Hoàn thiện công tác phân bổ ngân sách nhà nước tại huyện đại từ tỉnh thái nguyên - Pdf 38

1
MỤC LỤC
3.4.1.1.2 Những bất cập, tồn tại.................................................................................62


2
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách Nhà nước (NSNN) là khâu cơ bản, chủ đạo của tài chính nhà
nước, là nguồn tài chính tập trung quan trọng nhất trong hệ thống tài chính
quốc gia. NSNN tác động trực tiếp đến việc tăng quy mô đầu tư, thúc đẩy nền
kinh tế tăng trưởng phát triển. Thông qua việc phân bổ NSNN, Nhà nước thực
hiện việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế, thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế nhằm
phát triển bền vững và không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội
( KTXH). Điều đó cho thấy việc phân bổ sử dụng nguồn vốn có hiệu quả
NSNN của quốc gia nói chung và của địa phương nói riêng có ý nghĩa hết sức
quan trọng giúp Chính phủ và chính quyền các cấp thực hiện tốt các mục tiêu
tăng trưởng KTXH của mình.
Ở Việt Nam quá trình phân bổ ngân sách đã trải qua nhiều thời kỳ và đã
có những chuyển biến đáng kể,đánh dấu bằng sự ra đời của Quyết định
139/2003/QĐ-TTg về định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên của NSNN
cho các bộ. ban ngành, cơ quan Trung ương ( TW) và các tỉnh,thành phố trực
thuộc TW ngân sách (PBNS) theo Quyết định 139 của Chính phủ đã đạt được
những kết quả quan trọng như : Đảm bảo tính công bằng, hợp lý, đảm bảo
tính công khai, minh bạch của NSNN. Đồng thời qua đó thể hiện ưu tiên đối
với vùng miền núi,vùng cao,vùng đồng bào dân tộc có nhiều khó khăn và
vùng kinh tế trọng điểm,phù hợp với khả năng cân đối NSNN, bảo đảm thực
hiện nhiệm vụ phát triển KTXH, quốc phòng an ninh, góp phần tăng cường
công tác quản lý nguồn tài chính, sử dụng ngân sách có hiệu quả, tiết kiệm.
Tuy nhiên quá trình thực hiện hệ thống định mức phân bổ chi thường
xuyên ( TX) của NSNN trong thời gian qua còn có những hạn chế : Phạm vi

phương pháp tăng thêm một tỷ lệ phần trăm nhất định so với số ước thực hiện
năm hiện hành,chưa gắn chặt với việc triển khai thực khai thực hiện kế hoạch
KTXH của địa phương. Vì vậy,một số dự toán phân bổ giao chính thức cho
Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện không sát với thực trạng KTXH.Trước


4
tình hình đó, việc nghên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác phân bổ Ngân sách
Nhà nước tại huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên”
Nhằm góp phần thực hiện tốt kế hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện
Đại Từ tỉnh Thái Nguyên là cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận
thực tiễn đang đặt ra hiện nay
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở thực trạng công tác phân bổ công tác NSNN tại huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên, luận văn phân tích nhằm thực hiện công tác phân bổ
NSNN của huyện Đại từ; giúp huyện thực hiện có hiệu quả vốn ngân sách của
Nhà nước, góp phần phát triển KTXH của huyện đến năm 2020.
2.2.Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về NSNN ; phân bổ NSNN, cơ sở
phương pháp luận về xây dựng PBNS.
- Đánh giá thực trạng công tác xây dựng ĐMPBNS và những kết quả
đạt được, những bất cập tồn tại trong việc phân bổ NSNN giai đoạn 20102014 của huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên.
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân bổ NSNN của
huyện Đại Từ đến năm 2020
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
- Là công tác phân bổ NSNN ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu công tác phân bổ ngân sách của

