1 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU 1
B. PHẦN NỘI DUNG 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1.1 Khái quát triết học cổ điển Đức 3
1.2. Quan điểm chung về đạo đức và tôn giáo 6
Chương 2: 10
QUAN ĐIỂM VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ TÔN GIÁO TRONG TRIẾT HỌC CỦA LUDWIG
FEUERBACH 10
2.1 Quan điểm của Ludwig Feuerbach về đạo đức 10
2.2 Quan điểm tôn giáo 14
2.3 Thành tựu và hạn chế trong Triết học Feuerbach 18
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Triết học là là sản phẩm tinh thần của hiện thực và thời đại, là nền tảng
hình thành và phát triển của xã hội loài người. Triết học được xem như là gốc rễ
của ngành khoa học. Triết học phát triển từ thấp đến cao, giống như một cây cổ
thụ từ lúc nảy mầm, phát triển đến khi trưởng thành.
Dưới tán cây cổ thụ triết học lịch sử có biết bao bông hoa nở rộ, mỗi một
bông hoa mang một gam màu làm tươi đẹp cuộc sống của chúng ta, giúp khai sáng
tri thức của nhân loại. Trong số những bông hoa ấy, Ludwig Feuerbach nổi lên
như đại biểu cuối cùng của triết học cổ điển Đức. Và ông đã mang đến vinh quang
cho toàn bộ nền triết học tư sản cổ điển. Feuerbach là nhà triết học duy vật duy
nhất một mình chống lại hệ thống triết học duy tâm của triết học tư bản cổ điển
Đức. Triết học của ông chất chứa đầy tính duy vật khả tri và nhân bản, nó là cội
nguồn tư tưởng của triết học Mác .
Đặc biệt trong quan điểm triết học của Feuerbach thì vấn đề về tôn giáo và
con người chiếm vị trí chủ đạo. Hơn nữa, vấn đề con người của ông thể hiện tính
nhân bản cao, ông đề ra các nguyên tắc và chuẩn mực hành vi của con người trong
xã hội – đạo đức. Đây là những khía cạnh rất quan trọng trong đời sống xã hội, nó
được những thành tựu to lớn như vậy nhưng nước Đức cho đến đầu thế kỷ 19 vẫn
là một quốc gia phong kiến lạc hậu. Sở dĩ nước Đức còn ở trình độ rất lạc hậu vì
hai lý do:
Thứ nhất, về địa lý, nước Đức đứng ngoài những đường thương mại quốc
tế lớn, chủ yếu bấy giờ đang phát triển ở bờ biển Đại Tây Dương (Tư bản phát
triển ở Anh, Hà Lan, Pháp), ngoại thương không có điều kiện phát triển nên nền
kinh tế Đức lúc bấy giờ vẫn lạc hậu và kém phát triển.
Thứ hai, trong giai đoạn này nền kinh tế và chính trị của Đức lạc hậu và rơi
vào khủng hoảng. Các lực lượng tiến bộ ở Đức đã bị đàn áp và tiêu hủy phần lớn,
các giai cấp nông dân, tiểu tư sản và tư sản bị chế độ hoàng thân lần lượt đàn áp.
Cả đất nước bao trùm bầu không khí bất bình của đông đảo quần chúng. Chế độ
phong kiến thối nát vẫn được tích cực duy trì làm cản trở đất nước phát triển theo
con đường tư bản chủ nghĩa. Liên bang Đức chỉ tồn tại về hình thức, thực chất,
đất nước cũng phân chia thành nhiều tiểu vương quốc nhỏ tách biệt nhau.
(1)
(1)Như Ph.Ăngghen nhận xét, “có thể coi đây là một trong những thời kỳ
yếu hèn nhất trong lịch sử nước Đức” , “ Mọi thứ sắp lung lay, xem chừng sắp
sụp đổ, thậm chí chẳng còn tời một tia hy vọng chuyển biến tốt lên vì dân tộc,
thậm chí không còn đủ sức vượt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi”.
