VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC VÀ TÔN GIÁO TRONG TRIẾT HỌC CỦA FEUERBACH - Pdf 24

Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU 1
B. PHẦN NỘI DUNG 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1.1 Khái quát triết học cổ điển Đức 3
1.2. Quan điểm chung về đạo đức và tôn giáo 6
Chương 2 9
QUAN ĐIỂM VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ TÔN GIÁO
TRONG TRIẾT HỌC CỦA LUDWIG FEUERBACH 9
2.1 Quan điểm của Ludwig Feuerbach về đạo đức 9
2.2 Quan điểm tôn giáo 13
2.3 Thành tựu và hạn chế trong Triết học Feuerbach 16
2.4 Ảnh hưởng của triết học Feuerbach đến đời sống văn hóa tinh thần của thời đại 20
Chương 3: KẾT LUẬN 22
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Triết học là là sản phẩm tinh thần của hiện thực và thời đại, là nền tảng hình
thành và phát triển của xã hội loài người. Triết học được xem như là gốc rễ của các
ngành khoa học. Triết học phát triển từ thấp đến cao, giống như một cây cổ thụ từ
lúc nảy mầm, phát triển đến khi trưởng thành.
Dưới tán cây cổ thụ triết học lịch sử có biết bao bông hoa nở rộ, mỗi một
bông hoa mang một gam màu làm tươi đẹp cuộc sống của chúng ta, giúp khai sáng
tri thức của nhân loại. Trong số những bông hoa ấy, Ludwig Feuerbach nổi lên như
đại biểu cuối cùng của triết học cổ điển Đức. Và ông đã mang đến vinh quang cho
toàn bộ nền triết học tư sản cổ điển. Feuerbach là nhà triết học duy vật duy nhất một
mình chống lại hệ thống triết học duy tâm của triết học tư bản cổ điển Đức. Triết
học của ông chất chứa đầy tính duy vật khả tri và nhân bản, nó là cội nguồn tư
tưởng của triết học Marx .
Đặc biệt trong quan điểm triết học của Feuerbach thì vấn đề về tôn giáo và
con người chiếm vị trí chủ đạo. Hơn nữa, vấn đề con người của ông thể hiện tính

Thứ nhất, về địa lý, nước Đức đứng ngoài những đường thương mại quốc tế
lớn, chủ yếu bấy giờ đang phát triển ở bờ biển Đại Tây Dương (Tư bản phát triển ở
Anh, Hà Lan, Pháp), ngoại thương không có điều kiện phát triển nên nền kinh tế
Đức lúc bấy giờ vẫn lạc hậu và kém phát triển.
Thứ hai, trong giai đoạn này nền kinh tế và chính trị của Đức lạc hậu và rơi
vào khủng hoảng. Các lực lượng tiến bộ ở Đức đã bị đàn áp và tiêu hủy phần lớn,
các giai cấp nông dân, tiểu tư sản và tư sản bị chế độ hoàng thân lần lượt đàn áp. Cả
đất nước bao trùm bầu không khí bất bình của đông đảo quần chúng. Chế độ phong
kiến thối nát vẫn được tích cực duy trì làm cản trở đất nước phát triển theo con
đường tư bản chủ nghĩa. Liên bang Đức chỉ tồn tại về hình thức, thực chất, đất
nước cũng phân chia thành nhiều tiểu vương quốc nhỏ tách biệt nhau.
(1)

Trong bối cảnh đó, Nước Đức cần phải có cách nhìn mới về hiện tượng tự
nhiên và tiến trình lịch sử nhân loại, cần có quan niệm mới về khả năng và hoạt
động của con người. Với nhu cầu đó, triết học cổ điển Đức ra đời. Với sứ mạng lịch
sử đó, Triết học cổ điển Đức thời kỳ này đạt được sự phát triển chưa từng có đồng
thời góp phần phát triển về tự nhiên, văn hoá nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu về
tư tưởng của nước Đức cũng như các nước phương tây.
HV: Trần Ngọc Thăng Trang 3 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
1.1.2 Các nhà triết học tiêu biểu
Đây là thời kỳ vàng son của Triết học cổ điển Đức, vì nó được xem như đã
hoàn thành sứ mạng lịch sử với nhiều đại diện triết học tiêu biểu như:
1.1.2.1. Immanuel Kant
Immanuel Kant (22/4/1724 - 12/2/1804) được xem là triết gia quan trọng
của nước Đức, vì tư tưởng triết học của ông thể hiện nền văn hóa tân tiến và của
nhiều lĩnh vực khoa học nhân văn khác. Sự nghiệp triết học của ông được biết đến

