MỞ ĐẦU
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản giữ địa vị đặc biệt quan trọng trong
kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Sự ra đời của tác phẩm vĩ đại
này đánh dấu sự hình thành về cơ bản lý luận của chủ nghĩa Mác bao gồm
ba bộ phận hợp thành: triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa cộng sản
khoa học. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản còn là cương lĩnh chính trị của
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, là kim chỉ nam cho hành động
của toàn bộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản là ngọn cờ dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân dân lao
động toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, giải phóng
loài người vĩnh viễn thoát khỏi mọi áp bức, bóc lột giai cấp, bảo đảm cho
loài người được thực sự sống trong hòa bình, tự do và hạnh phúc.
Sở dĩ Tuyên ngôn có sức sống lâu bền và giá trị to lớn như thế trước
hết là bởi nội dung của nó mang tính cách mạng và khoa học rất sâu sắc. C.
Mác và Ph. Ăng-ghen đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử để luận giải một cách khoa học về quy luật khách quan của sự
phát triển xã hội; về vị trí và ý nghĩa quan trọng của sản xuất vật chất cũng
như vai trò của kiến trúc thượng tầng; về quá trình phát sinh, phát triển và
sự tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản; về vai trò, sứ mệnh lịch sử và
phương hướng đấu tranh của giai cấp công nhân hướng tới xây dựng một
xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh. Đặc biệt là học thuyết về giai cấp và
đấu tranh giai cấp được Mác – Ăng ghen trình bày trong tác phẩm không
chỉ có ý nghĩa trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam
trước đây mà còn cả trong giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Nhận thức đúng về cuộc đấu tranh giai cấp trong tình hình hiện nay là cơ
sở quan trọng để củng cố lập trường, nâng cao tinh thần cảnh giác cách
mạng, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ
Đảng, bảo vệ Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa của nước ta.
1
cuộc đấu tranh đã bắt đầu thể hiện quy mô liên vùng, liên quốc gia. Nhu
cầu đấu tranh của công nhân đòi hỏi bức thiết phải có một tổ chức chặt chẽ
lãnh đạo, phải có một lý luận tiên tiến soi đường, phải có một cương lĩnh
mang đầy đủ tính cách mạng và khoa học, làm kim chỉ nam cho hành động
của quần chúng.
2
Đáp ứng nhu cầu ấy, năm 1846, Các Mác và Ăng ghen đã thành lập
Ủy ban thông tin cộng sản ở Bỉ, sau đó là ở Anh, Pháp, Đức để thống nhất
về tư tưởng, tổ chức của những người xã hội chủ nghĩa và công nhân tiên
tiến của tất cả các nước.
Tháng 6 năm 1847, Ăng ghen tham gia tích cực vào công việc của
Đại hội lần thứ nhất “Liên đoàn những người cộng sản” ở Luân Đôn. “Liên
đoàn những người chính nghĩa” đổi tên thành “Liên đoàn những người
cộng sản” và thay khẩu hiệu “Tất cả mọi người đều là anh em” thành “Vô
sản tất cả các nước, đoàn kết lại!” Tháng 11 năm 1847, Đại hội lần thứ hai
của Liên đoàn đã giao cho Mác và Ăng ghen soạn thảo cương lĩnh của Liên
đoàn dưới hình thức tuyên ngôn. Cuối tháng 1 năm 1848, Mác hoàn thành
việc biên soạn và bản thảo được gửi đi Anh. Cuối tháng 2 năm 1848, Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản được xuất bản lần đầu tiên tại Luân Đôn, sau đó
được tái bản nhiều lần và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.
1.2. Kết cấu
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản gồm: phần mở đầu, bốn chương và
các lời tựa cho mỗi lần tái bản.
- Lời tựa:
Tuyên ngôn là tài liệu lịch sử mà Mác và Ăng ghen không có quyền
sửa, nên mỗi lần tái bản các ông đều bổ sung cho tác phẩm của mình bằng
Lời tựa. Lời tựa viết cho bản tiếng Đức xuất bản năm 1873 khẳng định: Lý
tạc của giai cấp tư sản về chủ nghĩa cộng sản, qua đó đưa ra những dự kiến
khoa học về xã hội cộng sản tương lai.