Giáo viên hướng dẫn
TS. BÙI VĂN MƯA
Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
trong triết học của Ludwig Feuerbach
4 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Trong bối cảnh đó, Nước Đức cần phải có cách nhìn mới về hiện tượng tự
nhiên và tiến trình lịch sử nhân loại, cần có quan niệm mới về khả năng và hoạt
động của con người. Với nhu cầu đó, triết học cổ điển Đức ra đời. Với sứ mạng
lịch sử đó, Triết học cổ điển Đức thời kỳ này đạt được sự phát triển chưa từng có
Chủ Nghĩa Duy Tâm Tuyệt Đối, tinh thần, biện chứng về "ông chủ/nô lệ", về cuộc
sống đạo đức và tầm quan trọng của lịch sử. Hegel bị kết tội là cha đẻ của Chủ
nghĩa phát xít, dù nhiều người ủng hộ ông lại không đồng ý với quan điểm này.
Dù thế nào đi nữa thì Hegel vẫn là người có công lớn trong việc phát triển
triết học thế giới vì ông là người đầu tiên sử dụng phép duy vật biện chứng một
cách có hệ thống, chính nhờ vào phép duy vật biện chứng của Hegel mà Marx đã
có những thành công rực rỡ trong việc phát triển lý luận Chủ Nghĩa Xã Hội khoa
học, là hạt nhân của Chủ Nghĩa Marx-Lenin ngày nay.
1.1.2.3. Johann Gottlieb Fichte
Johann Gottlieb Fichte (19/5/1762 – 27/1/1814) là một nhà triết học Đức.
Ông là một trong những nhân vật sáng lập phong trào triết học được gọi là chủ
nghĩa duy tâm Đức, một phong trào đã phát triển từ các tác phẩm lý luận và đạo
đức của Immanuel Kant. Fichte thường bị coi như là một con số mà triết lý hình
thành một cầu nối giữa các ý tưởng của Kant và chủ nghĩa duy tâm của Hegel.
Fichte cũng đã viết triết học chính trị và được xem là một trong những cha đẻ của
chủ nghĩa dân tộc Đức.
1.1.2.4. Ludwig von Andreas Feuerbach
Ludwig von Andreas Feuerbach (28/7/1804 - 13/9/1872) là một nhà triết
học Đức và nhà nhân chủng học. Ông là con trai thứ tư của luật gia nổi tiếng Paul
Ritter von Johann Anselm Feuerbach, anh trai của nhà toán học Karl Wilhelm
Feuerbach, và chú của họa sĩ Anselm Feuerbach.
Ông là đại diện cuối cùng, là sự kết thúc vẻ vang của Triết học cổ điển
Đức. Ông là nhà cải cách triệt để, nhà duy vật và vô thần. Feuerbach bắt đầu sự
nghiệp của mình với tư cách là một nhà duy tâm, là môn đệ và là học trò của
Hegel. Ông thuộc nhóm Hegel trẻ. Tư tưởng cải cách triết học của ông nhen
nhóm từ 1828 và được hình thành từ năm 1829, khi ông vừa hoàn thành Luận án
Tiến sĩ và bắt đầu giảng môn logic học và siêu hình học tại Erlangen. Triết học
Feuerbach là sản phẩm tất yếu của những điều kiện mới, hình thành vào cuối
Giáo viên hướng dẫn
TS. BÙI VĂN MƯA
1.2.2 Tôn giáo là gì?
Giáo viên hướng dẫn
TS. BÙI VĂN MƯA
Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
trong triết học của Ludwig Feuerbach
7 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luôn
phải đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế
giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình
và vô hình.
Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh
với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình do
đó phải dựa vào thánh thần mà còn hướng con người đến một hy vọng tuyệt đối,
một cuộc đời thánh thiện, mang tính “Hoàng kim nguyên thủy”, một cuộc đời mà
quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chung sống. Nó gieo niềm hi vọng vào con
người, dù có phần ảo tưởng để yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một
thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải.
