỉ tiêu về năng suất, chất lượng, sức chống chịu…thì sinh

cho sinh trưởng và phát triển các mầm chồi này sẽ phát triển thành chồi hoàn
thiện cấp 1 (chồi sơ cấp), và có thể từ đây có thể hình thành ra chồi cấp 2 (chồi
thứ cấp) rồi cấp 3 (chồi tam cấp), nếu chăm sóc tốt, các chồi này sẽ mang bông
với rất nhiều hạt (chồi hữu hiệu).
Tùy vào từng giống, mà thân lúa có từ 12- 21 đốt. Độ to nhỏ của lóng thứ
nhất và lóng trên ngọn có liên quan đến số gié, số hoa trên bông. Nếu lóng sát
mặt đất to thì cây chóng đỗ ngã, lóng cổ bông to, số bó mạnh nhiều dẫn tới bông
nhiều gié và nhiều hạt. Nhiệm vụ của thân lúa là giữ cho cây lúa đứng vững và
vận chuyển chất dinh dưỡng.
1.1.2.3.

Lá.
Cấu tạo một lá lúa bao gồm phiến lá, bẹ lá và cổ lá.

Phiến lá: Là phần phơi ra ngoài ánh sáng, có một gân chính ở giữa và
nhiều gân phụ chạy song song từ cổ đến chót lá, phiến lá càng đứng và chứa
nhiều diệp lục (xanh đậm) sẽ quang hợp càng mạnh tạo chất khô chuyển vị nuôi
cây và bông lúa về sau.
Bẹ lá: Là phần tiếp theo phiến lá và ôm sát thân cây lúa giúp cây càng
đứng vững và ít bị đổ ngã, là nơi trung gian tích trữ và chuyển vận không khí,
dinh dưỡng cho các bộ phận khác của cây lúa.
Cổ lá: Là nơi tiếp giáp giữa phiến lá và bẹ lá, cổ lá có hai bộ phận đặc biệt
là tai lá và thìa lá, đủ hai bộ phận này là đặc điểm phân biệt giữa cây lúa và các
cây cỏ cùng họ khác tương tự cây lúa.
Tai lá: Là phần kéo dài của hai bên mép phiến lá có dạng lông chim và
uốn cong như hình chữ C.
Thìa lá: Là phần kéo dài của bẹ lá và chẻ đôi ở cuối ngọn.
1.1.2.4.

Bông.

Nội nhũ: Chiếm phần lớn hạt gạo chứa chất dự trữ, chủ yếu là tinh bột
(phần gạo chúng ta ăn hằng ngày). Bên ngoài hạt gạo được bao bọc bởi một lớp
vỏ lụa mỏng chứa nhiều vitamin, nhất là vitamin nhóm B. Khi chà trắng lớp này
tróc ra thành cám mịn.
Tinh bột: Tinh bột được cấu tạo bởi 2 loại polysacchride, được gọi là
amylose và amylopectin.
1.1.3. Các giai đoạn sinh trưởng.
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) và Nguyễn Thành Hối (2010). Thời gian
sinh trưởng của cây lúa chia làm 3 giai đoạn:
10


1.1.3.1.

Giai đoạn tăng trưởng.

Giai đoạn tăng trưởng bắt đầu từ khi nảy mầm đến khi cây lúa bắt đầu
phân hoá đòng. Giai đoạn này, cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra
nhiều chồi mới (nở bụi). Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thước lá ngày càng
lớn giúp cây lúa nhận nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh
dưỡng, gia tăng chiều cao, nở bụi và chuẩn bị cho các giai đoạn sau.
Trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi, cây
lúa bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5- 6. Chồi ra sớm trong nương mạ gọi là chồi
ngạnh trê. Sau khi cấy, cây mạ mất thời gian để hồi phục, bén rể rồi nở bụi rất
nhanh, cùng với sự gia tăng chiều cao, khích thước lá đến khi đạt số chồi tối đa
thì không tăng nữa mà các chồi yếu bắt đầu rụi dần (chồi vô hiệu hay còn gọi là
chồi vô ích), số chồi giảm xuống. Thời điểm có chồi tối đa có thể đạt trước,
cùng lúc, hay sau thời kỳ bắt đàu phân hoá đòng tuỳ theo giống lúa (Nguyễn
Ngọc Đệ (Giáo trình cây lúa, 2008).
Giai Đoạn này dài hay ngắn tùy theo giống lúa, các giống cao sản ngắn