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NSNN VÀ PHÂN BỔ NSNN
1.1. Ngân sách nhà nước
1.1.1. Khái niệm NSNN
Trong thực tiễn khái niệm ngân sách thường để chi tổng thu và chi của
một đơn vị trong một thời gian nhất định.Một bảng tính toán và các chi phí để
thực hiện một kế hoạch,hoạc một chương trình cho một mục đích nhất định
cảu một chủ thể nào đó.Nếu chủ thể đó là Nhà nước thì được gọi là Ngân sách
Nhà nước,.
Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu- chi của Nhà nước đã
được nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm
để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước.
Ngân sách Nhà nước Viện Nam bao gồm NSTW và NSĐP.Ngân sách
địa phương có ngân sách của đơn vị hành chính,các cấp có HĐND và UBND
phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền nhà nước ta hiện nay.NSĐP bao
gồm: NS cấp tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương,ngân sách cấp
huyện,quận ,thị xã ,thành phố thuộc tỉnh và ngân sách cấp xã,phường,thị trấn.
1.1.2. Nội dung kinh tế của Ngân sách Nhà nước
* Nội dung thu ngân sách Nhà nước.
Căn cứ vào nội dung kinh tế, các khoản thu NSNN ở nước ta gồm:
- Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của pháp luật.
- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước theo quy định của
pháp luật, như tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế; thu hồi
tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi); thu nhập từ vốn góp của Nhà nước
vào các cơ sở kinh tế, kể cả thu từ lợi nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ về
thuế của các tổ chức kinh tế có sự tham gia góp vốn của Nhà nước theo quy
định của Chính phủ.
- Thu từ các hoạt động sự nghiệp; tiền sử dụng đất; thu từ hoa lợi


7

8
tổ chức tài chính của Nhà nước; góp vốn cổ phần liên doanh vào các doanh
nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định
của pháp luật.
- Chi dự trữ nhà nước là khoản chi để mua hàng hóa, vật tư dự trữ nhà
nước có tính chiến lược của quốc gia hoặc hàng hóa, vật tư dự trữ nhà nước
mang tính chất chuyên ngành.
- Chi ĐTPT thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà
nước chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, chương trình
135, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, dự án định canh định cư ở các xã
nghèo, dự án chống xuống cấp và tôn tạo các di tích lịch sử, cánh mạng và
kháng chiến..
* Chi thường xuyên:
+ Các lĩnh vực chi thường xuyên bao gồm:
-Chi cho các hoạt động về sự nghiệp kinh tế ,giao thông ,thủy lợi ,nông
nghiệp,ngư nghiệp ....
- Chi cho quốc phòng an ninh,trật tự an toàn xã hội.
- Chi cho sự nghiệp thuộc lĩnh vực văn hóa- xã hội,sự nghiệp giáo dục,y tế ...
- Chi khác.
Ngoài ra chi thường xuyên lớn đã được sắp xếp và phân bổ trên thì còn một
số các khoản chi thường xuyên khác cũng được sắp xếp như chi thường
xuyên mục tiêu quốc gia,dự án nhà nước.Việc phân loại chi thường xuyên
nhằm phục vụ cho việc phân tích đánh giá tình hình sử dụng ngân sách nhà
nước trên cơ sở đó giúp cho việc đánh giá hoạch định các chính sách chi
NSNN phù hợp với mỗi khoản chi.
*Phân loại các khoản chi thường xuyên theo nội dung kinh tế
Việc phân loại này nhằm phục vụ cho việc lập dự toán, quản lý việc phân
bổ, quyết toán và đánh giá tình hình NSNN trong từng đơn vị sử dụng NSNN.
- Các khoản chi cho con người thuộc khu vực HCSN như tiền lương, tiền




10
nhiên liệu; chi phí cho nghiên cứu, hội thảo khoa học; chi phí về thuê mướn chuyên
gia, giáo viên để tư vấn hay đào tạo cho đội ngũ nghiên cứu; chi phí để
1.1.3.

Chức năng của Ngân sách Nhà nước

Chức năng phân phối giữa các cấp ngân sách; thực hiện phân chia theo
tỷ lệ phần trăm (%) đối với khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách và bổ
sung cân đối ngân sách cho cấp dưới để đảm bảo công bằng, phát triển cân đối
giữa các vùng.
- Chức năng đôn đốc; kiểm tra, giám sát, chức năng này cụ thể là các
nhiệm vụ như kiểm tra chấp hành ngân sách Nhà nước, kế toán và kiểm toán
và quyết định ngân sách Nhà nước một cách thường xuyên liên tục. Thực hiện
tốt chức năng này sẽ đem lại những thông tin trung thực cho việc quản lý các
hoạt động của ngân sách Nhà nước, giúp cho Nhà nước phát hiện ra những
thiếu sót, kịp thời chỉnh sửa, phát huy được những kết quả tốt đã đạt được góp
phần thúc đẩy hoàn thiện luật Ngân sách Nhà nước, tiến tới các mục tiêu
chiến lược quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta đã xác định.
Chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền về quản lý nhà nước do
pháp luật quy định. Ngân sách là công cụ của chính quyền các cấp trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ. Vì vậy, phân cấp quản lý NS phải phù hợp nhằm đảm bảo
điều kiện vật chất để thực thi nhiệm vụ một cách hiệu quả. Năng lực quản lý của
chính quyền các cấp cũng là một yếu tố cần được xem xét kỹ trước khi thực hiện
phân cấp mạnh cho địa phương.
1.1.4. Vai trò của ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là nguồn huy động tài chính để đảm bảo các nhu
cầu chi tiêu của Nhà nước. Mức động viên vào ngân sách Nhà nước đối với