Chương 3: Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
Nội dung của chương: Phê phán những trào lưu tư tưởng phản động
có ảnh hưởng tiêu cực đến phong trào của giai cấp vô sản: trào lưu tư tưởng
4
chủ nghĩa xã hội phản động, chủ nghĩa xã hội tư sản và chủ nghĩa xã hội
không tưởng.
Chương 4: Thái độ của những người cộng sản đối với các đảng đối lập
Nội dung của chương: thể hiện thái độ của những người cộng sản
trong quá trình phân hoá giai cấp. Qua đó thể hiện tinh thần cách mạng triệt
để không ngừng, chính sách liên minh đoàn kết đấu tranh của những người
cộng sản.
Tư tưởng cơ bản của Tuyên ngôn là :
•
Cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng trong mỗi thời đại do
sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội của thời đại ấy quyết định.
•
Lịch sử phát triển của xã hội có giai cấp là lịch sử đấu tranh giai cấp.
•
Giai cấp vô sản chỉ có thể tự giải phóng cho mình nếu đồng thời và
vĩnh viễn giải phóng cho toàn xã hội.
chứng khách quan khoa học cho nó về lý luận và thực tiễn, thì nhiệm vụ đặt
ra hết sức khẩn trương cho Mác và Ăng ghen là phải hoàn chỉnh nội dung
học thuyết về giai cấp. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, học thuyết
này đã được trình bày rất rõ ràng và rất toàn diện. Ở đây toàn bộ các nội
dung khác nhau của quan niệm duy vật về lịch sử đã kết tinh trong học
thuyết về giai cấp, được vận dụng vào việc vạch ra, chứng minh quy luật
đấu tranh giai cấp đã tất yếu đưa đến cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản
trong xã hội tư sản.
Về giai cấp tư sản:
Theo Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, lịch sử đã chứng minh rằng,
sự ra đời và tồn tại của mỗi giai cấp hoàn toàn không phải do giai cấp ấy
quyết định mà do sự vận động của phương thức sản xuất đương thời. Giai
6
cấp tư sản cũng vậy, bản thân nó “cũng là sản phẩm của một quá trình phát
triển lâu dài, của một loạt những cuộc cách mạng trong phương thức sản
xuất và trao đổi”
Thời kỳ đầu, giai cấp tư sản đóng một vai trò hết sức cách mạng
trong lịch sử. Nó đã:
- Xoá bỏ tất cả những tập quán, chuẩn mực hà khắc tồn tại như
những sợi dây vô hình mà xã hội cũ tạo ra để trói buộc con người; “tạo ra
những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của
tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”
- Xoá tình trạng cát cứ phong kiến, xoá bỏ trạng thái ngu muội của
đời sống thôn dã ở một bộ phận lớn dân cư, tạo cho đời sống vật chất và
đời sống tinh thần của con người có tính toàn cầu. Tạo ra được sự tập trung
về dân chủ, kinh tế, chính trị, hình thành nên những dân tộc thống nhất, có
luật pháp thống nhất, có lợi ích thống nhất, có tính chất giai cấp và thuế
quan thống nhất.
trước đây, những quan hệ sản xuất không còn tương ứng với lực lượng sản
xuất đã lớn mạnh nữa. Chúng trở nên cản trở sự phát triển của lực lượng
sản xuất. Mọi sự đối phó, điều chỉnh trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản
không thể giải quyết được mâu thuẫn này và tất yếu sẽ dẫn đến sự diệt
vong của quan hệ sở hữu tư sản, sự diệt vong của phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa cũng như sự diệt vong đã xảy ra đối với các phương thức sản
xuất trước đó.