nghĩa duy tâm Đức, một phong trào đã phát triển từ các tác phẩm lý luận và đạo đức
của Immanuel Kant. Fichte thường bị coi như là một con số mà triết lý hình thành
một cầu nối giữa các ý tưởng của Kant và chủ nghĩa duy tâm của Hegel. Fichte
cũng đã viết triết học chính trị và được xem là một trong những cha đẻ của chủ
nghĩa dân tộc Đức.
1.1.2.4. Ludwig von Andreas Feuerbach
Ludwig von Andreas Feuerbach (28/7/1804 - 13/9/1872) là một nhà triết
học Đức và nhà nhân chủng học. Ông là con trai thứ tư của luật gia nổi tiếng Paul
Ritter von Johann Anselm Feuerbach, anh trai của nhà toán học Karl Wilhelm
Feuerbach, và chú của họa sĩ Anselm Feuerbach.
Ông là đại diện cuối cùng, là sự kết thúc vẻ vang của Triết học cổ điển Đức.
Ông là nhà cải cách triệt để, nhà duy vật và vô thần. Feuerbach bắt đầu sự nghiệp
của mình với tư cách là một nhà duy tâm, là môn đệ và là học trò của Hegel. Ông
thuộc nhóm Hegel trẻ. Tư tưởng cải cách triết học của ông nhen nhóm từ 1828 và
được hình thành từ năm 1829, khi ông vừa hoàn thành Luận án Tiến sĩ và bắt đầu
giảng môn logic học và siêu hình học tại Erlangen. Triết học Feuerbach là sản phẩm
tất yếu của những điều kiện mới, hình thành vào cuối những năm 30 - đầu những
năm 40. Đó là thời kỳ nhen nhóm tình thế cách mạng ở nhiều nơi trên nước Đức,
thời kỳ gia tăng các cuộc đấu tranh tư tưởng giữa giai cấp tư sản và phản động.
Feuerbach là nhà tư tưởng tự do và là nhà triết học duy vật duy nhất một
mình chống lại chủ nghĩa duy tâm bài viết “Góp phần phê phán triết học Hegel
”(1839) trong hệ thống triết học Đức, tuy nhiên Ông chỉ là nhà triết học duy vật
trong lĩnh vực tự nhiên nhưng trong lĩnh vực xã hội ông vẫn bị ảnh hưởng của chủ
nghĩa duy tâm. Đồng thời, các tư tưởng triết học của ông mang đậm tính nhân bản
HV: Trần Ngọc Thăng Trang 5 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
nên mặc dù công có rất nhiều tác phẩm nhưng nó không phục vụ cho giai cấp thống
trị và tư sản nên các tác phẩm: “Tư tưởng về cái chết và sự bất tử”(1830); “Lịch sử

TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin
đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý
– văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng
những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn
giáo khác nhau.
1.2.3. Sơ lược các quan điểm về đạo đức và tôn giáo
1.2.3.1 Quan niệm về đạo đức
+ Nho gia: Những phạm trù đạo đức thể hiện các nguyên tắc cơ bản của đạo
đức Nho gia – đạo đức hướng đến xây dựng mẫu người quân tử, và muốn trở thành
người quân tử cần phải tu thân.
(3)
+ Đạo gia: Đạo đức thực hiện theo quan điểm vô vi, ông khuyên con người
trong cuộc sống phải thực hiện sáu điều: a) Tri túc (biết đủ thì dừng lại), b) Không
cạnh tranh, không bạo động, lấy thiện thắng ác, lấy nhu thắng cương, c) công thành
thân thoái, d) Sống vô tư, hồn nhiên, đ) Lấy đức báo oán, e) Tu luyện thần hóa, hạn
chế dục tính.
(4)

+ Aristote: Đời sống đạo đức, hạnh phúc của con người không nằm trong
thế giới ý niệm trên trời mà nằm trong thế giới hiện thực dưới đất, nơi trần gian,
đồng thời chúng phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, nhu cầu của từng người trong
cộng đồng xã hội.
(5)

+ Immanuel Kant: Kant cho rằng một mặt con người là một nhân cách đạo
đức, trong đó lý tính là nguồn gốc duy nhất phát sinh các nguyên lý, chuẩn mực
hướng dẫn hành vi đạo đức, mặt khác khát vọng cá nhân hướng con người đến hành
vi phi đạo đức. Đạo đức của ông thể hiện lý tưởng cao đẹp nhất mà cả nhân loại
hướng đến - lý tưởng tự do.