trường không rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo.
Đối với các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nước, ngân
sách Nhà nước hỗ trợ cho sự phát triển của doanh nghiệp kịp thời đảm bảo
cho sự ổn định cơ cấu kinh tế hay chuẩn bị chuyển sang cơ cấu mới cao hơn.


12
Thông qua các khoản thuế và chính sách thuế đảm bảo thực hiện định
hướng đầu tư, kích thích hay hạn chế sản xuất kinh doanh.
Các nguồn vay nợ từ nước ngoài và trong nước sẽ tạo thêm nguồn vốn
cho nền kinh tế, tuy nhiên để sử dụng vốn có hiệu quả đòi hỏi phải có biện
pháp sử dụng vốn một cách hợp lý.
+) Về xã hội
Ngân sách Nhà nước chi cho các phúc lợi xã hội như: Y tế, dịch vụ, vui
chơi giả trí, kế hoạch hóa gia đình, văn hóa thể thao, chi đảm bảo xã hội, giải
quyết việc làm, trợ giá mặt hàng… đặc biệt là chi cho sự nghiệp giáo dục –
đào tạo mà chỉ có Nhà nước mới thực hiện được.
Ngân sách Nhà nước được huy động chủ yếu là thuế và các khoản thu
ngoài thuế. Thông qua thuế thu nhập và thuế lợi tức nhằm phân phối lại thu
nhập giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp với
mục đích là làm giảm sự chênh lệch trong xã hội.
Thông qua thuế gián thu để hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm. Tuy
nhiên cần phải nghiên cứu đầy đủ và có sự thống nhất giữa chính sách và biện
pháp, tránh xảy ra những điều không hợp lý.
+) Về mặt thị trường
Ngân sách Nhà nước có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các
chính sách về ổn định giá cả thị trường, chống lạm phát thông qua thuế, lệ
phí. Phí và chính sách chi ngân sách Nhà nước, Nhà nước có thể điều chỉnh
giá thị trường một cách chủ động.
Chính sách ngân sách Nhà nước thắt chặt hay mở rộng đều có tác động

dụng tích cực của nó rất lớn, ngược lại sẽ gây ra tình trạng bất ổn định trên thị
trường làm cho lạm phát tăng cao.
Với vai trò của mình vai trò của NSNN là công cụ của Nhà nước để
cùng với thị trường tác động tích cực vào nền kinh tế,tạo động lực khuyến
khích mọi thành phần kinh tế phát triển.Mở rộng và tăng cường sử sụng tích


14
cực các công cụ tài chính tiền tệ,sửa đổi bổ sung các chính sách phù hợp với
quy luật kinh tế thị trường.
1.2. Phân bổ Ngân sách Nhà nước.
1.2.1 Khái niệm phân bổ NSNN.
Từ thực tiễn hoạt động quản lý, sử dụng NSNN, phân bổ ngân sách
nhà nước được hiểu là: Việc thiết lập, vận hành cơ chế phân chia và phân bổ
nguồn tài chính giữa các cấp ngân sách, giữa ñơn vị quản lý và sử dụng ngân
sách theo những nguyên tắc, tiêu chí, căn cứ, định mức và phương pháp tính
toán nhất định nhằm đảm bảo cho mỗi cấp, mỗi đơn vị có đủ nguồn tài chính
để thực hiện nhiệm vụ theo chức năng được giao, phát triển KTXH, góp phần
giảm thiểu sự bất bình đẳng tài chính giữa các địa phương, đơn vị, thực hiện
quản lý và PBNS theo đúng chủ trương, quan điểm, mục tiêu của Nhà nước
từng thời kỳ
1.2.2. Nguyên tắc phân bổ NSNN
- Thực hiện theo đúng quy định của Luật NSNN,các tiêu chí và định
mức phân bổ vốn xây dựng cơ bản tập trung được xây dựng là cơ sở để xác
định số vốn bổ sung cân đối từ ngân sách tỉnh cho ngân sách cấp huyện thành
phố ( gọi chung là ngân sách cấp huyện ) năm 2015.
- Đảm bảo sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư của NSNN tạo điều
kiện để thu hút tối đa các nguồn vốn khác theo cho chủ đầu tư
- Bảo đảm tính công khai,minh bạch,công bằng trong việc phân bổ
NSNN