Như vậy là, giai cấp tư sản đã làm cho nền sản xuất mang tính chất
xã hội. Nhưng chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa lại mâu thuẫn không thể điều
hoà với tính chất xã hội của nền sản xuất ấy. Sự phát triển của nền sản xuất
tư bản chủ nghĩa đòi hỏi phải thủ tiêu chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa đó và
đã chuẩn bị những tiền đề khách quan cho quá trình đó. Mác và Ăngghen chỉ ra
rằng, quá trình đó không diễn ra một cách tự động. Người đào huyệt chôn chế
độ tư bản chủ nghĩa là giai cấp vô sản do chính xã hội tư bản đẻ ra.
8
Giai cấp vô sản
Giai cấp vô sản, như Ăngghen đã giải thích trong Lời tựa viết cho
lần xuất bản bằng tiếng Anh năm 1888, là giai cấp của những công nhân
làm thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc phải
bán sức lao động của mình để sống.
- Quá trình đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản đi
từ lẻ tẻ đến có tổ chức, từ tự phát đến tự giác, từ đấu tranh thuần tuý về
kinh tế đến đấu tranh hướng về một lý tưởng xã hội.
Trong Tuyên ngôn, Mác và Ăngghen đã chỉ ra giai cấp vô sản là lực
lượng có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình vì:
+ Giai cấp vô sản là sản phẩm của nền đại công nghiệp nên trong khi
các giai cấp khác suy tàn và tiêu vong cùng sự phát triển của nền đại công
nghiệp, thì ngược lại, giai cấp vô sản lớn mạnh cùng với sự lớn mạnh của
điều này giai cấp tư sản đã cung cấp cho những người vô sản một phần tri
thức của bản thân giai cấp tư sản.
Do phá sản, do không theo kịp sự phát triển của nền đại công nghiệp
nên từng bộ phận trọn vẹn của giai cấp thống tri bị đẩy vào hàng ngũ giai
cấp vô sản. Những bộ phận ấy cũng đem lại cho giai cấp vô sản nhiều tri
thức cần thiết.
Một bộ phận những nhà tư tưởng của giai cấp tư sản do nhận thức
được quá trình vận động của lịch sử đã đứng sang hàng ngũ những người
vô sản. Lực lượng này cũng góp một phần không nhỏ vào hoạt động chính
trị của giai cấp vô sản.
Tuyên ngôn còn chỉ rõ, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản là cuộc
đấu tranh mang tính quốc tế, mặc dù lúc đầu nó mang hình thức dân tộc vì
giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải lật đổ giai cấp tư sản ở ngay trong
nước mình. Cuộc đấu tranh đó sẽ thành một cuộc cách mạng mà giai cấp vô
sản thiết lập sự thống trị của mình bằng cách dùng bạo lực lật đổ giai cấp tư
sản.
10
Từ những tư tưởng cơ bản trên, Tuyên ngôn khẳng định: “Cùng với
sự phát triển của nền đại công nghiệp, chính cái nền tảng trên đó giai cấp tư
sản đã sản xuất và chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sập dưới chân
giai cấp tư sản. Trước hết, giai cấp tư sản sản sinh ra những người đào
huyệt chon chính nó. Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp
vô sản đều là tất yếu như nhau”.
2.2.Vấn đề đấu tranh giai cấp
Học thuyết về giai cấp chỉ ra rằng, đấu tranh giai cấp bao giờ cũng là
đấu tranh giữa những “kẻ áp bức và những người bị áp bức”. Chúng luôn
luôn đối kháng nhau và tiến hành một cuộc đấu tranh không ngừng, lúc
công khai, lúc ngấm ngầm. Đó là đấu tranh giữa “người tự do và người nô
phải tuân theo những điều kiện bảo đảm cho phương thức chiếm hữu của
chính chúng. Những người vô sản chỉ có thể giành được những lực lượng
sản xuất xã hội bằng cách xoá bỏ phương thức chiếm hữu hiện nay của
chính mình, và do đấy, xoá bỏ toàn bộ phương thức chiếm hữu nói chung
đã tồn tại từ trước đến nay. Những người vô sản chẳng có gì là của mình để
bảo vệ cả, họ phải phá huỷ hết thảy những gì từ trước đến nay vẫn bảo đảm
và bảo vệ chế độ tư hữu”; “tất cả những phong trào lịch sử, từ trước đến
nay, đều là do thiểu số thực hiện hoặc đều mưu lợi ích cho thiểu số. Phong
trào vô sản là phong trào độc lập của khối đại đa số, mưu lợi ích cho đại đa
số. Giai cấp vô sản, tầng lớp ở bên dưới nhất của xã hội hiện tại, không thể
vùng dậy, vươn mình lên nếu không làm nổ tung toàn bộ cái thượng tầng
kiến trúc bao gồm những tầng lớp cấu thành xã hội quan phương”; và “tất
cả những xã hội trước kia, như chúng ta đã thấy, đều dựa trên sự đối kháng
giữa các giai cấp áp bức với các giai cấp bị áp bức”. Nhưng muốn áp bức
một giai cấp nào đó thì cần phải bảo đảm cho giai cấp ấy những điều kiện
sinh sống khiến cho họ, chí ít, cũng có thể sống được trong vòng nô lệ.