Như vậy: Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang
tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách
hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm
tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh
địa lý – văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành
bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội
tôn giáo khác nhau.
1.2.3. Sơ lược các quan điểm về đạo đức và tôn giáo
1.2.3.1 Quan niệm về đạo đức
+ Arixtốt: đời sống đạo đức, hạnh phúc của con người không nằm trong
thế giới ý niệm trên trời mà nằm trong thế giới hiện thực dưới đất, nơi trần gian,
đồng thời chúng phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, nhu cầu của từng người
học và tôn giáo không thể kết hợp được với nhau. Vì lý tính khoa học mang lại
cho con người hiểu biết đúng đắn về thế giới còn tôn giáo chỉ mang lại cho người
những ảo tưởng.
+ Paul Henri Ditrich Holbach: Tôn giáo được bịa đặt để đặt các vua chúa
lên trên các dân tộc, và đặt các dân tộc nhận thấy cuộc sống vô cùng khổ cực của
mình trên trái đất này và tìm cách thay đổi nó thì người ta lấy Thượng đế để đe
dọa họ, hòng buộc họ khuất phục, chấp nhận.
(4) (Trang 46– Lịch sử Triết học – Trần Đăng Sinh (chủ biên), Vũ Thị Kim Dung,
Lê Duy Hoa, Nguyễn Thị Thường, Bùi Thị Tỉnh, Nguyễn Mai Hồng).
+ Vinhem Giodep Senlinh: ông coi giới tự nhiên là sản phẩm sáng tạo của
Thượng đế. Bằng trực giác nghệ thuật, con người chỉ có thể nhận biết một cách
mơ hồ về Thượng đế - cái tuyệt đối. Khi không tin tưởng vào trí tuệ lý trí mà
Giáo viên hướng dẫn
TS. BÙI VĂN MƯA
Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
trong triết học của Ludwig Feuerbach
9 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
cũng không hài lòng với trực giác ngoại (phi) lý, Senlinh đặt niềm tin vào ý chí.
Sự đề cao ý chí này của ông đã được Soopenhauơ phát triển.
+ Heeghen: Tôn giáo là phương thức mà ý niệm tuyệt đối sử dụng để tự
khám phá ra chính mình, để rũ bỏ mọi dấu vết vật chất bám vào mình nơi trần gian
mà quay về với mình, quay về với cái khởi đầu trong tính toàn vẹn và đầy đủ của
nó.
Giáo viên hướng dẫn
TS. BÙI VĂN MƯA
Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
trong triết học của Ludwig Feuerbach
10 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
trong triết học của Ludwig Feuerbach
11 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
một cách tự nguyện như tôi, và khi người đó giao dịch đầu cơ với tôi, thì cũng như
tôi, người đó đã theo đuổi lòng mong muốn hạnh phúc của mình. Nếu như anh ta
mất tiền thì chính do hành động của anh ta tỏ ra là vô đạo đức vì tính toán sai,và
bằng cách buộc anh ta phải chịu sự trừng phạt xứng đáng, tôi có thể tự hào rằng
mình là một Ra-đa-man-tơ hiện đại. Nói một cách khác, đạo đức học của
Feuerbach được gọt giũa cho thích hợp với xã hội tư bản chủ nghĩa hiện nay, dù
ông có những mong muốn như thế nào và những ý định như thế nào đi chăng nữa.