chủ yếu của nền kinh tế, Bộ Tài chính chủ trì phối họp với các Bộ và UBND
cấp tình xây dụng dự toán NSNN (trong đó có dự toán chi đầu tư), phối họp
với Bộ Kế hoạch và Đầu tư phân bổ dự toán vốn đầu tư cho từng Bộ, UBND
tỉnh và các dự án quan trọng của Nhà nước để trình Chính phủ trình Quốc hội
phê chuẩn.
Phân bổ dự toán chỉ đầu tư phát triển


16
Sau khi dự toán NSNN được Quốc hội quyết định và Chính phủ giao,
các Bộ và UBND các cấp lập phương án phân bổ vốn đàu tư cho các dự án
đàu tư thuộc phạm vi quản lý phù họp với kế hoạch KTXH và qui hoạch được
duyệt, đã đủ thủ tục đầu tư và xây dựng, đảm bảo khớp đúng với chỉ tiêu được
giao về tổng mức đầu tư, cơ cấu vốn các dự án quan trọng của Nhà nước và
đúng với Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ về điều hành kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN hàng năm. Riêng đối với
các dự án được đàu tư từ các nguồn vốn được để lại theo Nghị quyết của
Quốc hội (tiền sử dụng đất, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết) phải bảo đảm
tuân thủ đúng quy định về đối tượng đầu tư và mục tiêu sử dụng từng nguồn vốn.
Phương án phân bổ vốn đầu tư của UBND các cấp phải trình HĐND
cùng cấp quyết định. Sở Tài chính phối họp với Sở Kế hoạch và Đầu tư về
việc dự kiến phân bổ vốn đầu tư cho từng dự án do cấp tỉnh quản lý báo cáo
UBND cấp tình quyết định. Phòng Tài chính huyện chủ trì phối họp với các
cơ quan chức năng của huyện tham mưu cho UBND cấp huyện phân bổ vốn
đầu tư cho từng dự án do huyện quản lý. Bộ máy quản lý tài chính NS ở xã
tham mưu cho UBND cấp xã lập phương án phân bổ vốn đầu tư cho các dự án
thuộc phạm vi cấp xã được phân cấp quản lý.
Sau khi phân bổ vốn đầu tư cho từng dự án, các Bộ và UBND huyện
phải gửi Sở Tài chính. UBND cấp huyện gửi cho Sở Tài chính, UBND cấp xã
gửi cho Phòng Tài chính để kiểm tra các quy định sau:

cho phù họp.
Khả năng nguồn kinh phí có thể đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên của
năm dự toán. Muốn dự đoán được khả năng này, cần dựa vào cơ cấu thu
NSNN kỳ báo cáo và mức tăng trưởng của các nguồn thu năm dự toán để thiết
lập mức cân đối chung giữa khả năng nguồn kinh phí và nhu cầu chi thường
xuyên của NSNN.
Các chính sách, chế độ chi thường xuyên của NSNN hiện hành và dự
đoán những điều chỉnh hoặc thay đổi có thể xảy ra thòi gian tới. Đây là cơ sở


18
pháp lý cho việc tính toán dự toán chi thường xuyên của NSNN và tạo điều
kiện cho quá trình chấp hành dự toán được thuận lợi khi có sự điều chỉnh
hoặc thay đổi chính sách, chế độ chi tiêu.
Kết quả phân tích, đánh giá tình hình quản lý và sử dụng kinh phí chi
thường xuyên năm báo cáo sẽ cung cấp các thông tin càn thiết cho việc lập dự
toán chi theo các phương diện:
+ Tính phù hợp của các định mức chi hay các chính sách chế độ chi
tiêu hiện hành, trên cơ sở đó mà hoàn chỉnh bổ sung kịp thời.
+ Xác định hướng gia tăng các khoản chi cả về tốc độ và cơ cấu. Kết
quả của các loại hoạt động được đảm bảo bởi nguồn kinh phí chi thường
xuyên của NSNN.
1.2.5.Định mức phân bổ NSNN
- Xây dựng định mức phân bổ :
+ Định mức chi tổng hợp theo từng đối tượng được tính định mức chi
của NSNN ( hay còn gọi là định mức phân bổ). Định mức chi tổng hợp được
sử dụng nhiều nhất trong quá trình lập dự toán NSNN,nhằm xây dựng được
dự toán sơ bộ để giao số kiểm tra và hướng dẫn các ngành,các đơn vị sử dụng
ngân scahs lập dự trù kinh phí.Định mức chi tổng hợp nhiều khi cũng được
dùng để ấn định chính thức mức chi mà mỗi đối tượng được phép áp dụng khi