Người nông nô trong chế độ nông nô, đã tiến tới chỗ trở nên một thành
viên của công xã, cũng như người tiểu tư sản đã vươn tới địa vị người tư
12
sản, dưới ách của chế độ chuyên chế phong kiến”. Nhưng “người công dân
hiện đại, trái lại, đã không vươn lên được cùng với sự tiến bộ của công
nghiệp, mà còn luôn luôn rơi xuống thấp hơn, dưới cả những điều kiện sinh
sống của chính giai cấp họ. Người lao động trở thành một người nghèo
khổ, và nạn nghèo khổ còn tăng lên nhanh hơn là dân số và của cải. Vậy
hiển nhiên là giai cấp tư sản không có khả năng tiếp tục làm tròn vai trò
giai cấp thống trị của mình trong xã hội và buộc toàn xã hội phải chịu theo
điều kiện sinh sống của giai cấp mình, coi đó là một quy luật chi phối tất
cả. Nó không thể thống trị được nữa”.
mọi thời “hiện tượng một bộ phận này của xã hội bóc lột một bộ phận
khác”. Quá trình ấy diễn ra thông qua các kết cấu xã hội nhất định, những
giai đoạn kế tiếp nhau theo xu hướng đi lên, dựa trên sự phát triển không
ngừng của lực lượng sản xuất, phương thức sản xuất và bao giờ cũng kết
thúc bằng một cuộc cải tạo cách mạng toàn bộ xã hội, hoặc bằng sự diệt
vong của hai giai cấp đấu tranh với nhau. Trong toàn bộ quá trình ấy, cuộc
đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản là kết quả hợp quy luật,
hợp logic của nó.
Vậy, có thể nói học thuyết về giai cấp trong Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản có nội dung cơ bản là học thuyết về quy luật đấu tranh giai cấp
với tư cách là một trong các quy luật xã hội quan trọng nhất của sự phát
triển lịch sử loài người nói chung. Học thuyết này tổng hợp, kết tinh toàn
bộ nội dung của triết học khoa học về lịch sử. Ở đây đấu tranh giai cấp
được giải thích gắn liền với mỗi giai đoạn phát triển của sản xuất vật chất,
phương thức sản xuất, cụ thể hơn là lực lượng sản xuất và chế độ sở hữu
với sự tác động của các quy luật sản xuất và được đặt trong những kết cấu
xã hội, những chế độ xã hội nhất định trong sự biến đổi của chúng từ thấp
lên cao.
14
III. Ý nghĩa của tác phẩm
3.1. Về lý luận
Đây là một trong những tác phẩm quan trọng nhất trong kho tàng lý
luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Việc ra đời Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
đánh dấu sự hình thành cơ bản của chủ nghĩa Mác với tất cả các bộ phận cấu
thành nó: triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học.
•
cách nhìn biện chứng về lịch sử: một lịch sử với những thời kỳ cách mạng
và phản động, chiến tranh và hoà bình, ngưng trệ và tiến bộ, phát triển và
suy sụp; một lịch sử với những động lực, những xung đột đầy mâu thuẫn.