Theo Feuerbach tính cảm giác là động lực chủ yếu quyết định hành vi của
mỗi cá nhân và xã hội nói chung. Feuerbach phân biệt đạo đức của con người với
đạo đức tôn giáo, Feuerbach phủ nhận Thượng đế, đề cao tôn giáo “thuần khiết”
của tình yêu. Do vậy đạo đức học của Feuerbach có cơ sở từ nguyên lí nhân bản
và chủ nghĩa tự nhiên. Nếu cảm giác là tính chân lí, thì nó chi phối đạo đức, đó là
điều dễ hiểu. Các hình thức của tính cảm giác rất đa dạng: Tình yêu cuộc sống,
khát vọng, hạnh phúc, ích kỉ, quyền lợi, nhu cầu thoả mãn bản chất cảm tính của
con người, sự hài lòng.v.v….tất cả chúng đều hiện hữu, ngự trị trong con người,
biến con người thành một thực thể phức tạp.
2.1.2 Về tự do và tất yếu
Feuerbach nói, con người tự do trong tính tất yếu của mình. Con người
hành động vì thích thú, vì bị thúc giục từ một nỗi đam mê nào đó, nhưng khi hành
động con người thể hiện mình tự do. Tự do thực sự không nằm ngoài thời gian và
không gian, ngoài các sự vật được tri giác. Tự do tinh thần chỉ đến khi thể xác
được giải phóng. Feuerbach viết: “chỉ có tự do cảm tính mới là tự do tinh thần, chỉ
có khát vọng hạnh phúc mới gắn tự do với tính tất yếu”. Khái niệm tự do của
Feuerbach về cơ bản đồng nhất với khái niệm tự do của Spinoza. Con người theo
Spinoza, chỉ là phần quá nhỏ bé của thiên nhiên, vì vậy hoạt động vừa nó phải phù
hợp với “trật tự thiên nhiên phổ quát”. Trong quá trình hoạt động, con người tìm
người – cá nhân cũng mang bản tính cộng đồng, có bản chất nằm trong tình yêu.
Theo đó, mỗi con người là một cá thể sinh học đặc biệt có lý trí, có ý chí, có trái
tim … của riêng mình để nhận thức, để khác vọng đam mê, để rung động cảm xúc.
Hạnh phúc của mỗi cá nhân là hạnh phúc được kiếm tìm trong sự hòa họp với mọi
người, trong cộng đồng. Tình yêu giữa con người với nhau vừa là phương tiện vừa
là mục đích của sự hòa hợp xã hội, và hơn thế nữa, nó còn là động lực tiến bộ xã
hội, bởi vì nó là sự thể hiện rõ nhất bản chất người trong mỗi con người.
Giáo viên hướng dẫn
TS. BÙI VĂN MƯA
Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
trong triết học của Ludwig Feuerbach
13 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Đứng trên quan điểm nhận thức, ông cho rằng thực tiễn là hoạt động bản
năng mang tính thấp hèn, cần được loại ra khỏi nhận thức, trục xuất ra khỏi hệ
thống triết học mà không thấy được vai trò của thực tiễn đối với hoạt động nhận
thức và đối với đời sống xã hội.
Feuerbach chưa hề nghĩ đến nghiên cứu vai trò lịch sử của điều ác về mặt
đạo đức. Đối với ông, lịch sử nói chung là một lĩnh vực không được dễ chịu lắm
và đáng ngại, mặc dù ông đã từng phát biểu châm ngôn sau đây: “Khi con người
mới vừa sinh ra từ giới tự nhiên, chỉ là một sinh vật tự nhiên đơn thuần chứ không
phải là người. Con người là sản phẩm của con người, của văn hóa, và của lịch sử”,
Từ việc công nhận con người như là sản phẩm của văn hoá, của lịch sử, Feuerbach
đi đến quan điểm cho rằng, tính ích kỷ không chỉ mang tính cá nhân như các nhà
tư tưởng, các nhà đạo đức học trước ông (đặc biệt là những người theo
eudaimonism - chủ nghĩa duy hạnh) tuyên bố, mà nó còn mang tính xã hội.