Hạt gạo chứa một dịch lỏng màu trắng đục như sữa, nên gọi là thời kỳ ngậm sữa.
Thời kỳ chín sáp: Hạt mất nước, từ từ cô đặc lại nhưng vỏ trấu vẫn còn
xanh.
Thời kỳ chín vàng: Hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, trấu chuyển sang
màu vàng đặc thù của giống lúa, bắt đầu từ những hạt cuối cùng ở chót bông lan
dần xuống các hạt ở phần cổ bông nên gọi là “lúa đỏ đuôi”, lá già rụi dần.
Thời kỳ chín hoàn toàn: Hạt khô cứng lại, ẩm đọ hạt khoảng 20% hoặc
thấp hơn, tuỳ ẩm độ môi trường, lá xanh chuyển vàng và rụi dần. Thời điểm thu
hoạch tốt nhất là khi 80% hạt lúa ngả sang màu trấu đặc trưng của giống.
1.1.4. Đặc tính nông học của lúa.
1.1.4.1. Thời gian sinh trưởng của cây lúa.
Theo Bùi Chí Bửu (1998) cho rằng: Thời gian sinh trưởng thường do
nhiều gen điều kiển, cho nên sự phân ly có thể xảy ra đối với cả hai đặc tính
chín sớm và chín muộn (Bùi Chí Bửu và ctv.,1989).
Cây lúa thường chiếm 3- 6 tháng từ lúc nẩy mầm đến khi chín, phụ thuộc
vào giống và môi trường sinh trưởng. Trong thời kỳ ấy, cây lúa hoàn thành được
hai giai đoạn sinh trưởng chính kế tiếp nhau: Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng
và giai đoạn sinh trưởng sinh thực. Thời gian sinh trưởng của một giống lúa tùy
thuộc vào vùng và mùa vụ vì có phản ứng giữa quang chu kỳ, nhiệt độ và các
điều kiện nhiệt độ khác (Shouichi Yoshida, 1985).
Theo Nguyễn Văn Hoan (1999), các giống lúa có thời gian sinh trưởng
khác nhau, chủ yếu do sự dài ngắn khác nhau ở thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng.
Hai giai đoạn sau nhìn chung ổn định không phụ thuộc vào thời gian sinh trưởng
của giống dài hay ngắn. Thời gian sinh trưởng của một giống chuyên biệt cao
theo vùng và theo mùa vì những tương tác giữa sự mẫn cảm quang kỳ và nhiệt
độ của giống với điều kiện thời tiết.
Các giống có thời gian sinh trưởng quá ngắn có thể không cho năng suất
cao vì sự sinh trưởng dinh dưỡng hạn chế và những giống có thời gian sinh
12


Thời gian sinh trưởng của cây lúa có thể thay đổi do phương pháp gieo:
cấy thường có thời gian sinh trưởng dài hơn sạ, một số giống lúa của miền Nam
có thời gian sinh trưởng dài hơn khi trồng ở miền Bắc (Nguyễn Văn Luật và
ctv., 2001).
13


Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) lúa ngắn hay dài ngày là do sự kéo dài chủ
yếu của giai đoạn tăng trưởng. Thời gian của các giai đoạn tăng trưởng có thể
thay đổi một ít do phụ thuộc vào đặc tính giống, đất đai, mùa vụ trồng, phân
bón, chế độ chăm sóc và nhiệt độ của môi trường.
1.1.4.2.

Chiều cao cây.