Chính trong tình trạng rối tung và hỗn độn bề ngoài ấy, Tuyên ngôn là kim
chỉ nam để tìm ra quy luật, là lý luận về đấu tranh giai cấp. Lý luận này vừa
làm sáng tỏ tính chất phức tạp của hệ thống các quan hệ xã hội, vừa làm
sáng tỏ những giai đoạn quá độ từ giai cấp này đến giai cấp khác, từ quá
khứ đến tương lai.
•
Với kinh tế chính trị học:
Nghiên cứu những mối quan hệ giữa người với người hình thành
trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng tư liệu sinh hoạt
trong xã hội nhất định của lịch sử là nội dung cơ bản của kinh tế chính trị
học. Trong chủ nghĩa Mác, bộ “Tư bản” là tác phẩm đề cập sâu sắc nhất
những nội dung trên ở xã hội tư bản hiện đại, nhưng ở Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản, việc phân tích phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa từ
khi mới manh nha hình thành đến xu thế tất yếu phải diệt vong đã là cơ sở
có tính định hướng cho việc mổ xẻ nền kinh tế hàng hoá trong “Tư bản”
của Mác sau này.
•
Với chủ nghĩa xã hội khoa học:
Với tính cách là văn kiện cương lĩnh chính trị đầu tiên của phong
trào vô sản, Tuyên ngôn được coi là mốc đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa
xã hội khoa học. Cho đến ngày toàn thắng, phong trào vô sản còn nhiều
16
chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp
giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu
nước Việt Nam. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn chứa đầy những biến cố lịch
sử trọng đại, từ phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930-1931) đến nay. Trong
thắng lợi của cách mạng Việt Nam không ai có thể phủ nhận vai trò định
hướng của Tuyên ngôn, cũng không thể phủ nhận sự vận dụng một cách
linh hoạt, đầy trí tuệ và sáng tạo các nguyên lý của Tuyên ngôn do Đảng
Cộng sản Việt Nam đã thực hiện trong quá trình lãnh đạo cách mạng.
Câu hỏi thực tiễn đặt ra cho chúng ta hiện nay là: vậy trên thế giới và
ở Việt Nam hiện nay có còn đấu tranh giai cấp nữa hay không?
Trước xu thế hoà bình - hợp tác, toàn cầu hóa, khu vực hóa và quá
trình hội nhập quốc tế sâu rộng, nhiều người dường như lãng quên vấn đề
giai cấp và đấu tranh giai cấp. Ai nói đến đấu tranh giai cấp liền bị quy là
"bảo thủ", "giáo điều". Ai nhắc nhở phải cảnh giác với âm mưu "diễn biến
hòa bình" thì cho là "thiếu thức thời", "tư duy cũ". Nhất là sau sự sụp đổ
chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô, một lần nữa,
nhiều nhân vật chống cộng và không ít kẻ "ăn theo" càng được thể lu loa đủ
điều, hí hửng rằng: chủ nghĩa xã hội đã chết, lý tưởng cộng sản đã hết thời;
rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã cáo chung! Họ cố tình đồng nhất việc Liên
Xô đổ vỡ với việc chấm dứt chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
Tại sao có chuyện rùm beng như thế? Nếu như vấn đề giai cấp không còn
nữa; nếu đấu tranh giai cấp không còn nữa, thì lẽ gì họ phải quá hằn học
với chủ nghĩa xã hội và lý tưởng cộng sản làm vậy? Hóa ra là, vấn đề giai
cấp vẫn còn nguyên đó. Nó tồn tại tới khi nào không còn giai cấp đối kháng
về lợi ích kinh tế và lập trường chính trị. Vấn đề giai cấp thể hiện ra ở tất cả
18
hội ngày càng gia tăng vì cơn lốc của lợi nhuận. Nếu đi sâu thêm, ta thấy
rằng, nguồn gốc của sự xung đột giai cấp trong xã hội tư bản là do lô-gích
phát triển trong điều kiện bất bình đẳng, đa số phải phục tùng lợi ích và