Feuerbach viết: "Không chỉ có một tính ích kỷ đơn độc hay là tính ích kỷ cá
nhân mà còn có một tính ích kỷ xã hội, một tính ích kỷ của gia đình, của tập thể,
của cộng đồng, một tính ích kỷ yêu nước. Tất nhiên, tính ích kỷ là nguyên nhân
của mọi điều ác, nhưng cũng là nguyên nhân của mọi điều thiện, bởi vì không cái
và điều đó diễn ra trong một xã hội chia thành những giai cấp có những lợi ích đối
lập hẳn với nhau! Do đó, những vết tích cuối cùng của tính chất cách mạng trong
triết học của ông đều biến mất hết và chỉ còn lại cái điệp khúc cũ kỹ: Hãy yêu
nhau đi, hãy ôm nhau đi, không cần phân biệt nam nữ và đẳng cấp. - Thật là giấc
mơ thiên hạ thuận hòa!
Tóm lại, học thuyết của Feuerbach về đạo đức thì cũng giống như tất cả
những học thuyết trước đó. Nó được gọt giũa cho thích hợp với mọi thời kỳ, mọi
dân tộc, mọi hoàn cảnh.
2.2 Quan điểm tôn giáo
Triết học tôn giáo là phần chiếm vị trí chủ đạo trong hệ thống triết học của
nhà triết học duy vật cổ điển Đức - Ludvig Feuerbach (1804- 1872).
Trong cuộc đời hoạt động khoa học của mình, ông đã dành phần lớn thời gian
cho việc nghiên cứu và phê phán tôn giáo. "Tư tưởng đầu tiên của tôi - Feuerbach viết
- là Thượng Đế, thứ hai - lí tính, thứ ba và cuối cùng là con người". Điều đó cũng đã
được chứng thực bằng việc ra đời của các tác phẩm nổi tiếng của ông về đề tài tôn
giáo: Bàn về cái chết và sự bất tử của linh hồn (1830); Bản chất của Kitô giáo
Giáo viên hướng dẫn
TS. BÙI VĂN MƯA
Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
trong triết học của Ludwig Feuerbach
15 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
(1841); Bản chất của tôn giáo (1845); Tập bài giảng về bản chất của tôn giáo (gồm
30 bài, mà ông đã đọc từ tháng 10 năm 1848 đến tháng 3 năm 1849 theo yêu cầu của
sinh viên).
2.2.1 Nguồn gốc tôn giáo
Feuerbach cho rằng tôn giáo và niềm tin vào thượng đế đã chia cắt thế cùng
con người thành thế giới trần tục và thế giới con người thành thế giới trần tục và
thế giới thiên đường, tôn giáo làm tha hoá con người để dễ dàng thống trị nó. Tôn
giáo không chỉ làm tha hóa mà còn tước đi ở con người tính năng động, sáng tạo,
tôn giáo với: chính trị, đạo đức, khoa học, triết học duy tâm và nghệ thuật
2.2.2.1. Mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị
Nghiên cứu lịch sử tồn tại và phát triển của các quốc gia từ thời cổ đại đến
đương đại, Feuerbach cho rằng, chính quyền nhà nước luôn giữ mối quan hệ với
giáo hội, tôn giáo là chỗ dựa của chính trị và ngược lại.
(5)
2.2.2.2. Mối quan hệ giữa tôn giáo với đạo đức
Dựa trên những khảo cứu lịch sử hiện thực của nhân loại, Feuerbach thấy
rằng trong thực tế thường diễn ra sự thù địch giữa tôn giáo này với tôn giáo khác,
sự thù địch giữa người theo đạo và kẻ dị giáo. Hơn nữa có những người có chức
sắc tôn giáo cao trong giáo hội, song họ vẫn có những hành vi phi đạo đức. Từ đó
ông lên tiếng phản đối quan điểm của các nhà thần học cho rằng dường như phủ
định thương đế là một bước dẫn tới sự tiêu diệt quan hệ đạo đức. Theo Feuerbach,
để có một xã hội tất đẹp thì phải tiến hành cải cách tôn giáo: "Nếu như bản chất
con người là bản chất cao quý của con người, thì tình yêu hiện thực đối với con
người cần phải là quy luật đầu tiên cao quý của con người. Con người đối với con
người là thượng đế - đó chính là nền tảng thực tiễn cao nhất, là xuất phát điểm của
lịch sử toàn cầu. Quan hệ của đứa bé đối với cha mẹ mình, của chồng đối với vợ,
của anh đối với em, của bạn bè đối với nhau, nói chung là quan hệ của con người
đối với con người, nói tóm lại, các quan hệ đạo đức thuần túy chính là các quan hệ
tôn giáo.