Theo Bùi Chí Bửu và ctv., (1992) cho rằng: Chiều cao của cây lúa là một
đặc tính di truyền tùy theo giống. Chiều cao cây được kiểm soát bởi đa gen và
chịu ảnh hưởng của hoạt động cộng tính. Có ít nhất 5 nhóm gen điều khiển tính
trạng chiều cao cây lúa. Chiều cao cây được kiểm soát bởi đa gen và chịu ảnh
hưởng hoạt động của gen cộng tính.
Theo Jennings el al (1979), thân mạ thấp và cứng là hai yếu tố quyết định
tính đỗ ngã. Thân cây lúa dày hơn thì có nhiều bó mạch hơn, nó sẽ cung cấp và
tạo khả năng vận chuyển chất khô tích lũy tốt hơn. Thân cứng và dày có ý nghĩa
rất quan trọng trong việc chống đỗ ngã và dẫn đến chỉ số thu hoạch cao hơn.
Nếu thân lá không dày, thân không cứng và khỏe thì cho nên dù cây có tổng hợp
được nhiều chất xanh cũng dẫn đến đỗ ngã, che khuất lẫn nhau làm gia tăng một
số dịch hại dẫn đến năng suất giảm.
Cây cao 90- 100 cm được coi là lý tưởng cho năng suất cao. Cây có chiều
cao thích hợp từ 80- 100 cm là thích hợp, tuy nhiên cây lúa có thể cao tới 120
cm trong một số điều kiện nào đó (Jennings và ctv.,1979).

chồi tối đa và ổn định khoảng 10 ngày trước khi đạt được số chồi tối đa. Các
chồi ra sau đó thường sẽ tự rụi đi không thành bông được do chồi yếu không đủ
khả năng cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng với các chồi khác gọi là chồi vô hiệu
(Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Người ta cũng phân biệt thời gian đẻ nhánh hữu hiệu và vô hiệu. Trên cây
lúa, thông thường chỉ có những nhánh đẻ sớm, ở vị trí mắt đẻ thấp, có số lá
nhiều, điều kiện dinh dưỡng thuận lợi mới có điều kiện phát triển đầy đủ để trở
thành nhánh hữu hiệu (nhánh thành bông). Còn những nhánh đẻ muộn, thời gian
sinh trưởng ngắn, số lá ít thường trở thành nhánh vô hiệu.
Võ Tòng Xuân (1986) cho rằng giống có nhiều chồi rất cần thiết cho sản
lượng tối đa trong quần thể dày hoặc trung bình. Tuy nhiên, khả năng nảy chồi
trung bình cũng được xem là tốt đối với những giống lúa cho năng suất cao.
1.1.4.4.

Chiều dài bông.

Chiều dài bông do đặc tính di truyền quyết định nhưng chịu ảnh hưởng
mạnh của điều kiện môi trường, nhất là điều kiện dinh dưỡng trong giai đoạn
đầu hình thành bông (Trương Thị Ngọc Sương, 1991). Và chiều dài bông được
tính từ đốt cổ bông đến chót bông.
Trong chọn giống việc chọn tạo cây lúa có chiều dài bông bằng nữa chiều
cao thân lúa là tốt nhất. Giống có bông dài hạt xếp khít, tỷ lệ hạt chắc cao, khối
lượng 1000 hạt cao sẽ cho năng suất cao (Vũ Văn Liết và ctv., 2004). Chiều dài
15


bông thay đổi tùy vào giống và góp phần gia tăng năng suất. Do vậy trong tương
lai việc chọn tạo cây lúa có chiều dài bông bằng nữa chiều cao cây là tốt nhất.
1.1.5. Một số đặc tính ảnh hưởng đến năng suất lúa.
Số bông/m2.

đầy đủ dinh dưỡng nhưng chỉ khoảng 14- 15 nhánh cho bông hữu hiệu.
Như vậy, số bông trên đơn vị diện tích là yếu tố rất quan trọng trong
thành phần năng suất. Ở mức độ nhất định, số bông trên đơn vị diện tích càng
tăng thì năng suất lúa càng cao nên ngoài yếu tố giống cần có biện pháp canh
16