quyền lực của thiểu số; đồng thời, đó là sự vận hành trên cơ sở quan hệ bóc
lột và bị bóc lột giữa giai cấp tư sản và người lao động. Ở các nước phương
Tây hiện nay, đi đôi với việc phát triển khoa học - công nghệ và tăng năng
suất lao động, mức độ bóc lột của giai cấp tư sản (thể hiện ở tỷ suất giá trị
thặng dư) vẫn tăng đáng kể. Chẳng hạn ở Mỹ, tỷ suất giá trị thặng dư trong
các ngành sản xuất công nghiệp mấy thập kỷ qua đã tăng như sau: năm
1950: 241%; năm 1960: 247,6%; năm 1970: 255%; năm 1980: 289%;
những năm 1990: khoảng 300%; những năm đầu thế kỷ XXI: khoảng
307%.... Không chỉ ở các nước đang phát triển, mà ngay trong lòng các
nước tư bản chủ nghĩa giàu có nhất, luôn đồng thời tồn tại một thế giới của
những người nghèo khó (số người sống dưới mức nghèo khổ hiện nay ở
Mỹ khoảng 30 triệu, ở Tây Âu khoảng 40 triệu). Mặc dù giai cấp tư sản đã
có sự mềm dẻo nhất định trong việc làm dịu mâu thuẫn giữa tư bản và lao
động, nhưng đấy vẫn chỉ là ở từng nơi, từng lúc, còn về cơ bản, mâu thuẫn
giữa tư bản và lao động vẫn ngày càng gay gắt; thuế khóa, thất nghiệp, các
tệ nạn xã hội luôn đeo đẳng người nghèo. Điều đó, sẽ đẩy những mâu thuẫn
xã hội lên đỉnh điểm, dẫn đến bùng nổ xã hội. Cuộc sống ngày càng chứng
minh dự báo của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin là hoàn toàn
đúng đắn: mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất với
hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất sẽ được
giải quyết theo hướng công cộng hóa hình thức sở hữu cho phù hợp với
tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất, và điều đó không phải cái gì
khác mà chính là chủ nghĩa xã hội. Từ tự do cạnh tranh, chủ nghĩa tư bản
phát triển tới độc quyền, độc quyền nhà nước; trong phạm vi, rồi ra ngoài
phạm vi quốc gia và trở thành chủ nghĩa tư bản toàn cầu. Cùng với quá
trình toàn cầu hóa ngày càng tăng, những biện pháp điều chỉnh các quan hệ
21
việc bao vây, cấm vận đối với nước Cu-ba dũng cảm và kiên cường, cùng
các điểm nóng khác ở một số nước thuộc Liên Xô (cũ)... Tất cả những sự
việc trên cho thấy: cuộc đấu tranh giai cấp ở mọi nơi chưa hề ngưng nghỉ,
kể cả sau chiến tranh lạnh. Cũng vì lẽ đó, mà lịch sử đã diễn ra với nhiều sự
kiện chưa từng thấy ở các nước thế giới thứ ba; phong trào cánh tả Mỹ La
tinh - nơi các dân tộc ngày càng thức tỉnh, không cam phận phụ thuộc vào
Mỹ. Một sự thật mà ai cũng biết là, ở Mỹ, hết đời tổng thống này đến đời
tổng thống khác, chính sách đối ngoại đều có một điểm chung: đối phó với
cuộc đấu tranh giai cấp ở các nước thế giới thứ ba. Và cũng vì thế, trên thế
giới đã xuất hiện những nhân vật nổi tiếng, đại diện cho lương tri của các
dân tộc: A-rơ-ben, Hồ Chí Minh, Lu-mum-ba, Phi-đen Ca-xtơ-rô, A-gienđê... Trên quy mô toàn cầu, các lực lượng chống cộng và chống cách mạng
vẫn tiếp tục các đòn tiến công, không chỉ bằng các vũ khí hủy diệt con
người, mà bằng mọi vũ khí có thể sử dụng, như: kinh tế, tư tưởng, văn hóa,
truyền thông... Điều đó càng chứng tỏ, chủ nghĩa tư bản lo sợ sức mạnh
ngày càng tăng của các dân tộc kiên quyết đấu tranh xoá bỏ xiềng xích nô
lệ, thực hiện bằng được chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Sức
mạnh của chủ nghĩa tư bản ở cuối thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI đang bị
lung lay, không còn như trong thế kỷ XX.