toán; hoặc đánh giá khái quát tình hình quản lý và sủ dụng kinh phí của mỗi
đơn vị thụ hưởng sau mỗi kỳ báo cáo. Do vậy với mỗi loại hình đơn vị khác
nhau sẽ có đối tượng để tính định mức phân bổ khác nhau. Bởi vậy, phương
pháp xây dựng định mức phân bổ cho các loại hình đơn vị được tiến hành như
sau:
Xác định đối tượng định mức: Đối tượng để tính định mức phân bổ
cho mỗi loại hình đơn vị phải vừa phản ánh đặc trưng của hoạt động thuộc
nhiệm vụ chuyên môn của mỗi loại hình đơn vị đó,vừa gắn chặt với cách thức
quản lý,phương pháp phân tích tình hình sử dụng kinh phí tại mỗi đơn vị thụ


20
hưởng.Nên với mỗi loại hình hoạt động khác nhau,người ta xác định đối
tượng để tính định mức khác nhau.
Đánh giá,phân tích tình hình thực tế chi theo định mức chi nhằm xem
xét phù hợp của định mức hiện hành.Yêu cầu rất quan trọng đối với định mức
phân bổ này là phải đảm bảo được sự công bằng giãu các vùng,các địa
phương về khả năng tạo nguồn ngân sách để đáp ứng nhu cầu chi thường
xuyên mà mỗi đơn vị địa phương đó phải đảm bảo.Trong khi đó,các loại hình
hoạt động thuộc phạm vi chi thường xuyên ngày càng phát triển.quy trình lập
và phân bổ dự toán NSNN
+ Các yêu cầu đối với đối với định mức phân bổ
Một là,các ĐMPBNS phải được xây dựng một cách khoa học
Hai là: các ĐMPBNS phải có tính thực tiễn cao
Ba là: ĐMPB phải đảm bảo tính thống nhất
Bốn là : DDMPBNS phải đảm bảo tính pháp lý cao
1.2.6 Quy trình lập và phân bổ dự toán NSNN
* Lập dự toán, phân bổ vốn đầu tư phát triển
- Căn cứ lập, tổng hợp và trình phê duyệt dự toán
Hàng năm, căn cứ vào Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư hướng

hoạt động xổ số kiến thiết) phải bảo đảm tuân thủ đúng quy định về đối tượng đầu
tư và mục tiêu sử dụng từng nguồn vốn.
Phương án phân bổ vốn đầu tư của UBND các cấp phải trình HĐND cùng
cấp quyết định. Sở Tài chính phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư về việc dự kiến
phân bổ vốn đầu tư cho từng dự án do cấp tỉnh quản lý báo cáo UBND cấp tỉnh
quyết định. Phòng Tài chính huyện chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng
của huyện tham mưu cho UBND cấp huyện phân bổ vốn đầu tư cho từng dự án
do huyện quản lý. Bộ máy quản lý tài chính NS ở xã tham mưu cho UBND cấp xã
lập phương án phân bổ vốn đầu tư cho các dự án thuộc phạm vi cấp xã được phân
cấp quản lý.
Sau khi phân bổ vốn đầu tư cho từng dự án, các Bộ và UBND tỉnh phải gửi