tác thích hợp như bón phân đúng thời điểm, điều chỉnh mực nước ruộng hợp
lý,... giúp lúa tăng số chồi hữu hiệu, tăng số bông trên đơn vị diện tích và
nâng cao năng suất.
Số bông/m2 là một chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng đến năng suất. Nhiều
nhà nghiên cứu trước đây cố gắng tăng cao năng suất thông qua việc gia tăng số
bông/m2. Tuy nhiên, số bông/m2 của một giống thường bị tác động do nhiều yếu
tố khác nhau: Giống, kỹ thuật canh tác, môi trường đất, mùa vụ,... Đối với lúa
mùa, số bông/m2 biến thiên từ 40- 256 bông. Số bông trung bình của các giống
là 119 bông/m2 thường tập trung nhiều ở khoảng 81- 160 bông/m 2 (Nguyễn Văn
Sánh, 1981).
Số bông trên đơn vị diện tích có ảnh hưởng thuận với năng suất. Các
giống lúa cải thiện thấp cây có số bông/m 2 trung bình phải đạt 500- 600 bông/m 2
đối với lúa sạ, 350- 450 bông/m2 đối với lúa cấy mới có thể cho năng suất cao
(Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Số bông/đơn vị diện tích cũng ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, trong đó vụ
Đông Xuân có số bông/m2 cao hơn vụ Hè Thu vì vụ Hè Thu mưa nhiều nên làm
ảnh hưởng đến khả năng quang hợp, do đó làm giảm khả năng nảy chồi.
Nguyễn Đình Giao (1997) đã khẳng định, số bông có quan hệ nghịch với
số hạt/bông và trọng lượng hạt. Vì vậy, khi tăng mật độ sạ, số bông/m 2 sẽ tăng
nhưng số lượng hạt/bông và trọng lượng hạt sẽ giảm.
Cây lúa chỉ cần có số bông vừa phải, gia tăng số hạt chắc trên bông thì tốt
hơn gia tăng số bông trên đơn vị diện tích (Bùi Chí Bửu, 1997).
1.1.5.2.

1.1.5.3.

Tỷ lệ hạt chắc.

Theo Nguyễn Đình Giao và ctv. (1997) tỷ lệ hạt chắc được quyết định vào
thời kỳ trước và sau trổ bông, có ba thời kỳ quyết định trực tiếp là giảm nhiễm,
trổ bông và chín sữa. Nguyên nhân hạt lép là do quá trình thụ phấn, thụ tinh
không thuận lợi, khi ra hoa gặp rét hoặc quá nóng, ẩm độ không khí quá thấp
hoặc quá cao, làm cho hạt phấn mất khả năng nẩy mầm, hoặc trước đó nhị và
nhụy phát triển không hoàn toàn, tế bào mẹ hạt phấn bị hại,... Xu hướng chọn
giống hiện nay là chọn giống có mật độ hạt trên bông cao cùng với tỷ lệ hạt chắc
cao (Vũ Văn Liết và Nguyễn Văn Hoan, 2007).
Phần trăm hạt chắc được xác định trước, trong và sau khi trổ gié. Đánh
giá ngắn về mọi yếu tố ảnh hưởng đến phần trăm hạt chắc như sau (Yoshida và
Parao, 1976) (trích Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2011):
-

Mức bón đạm cao: Vài giống có thể có phần trăm hạt chắc thấp hơn những
giống khác ở mức đạm cao. Ở mức đạm cao, sự đổ ngã hoặc thân cong làm giảm
phần trăm hạt chắc. Sự đổ ngã giảm phần trăm cắt ngang của bó mạch làm rối
loạn sự vận chuyển chất đồng hóa và dưỡng chất hấp thu qua rễ. Hiện tượng này
cũng làm rối loạn sự sắp xếp lá và tăng bóng rợp.

18


-

-


Đình Giao, 1997).
Trọng lượng 1000 hạt không đổi của một giống không có nghĩa là từng
hạt giống có cùng trọng lượng. Trọng lượng từng hạt thay đổi ở vài trường hợp
nhưng giá trị trung bình không đổi phụ thuộc vào giống, so với các yếu tố khác
của thành phần năng suất thì chỉ tiêu này ít biến động. Theo Shouichi Yoshida
(1981), (trích Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) trọng lượng 1000 hạt là đặc tính ổn định
của giống vì kích thước hạt bị kiểm tra chặt chẽ bởi vỏ trấu. Do đó, không thể
19