Các thế lực đế quốc hiếu chiến và các lực lượng thù địch bao giờ
cũng coi sự tồn tại của chủ nghiã xã hội là sự uy hiếp đối với chúng. Vì thế,
chúng không chấp nhận sự hiện diện của chủ nghĩa xã hội và phong trào
đấu tranh vì sự tiến bộ, công bằng xã hội trên thế giới. Âm mưu phá bỏ
Liên Xô, làm tan rã chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu, lật đổ lãnh đạo
của các đảng cộng sản, phủ định hình thái ý thức xã hội chủ nghĩa là mục
tiêu nhất quán trong kế hoạch, cũng như trong hành động của chủ nghĩa đế
quốc. Thực hiện hàng loạt chiến lược qua nhiều thập kỷ "chiến tranh lạnh",
mà đặc biệt là cuộc chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém làm suy yếu và kiệt
về tư tưởng, bài bản "diễn biến" tiếp theo là phá hoại đảng cộng sản về mặt
tổ chức: cổ vũ đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập trong chế độ xã hội
chủ nghĩa; đòi huỷ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, hạ thấp yếu tố "tập
23
trung", nhấn mạnh vai trò của nhân tố "dân chủ", hô hào dân chủ tư sản...
Một khi đã chấp nhận đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập, thì làm sao
tránh khỏi tình trạng trong đảng thì có các "phái", bên ngoài thì có các đảng
khác? Để thực hiện "diễn biến hòa bình" ở các nước không theo con đường
TBCN, các thế lực chống cộng còn dùng thủ đoạn từng bước mua chuộc,
lôi kéo các phần tử dao động, bất mãn, gây dựng các tổ chức chống cộng
ngay trong nội bộ đảng cộng sản và các tổ chức xã hội ở các nước đó.
Thực tế cho thấy, phương Tây không chỉ nuôi dưỡng, mà còn ủng hộ,
thúc đẩy phe đối lập chính trị đoạt quyền lãnh đạo của đảng cộng sản. Để làm
được điều đó, các thế lực chống cộng thường dùng các hình thức sau:
- Vạch kế hoạch gây rối trong xã hội để dễ bề giành quyền lực.
Hoặc, lợi dụng khó khăn về kinh tế, phối hợp bên trong với bên ngoài để
thực hiện âm mưu chính trị.
- Thông qua bầu cử hợp pháp (sau khi bằng nhiều thủ đoạn tinh vi
gây sức ép về kinh tế và chính trị), buộc đảng cộng sản cầm quyền phải
thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập trong xã hội.
- Phát động đảo chính quân sự khi đảng cộng sản cầm quyền suy
yếu, mất tín nhiệm và sự ủng hộ trong quần chúng do đường lối, chính sách
sai lầm.
Tất cả những thủ đoạn mà các thế lực đế quốc đã và đang sử dụng đối với
các nước xã hội chủ nghĩa cũng như đối với giai cấp những người lao động trên
toàn thế giới cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay so với trước đây không
kém phần gay go, quyết liệt, phức tạp. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, nó thể
hiện cả trong việc bảo vệ lý tưởng cộng sản, chủ nghĩa Mác - Lê-nin và trong việc
giai cấp ở Việt Nam hiện nay cũng chứa đựng không ít những khó khăn,
thách thức và cần thường xuyên chú ý đến việc chống khuynh hướng tự
phát tư bản chủ nghĩa.
Thực tế cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp chưa bao giờ ngừng, học
thuyết của Mác về giai cấp và đấu tranh giai cấp vẫn giữ nguyên giá trị
trong thời đại ngày nay. Việc Đảng ta xác định nội dung chủ yếu của đấu
tranh giai cấp ở nước ta hiện nay là một sự sáng tạo, đổi mới về nhận thức.
25