22
Bộ Tài chính. UBND cấp huyện gửi cho Sở Tài chính, UBND cấp xã gửi cho
Phòng Tài chính để kiểm tra các quy định sau:
- Đảm bảo các điều kiện của dự án được ghi vào kế hoạch đầu tư hàng năm.
- Sự khớp đúng với chỉ tiêu được giao về tổng mức đầu tư, cơ cấu vốn
trong nước và vốn nước ngoài, cơ cấu ngành kinh tế, mức vốn cho các dự án quan
trọng của Nhà nước.
- Tuân thủ đúng các quy định về đối tượng đầu tư và việc sử dụng từng
nguồn vốn đầu tư với các dự án được đầu tư bằng nguồn vốn theo Nghị quyết của
Quốc hội và quyết định của Chính phủ [9, 25].
*Lập dự toán, phân bổ chi thường xuyên
- Căn cứ lập dự toán chi thường xuyên
Dự toán chi thường xuyên là một bộ phận hết sức quan trọng của dự toán
chi NSNN. Vì vậy, lập dự toán chi thường xuyên phải dựa trên những căn cứ sau:
- Chủ trương của Nhà nước về duy trì và phát triển các hoạt động thuộc bộ
máy quản lý Nhà nước, các hoạt động sự nghiệp, quốc phòng – an ninh và các
hoạt động xã hội khác trong từng giai đoạn. Dựa vào căn cứ này sẽ giúp cho việc

quả của các loại hoạt động được đảm bảo bởi nguồn kinh phí chi thường
xuyên của NSNN.
Có thể nói các thông tin thu thập được từ kết quả phân tích, đánh giá tình
hình quản lý và sử dụng kinh phí chi thường xuyên của NSNN năm báo cáo là căn
cứ mang tính thực tiễn cao đối với quá trình lập dự toán chi thường xuyên. Trong
khuôn khổ của dự án: “Lập trình tài chính và cải cách cơ cấu” do Học viện đào tạo
khu vực của IMF tại Singapore (STI) hỗ trợ cho Bộ Tài chính Việt Nam, tháng
9/1999 đã đề cập đến phương pháp phân tích số liệu thực tiễn qua một giai đoạn
để xác định chỉ số gia tăng bình quân qua các năm, nhằm lựa chọn mức dự đoán
cho từng chỉ tiêu thu, chi NSNN năm dự toán. Tuy nhiên, muốn tăng tính chính
xác của chỉ tiêu dự đoán cần phải kết hợp với nhiều tham số khác nữa. Chính vì
vậy, việc sử dụng và tôn trọng tất cả các căn cứ là yêu cầu tất yếu khi xây dựng dự
toán chi thường xuyên của NSNN [9, 25].


24
-Các phương pháp xác định dự toán chi thường xuyên của ngân sách nhà
nước
Có 2 phương pháp tính để xác định dự toán chi thường xuyên của NSNN:
a. Phương pháp tính tổng hợp
Theo phương pháp này thì số dự toán chi thường xuyên cho mỗi loại
hình đơn vị sẽ được xác định dựa vào định mức chi tổng hợp (hay định mức
phân bổ) dự kiến cho một đối tượng và số đối tượng bình quân được tính định
mức. Tổng dự toán chi thường xuyên cho các loại hình đơn vị sẽ là số chi
thường xuyên dự toán của NSNN. Có thể mô tả phương pháp này theo công
thức sau:
n

CTX = ∑ ( M i × Di )
i =1

CCN: số dự toán chi cho CCVC của NSNN.
MCNi: mức chi bình quân một CCVC dự kiến năm dự toán thuộc ngành
thứ i.
SCNi: số CCVC bình quân dự kiến năm dự toán thuộc ngành i.
MCNi thường được xác định dựa vào mức chi thực tế của năm báo cáo, đồng
thời có tính đến những điều chỉnh có thể xảy ra về mức lương, phụ cấp và một số
khoản khác mà Nhà nước dự kiến thay đổi trong kỳ kế hoạch.
SCNi = SCNđn + SCNtg - SCNgi
Trong đó:
SCNđn: số CCVC có mặt đầu năm dự toán ngành thứ i.
SCNtg: số CCVC dự kiến tăng bình quân năm dự toán ngành thứ i.
SCNgi: số CCVC dự kiến giảm bình quân năm dự toán ngành thứ i.
Thứ hai, tính dự toán chi nghiệp vụ chuyên môn
Tùy theo tính chất hoạt động của mỗi ngành và chế độ Nhà nước cho phép
mà số chi nghiệp vụ chuyên môn có sự khác nhau. Do vậy, số chi nghiệp vụ
chuyên môn của mỗi ngành sẽ được xác định theo từng nội dung cụ thể gắn với
nhu cầu kinh phí và khả năng đảm bảo của nguồn kinh phí NSNN. Chi NSNN
cho nghiệp vụ chuyên môn thuộc mỗi ngành gồm:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status