2.2.2.3. Mối quan hệ giữa tôn giáo với khoa học
Feuerbach cho rằng khoa học không thể dung hòa với tôn giáo, giữa chúng
có sự khác biệt về nội dung, phương pháp và vai trò: Về nội dung, bằng những
bằng chứng khoa học đương thời, Feuerbach phủ nhận quan điểm của Kinh Thánh
Giáo viên hướng dẫn
TS. BÙI VĂN MƯA
Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
trong triết học của Ludwig Feuerbach
17 Tiểu luận triết học
TS. BÙI VĂN MƯA
Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
trong triết học của Ludwig Feuerbach
18 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
2.3 Thành tựu và hạn chế trong Triết học Feuerbach
a) Feuerbach là người có công trong việc phát triển CN duy vật.
Trước hết, ông thừa nhận thế giới quan tự nhiên ( bao gồm cả con người ) tồn tại
khách quan . Cơ sở tồn tại của giới tự nhiên nằm ngay trong lòng giới tự nhiên ,
chứ không phải giới tự nhiên là sự tồn tại khác của tinh thần . Ông cho rằng Ý
thức của con người là sản phẩm của bộ óc người , một dạng vật chất đặc biệt có
khả năng phản ánh thế giới vật chất , từ đó cho phếp khẳng định mối quan hệ
khắng khít giữa vật chất và ý thức . Feuerbach khẳng định : Không gian và thời
gian tồn tại khách quan , không có vật chất tồn tại bên ngoài không gian và thời
gian , ông thừa nhận sự tồn tại khách quan của các qui luật tự nhiên , thừa nhận sự
vận động và phát triển của giới tự nhiên diễn ra một cách khách quan , trong
những điều kiện nhất định dẫn tới sự xuất hiện của đời sống hữu cơ và xuất hiện
con người.
b) Feuerbach là người thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa trực quan
cảm tính và tư duy lý tính .
Feuerbach phê phán hệ thống duy tâm khách quan của Hêgel , ông khẳng định :
Đối tượng của nhận thức nói chung và của TH nói riêng là giới tự nhiên và con
người .Ông khẳng định con người có khả năng nhận thức được giới tự nhiên , khả
năng đó đối với mổi người là có hạn , nhưng đối với toàn bộ loài người là vô hạn .
Ông thừa nhận quá trình nhận thức gồm 2 giai đoạn là giai đoạn trực quan cảm
tính và giai đoạn tư duy trừu tượng và chính ông là người thấy được mối quan hệ
chặt chẽ giữa trực quan cảm tính và tư duy lý tính .
Hạn chế trong lý luận nhận thức của Feuerbach là chưa thấy được vai trò của
thực tiễn , cho nên chủ nghĩa duy vật của Feuerbach xét về toàn bộ chỉ là CN duy
vật siêu hình .
sống. Vì vậy con người mà ông nói luôn là con người trừu tượng con người đó
không ra đời từ trong bụng mẹ, mà lại sinh ra từ ông thần của các tôn giáo độc
thần con người đó cũng không sống trong thế giới hiện thực".