sinh trưởng lớn hơn khả năng vỏ trấu dù các điều kiện thời tiết thuận lợi và
nguồn cung cấp dinh dưỡng tốt.
Theo Lê Xuân Thái (2003) chọn giống có trọng lượng 1000 hạt cao là rất
cần thiết trong việc gia tăng năng suất lúa, nhưng không nên chọn những giống
lúa có trọng lượng 1000 hạt quá cao vì như thế sẽ kèm theo độ bạc bụng nhiều.
Theo Lê Trọng Nguyễn (2011) cũng cho rằng khối lượng 1000 hạt của
một giống có thể thay đổi trong một thời gian nhất định nhưng giá trị trung
bình thì luôn ổn định. Tính trạng trọng lượng ngàn hạt có hệ số di truyền cao
và ít chịu tác động của môi trường nên việc chọn giống có trọng lượng 1000
hạt cao là rất cần thiết, Tuy nhiên không nên chọn các giống có hạt quá to, vì
hạt to thường kéo theo bạc bụng nhiều và giá trị xuất khẩu thấp (Nguyễn Đình
Giao, 1977).
Ở phần lớn các giống lúa trọng lượng 1000 hạt thường dao động từ 20- 30
gam (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Theo Nguyễn Văn Sánh (1981) các giống lúa
mùa có trọng lượng 1000 hạt biến thiên từ dưới 23 gam đến trên 29 gam, tập
trung nhiều nhất ở cỡ hạt 25- 27 gam.
Trọng lượng 1000 hạt là yếu tố cuối cùng tạo nên năng suất lúa. So với
các yếu tố khác thì trọng lượng 1000 hạt tương đối ít biến động, nó phụ thuộc
chủ yếu vào yếu tố giống. Trọng lượng 1000 hạt do hai bộ phận cấu thành: trọng
lượng vỏ trấu và trọng lượng hạt gạo. Trọng lượng vỏ trấu thường chiếm 20% và

cây lúa. Tùy từng giai đoạn phát triển của cây lúa mà ảnh hưởng của nhiệt độ có
khác nhau (Đinh Thế Lộc, 2006).
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), nhiệt độ có tác dụng quyết định đến tốc độ
sinh trưởng của cây lúa nhanh hay chậm, tốt hay xấu. Trong phạm vi giới hạn
(20- 300ºC), nhiệt độ càng tăng cây lúa phát triển càng mạnh. Nhiệt độ trên
400°C hoặc dưới 170ºC, cây lúa tăng trưởng chậm lại. Dưới 130ºC cây lúa
ngừng sinh trưởng. Nếu kéo dài một tuần cây lúa sẽ chết.
Theo Trương Đích (2000) nhận định: Nhiệt độ tương quan chặt với bức
xạ mặt trời, mà bức xạ mặt trời là yếu tố khí hậu cơ bản quyết định năng suất
cây trồng, do vậy nhiệt độ và năng suất cây trồng có mối tương quan thuận và có
nhiều trường hợp nhiệt độ tương quan chặt với năng suất. Trong phạm vi nhiệt
độ thích hợp thì sự chênh lệch lớn giữa nhiệt độ ban ngày và ban đêm sẽ thuận
lợi cho lúa làm hạt, chín và dễ đạt năng suất cao hơn trong những vùng mà nhiệt
độ ngày và đêm chênh lệch ít.
Tóm lại, nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây
lúa. Nhiệt độ thích hợp sẽ giúp lúa phát triển tốt, thúc đẩy quang hợp cho năng
suất cao. Ngược lại, nhiệt độ ngoài giới hạn sẽ làm lúa sinh trưởng chậm lại
hoặc ngừng sinh trưởng.
Do đó, mỗi địa phương cần bố trí lịch thời vụ thích hợp để gieo trồng, tạo
điều kiện thuận lợi về nhiệt độ và các yếu tố môi trường khác cho lúa sinh
trưởng, phát triển tốt.
21


1.1.6.2. Ánh sáng.
Ánh sáng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, sinh sản và phát dục của cây lúa
trên hai phương diện: cường độ ánh sáng và quang kỳ (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Lượng bức xạ mặt trời có liên quan đến cường độ quang hợp, cường độ ánh
sáng tăng thì cường độ quang hợp tăng. Đến một giới hạn nào đó cường độ ánh
sáng tăng nhưng cường độ quang hợp không tăng nữa (Đinh Thế Lộc, 2006).



(Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.1.7. Các quan điểm về đặc điểm của cây lúa cho năng suất cao.
Xuất phát từ thực tế sản xuất với nhiều yếu tố tự nhiên bất lợi không
ngừng tác động trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa làm giảm
đáng kể năng suất. Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra những kết luận
về đặc điểm cây lúa giúp cho việc hạn chế những tác động bất lợi của môi
trường ở từng điều kiện cụ thể và phù hợp với kỹ huật thâm canh cho năng suất
cao. Cụ thể:
Theo Võ Tòng Xuân (1981), ngoài những đặc tính như thân ngắn, mọc
thẳng để dễ quang hợp, có chiều cao trung bình trên dưới 1m để chống đổ ngã,
có bẹ ôm sát thân, lá cờ thẳng và có đặc tính giấu bông để tránh chim chuột thì
cây lúa năng suất cao cần phải nở bụi nhiều và mạnh để để cây có nhiều bông,
bông phải nhiều và hạt lớn, hạt gạo dài, trắng trong và thơm, chống được các
loại sâu bệnh và côn trùng phổ biến.
Theo Matsushima (1970) (trích theo Đặng Văn Bân, 2013) đưa ra 6 đặc
điểm về kiểu hình cây lúa lý tưởng như sau:
-

Cây có đủ số hạt cần thiết trên đơn vị diện tích để đạt được năng suất như mong
muốn.
Thân thấp, bông ngắn, và có nhiều bông để tránh đổ ngã và gia tăng phần trăm
hạt chắc.
Ba lá trên cùng phải ngắn, dày và thửng đứng để tăng hiệu quả sử dụng ánh sáng
và do đó tăng phần trăm hạt chắc.
Duy trì khả năng hấp thụ Nito, ngay cả thời kỳ sau khi trổ để gia tăng phần trăm
hạt chắc.
Có càng nhiều lá xanh trên thân càng tốt (số lá xanh có thể xem như là chỉ số
biểu hiện sức khỏe cây lúa).

Thời kỳ sinh trưởng trung bình có tích tụ tinh bột trước khi trỗ bông (những
giống lúa sớm không có tích tụ này).
Hệ thống rễ mạnh.
Khă năng kháng nhiều loại sâu bệnh.
Chất lượng gạo được chấp nhận.
Tuy có nhiều ý kiến khác nhau về kiểu hình lúa cho năng suất cao, nhưng
có một dặc điểm chung của hầu hết các nhà chọn tạo giống là chọn ra giống lúa
có chỉ tiêu sinh trưởng ngắn ngày đến trung bình, chiều cao cây thấp đến trung
bình để hạn chế sự đổ ngã, phẩm chất tốt, kháng được nhiều sâu bệnh và đặc
biệt là phù hợp với điều kiện sinh thái, kỹ thuật canh tác tại địa phương. Trên cơ
sở đó tiến hành thâm canh cho năng suất lúa cao.
1.2.

Tình hình nghiên cứu các giống lúa ở Việt Nam.

Vai trò của cây lúa đối với đời sống của người dân Việt Nam là không thể
thay thế. Có thể nói ngành sản xuất lúa là xương sống của nền Nông nghiệp
Việt Nam, nó không những đáp ứng nhu cầu ăn của một nước đông dân như
nước ta mà còn góp phần quan trọng vào thị trường gạo trên Thế giới. Chính vì
tầm quan trọng của cây lúa như vậy nên Đảng và Nhà nước ta một mặt đầu tư
vào sản xuất, mặt khác còn đầu tư vào công tác nghiên cứu toàn diện về cây lúa,
trong đó có công tác giống.
Việc đưa các giống lúa mới vào sản xuất có khả năng cho năng suất cao
thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai và kỹ thuật canh tác của từng địa
phương là vấn đề rất quan trọng để nhanh chóng tạo ra bước nhảy vọt về năng
24


suất và sản lượng lương thực, đảm bảo an ninh lương thực, góp phần vào việc
thực hiện thành công các mục tiêu kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước bằng

nông dân vùng này trồng các giống lúa có chất lượng cao như: JASMIN85
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status