Những năm cuối đời, Ph.Ăngghen đã dành phần lớn thời gian cho việc nghiên cứu
triết học. Feuerbach, kết quả cụ thể của việc nghiên cứu đó là tác phẩm Ludvig
Feuerbach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức. Trong tác phẩm nổi danh
Giáo viên hướng dẫn
TS. BÙI VĂN MƯA
Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
trong triết học của Ludwig Feuerbach
20 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
này, người kế tục sự nghiệp của Mác phê phán quan điểm duy tâm về lịch sử của
Feuerbach: "Chủ nghĩa duy tâm thực sự của Feuerbach - Ăngghen viết là ở chỗ
ông xét các mối quan hệ giữa người và người dựa trên cảm tình đối với nhau, như
tình yêu nam nữ, tình bạn, lòng thương xót, tinh thần tự hy sinh Feuerbach cho
rằng, những quan hệ ấy chỉ có giá trị đầy đủ, khi người ta đem lại cho chúng một
sự tôn phong tối cao bằng cái tên là tôn giáo". Do dựa trên một quan niệm duy
tâm sai lầm như vậy, nên "học thuyết của Feuerbach về đạo đức thì cũng giống
như tất cả những học thuyết trước đó. Nó được gọt giũa cho thích hợp với mọi
thời kỳ, mọi dân tộc, mọi hoàn cảnh, và chính vì thế mà không bao giờ nó có thể
đem áp dụng được ở đâu cả. Và đối với thế giới hiện thực, nó cũng bất lực như
cái mệnh lệnh tuyệt đối của Kant vậy". Sự bất lực đó của nhà triết học trước thực
trạng xã hội Đức đương thời đã làm cho ông "không tìm thấy con đường thoát
khỏi vương quốc của sự trừu tượng, mà bản thân ông ghét cay ghét đắng để đi tới
hiện thực sinh động. Ông bám hết sức chặt lấy giới tự nhiên và con người, song
đối với ông, tất cả tự nhiên lẫn con người vẫn chỉ là những danh từ mà thôi. Ông
không biết nói với chúng ta một cái gì chính xác về tự nhiên hiện thực, cũng nhu
về con người hiện thực" (*)
d) Feuerbach là người phê phán mạnh mẽ tôn giáo
bước chân vào giảng đường tiếp tục thực hiện ước mơ của mình – làm một người
truyền lửa cho thế hệ trẻ tương lai.
Đối với tôi hiện nay, việc đến lớp đều đặn quả thật không dễ chút nào khi vừa phải
làm việc, vừa làm mẹ. Tuy nhiên, tôi vẫn cố gắng thu xếp để được đến lớp nghe
thầy giảng những triết lý hết sức thiết thực, giúp tinh thần tôi phấn chấn hơn nếu
có những ưu phiền trong công việc cũng như trong cuộc sống. “Tồn tại hay không
tồn tại? Với triết lý này, tôi xác định mục tiêu cuộc sống của mình rõ ràng hơn.
Tôi sẽ không đầu hàng trước mọi khó khăn và quyết tâm thực hiện ước mơ của
mình dù biết rằng con đường đến đích ước mơ còn lắm chông gai.
Giáo viên hướng dẫn
TS. BÙI VĂN MƯA
Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
trong triết học của Ludwig Feuerbach
22 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Cuối cùng, tôi chân thành cảm ơn thầy đã truyền đạt cho chúng tôi những triết lý
thiết thực, những kiến thức hết sức bổ ích, cảm ơn các bạn trong nhóm Triết Học 7
đã cùng và hổ trợ tôi hoàn thành bài tiểu luận này, cảm ơn ban cán sự lớp Đêm 1,
nhất là lớp trưởng, bạn rất nhiệt tình và chu đáo. Với thời gian và kiến thức có
hạn, bài tiểu luận của tôi chắn chắn còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự
chia sẻ và góp của Thầy và các bạn.
Giáo viên hướng dẫn
TS. BÙI VĂN MƯA
Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
trong triết học của Ludwig Feuerbach
23 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Tài liệu tham khảo
1. />2. />3. Lịch sử tư tưởng trước Mác, Trần Đức Thảo, NXB. Khoa học xã hội,
1995( Nguồn mở:Triethoc.edu.vn,