quay về với mình, quay về với cái khởi đầu trong tính toàn vẹn và đầy đủ của nó.
HV: Trần Ngọc Thăng Trang 8 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
Chương 2
QUAN ĐIỂM VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ TÔN GIÁO
TRONG TRIẾT HỌC CỦA LUDWIG FEUERBACH
Xuất phát từ quan điểm coi triết học mới phải là triết học về con người,
Feuerbach lấy con người làm đối tượng nghiên cứu của mình. Trên cơ sở đó, ông
xây dựng hệ thống quan điểm về đạo đức và tôn giáo của mình.
2.1 Quan điểm của Ludwig Feuerbach về đạo đức
Trong triết học của ông Quan điểm đạo đức đề cập rải rác trong một số tác
phẩm nên nếu cố gắng đào sâu phân tích chúng ta có thể tìm thấy nhiều nét đặc
trưng.
2.1.1 Lý luận về đạo đức.
Đạo đức học của Feuerbach giả định rằng những phương tiện và những vật
để thoả mãn yêu cầu đó thì hiển nhiên mọi người đều có, hoặc là nó chỉ mang lại
cho con người nhiều lời dạy bảo tốt nhưng không áp dụng được; và như vậy thì đạo
đức học đó không đáng giá một xu đối với những người thiếu những phương tiện
nói trên. Và đó là điều mà chính Feuerbach cũng đã giải thích bằng lời lẽ thẳng
thắn: “Trong một cung điện người ta suy nghĩ khác trong một túp lều tranh. Nếu
như vì đói, vì nghèo, mà trong cơ thể anh không có chất dinh dưỡng, thì trong đầu
óc anh, trong tình cảm của anh và trong trái tim anh cũng không có chất nuôi đạo
đức”.
Theo học thuyết của Feuerbach về đạo đức thì sở giao dịch chứng khoán là
ngôi đền cao nhất của đạo đức, nếu như ở đó người ta luôn luôn đầu cơ một cách có
trí tuệ. Nếu như lòng mong muốn hạnh phúc của tôi dẫn tôi đến sở giao dịch và nếu
như ở đó, tôi biết cân nhắc thật đúng đắn những hậu quả của hành động của tôi sao
cho những hành động đó chỉ đem lại cho tôi những điều lợi, chứ không đem lại một

thiên nhiên phổ quát”. Trong quá trình hoạt động,con người tìm thấy mình, khẳng
định mình bằng xúc cảm và tư duy, bằng khả năng tự bảo vệ.
Đối với Feuerbach tự do là sự thống nhất con người với hoàn cảnh, nơi bản
chất của nó bộc lộ ra chủ nghĩa chim tự do trong không khí, con cá tự do trong biển
cả, con người tự do ở nơi nào và khi nào mà hoàn cảnh sống của nó cho phép nó
thoả mãn khát vọng hạnh phúc. Quan điểm trừu trượng, tự nhiên chủ nghĩa
HV: Trần Ngọc Thăng Trang 10 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
Feuerbach về tự do tương xứng với đòi hỏi của các nhà khai sáng tư sản đặt hoàn
cảnh sống của con người phù hợp với bản chất của con người, làm cho hoàn cảnh
ấy mang tính người.
2.1.3 Vấn đề khát vọng hạnh phúc
Mỗi cá nhân đều có quyền sống hạnh phúc và hướng tới hạnh phúc. Khái
niệm hạnh phúc được hiểu khá rộng, nhưng ý nghĩa, tính chất của nó chỉ có một -
tính cá thể. “mỗi nước, mỗi dân tộc và mỗi con người có hạnh phúc riêng của
mình…”. Cái gì là hạnh phúc của anh, không phải là hạnh phúc của tôi, cái gì làm
anh khiếp sợ, thì làm cho tôi thích thú…tuy nhiên ở một chổ khác.
Feuerbach nhấn mạnh con người xã hội. Chỉ có con người xã hội mới là con
người. Con người không tồn tại và phát triển trong đơn độc. Sự liên hợp tự nhiên
của con người trở nên tính tất yếu. Sự giao thiệp và hòa đồng làm cho hạnh phúc
của con người không còn là cái gì khó đạt được. Bên ngoài tôi và bên ngoài anh
không có hạnh phúc, vì vậy không có đạo đức.
Bao trùm lên toàn bộ đạo đức học của Feuerbach là nguyên lý tình yêu phổ
quát. Tình yêu là công cụ sáng tạo, cơ sở xây dựng quan hệ giữa người với người,
đối với hận thù là công cụ phá hoại, tiêu diệt xung đột.
Về hình thức, Feuerbach là một người hiện thực chủ nghĩa, ông lấy con
người làm xuất phát điểm. Ông cho rằng con người mang bản tính cá nhân, và con
người – cá nhân cũng mang bản tính cộng đồng, có bản chất nằm trong tình yêu.

Theo Feuerbach, lòng mong muốn hạnh phúc là bẩm sinh ở con người, do
đó, nó phải là cơ sở của mọi đạo đức. Song, lòng mong muốn hạnh phúc phải chịu
hai sự uốn nắn. Thứ nhất, của những hậu quả tự nhiên của hành vi của chúng ta: sau
trác táng thì đến chán chường, sau thói quen chơi bời quá độ thì đến bệnh tật. Thứ
hai, của những hậu quả xã hội của những hành vi đó: nếu như chúng ta không tôn
trọng lòng mong muốn hạnh phúc đó của những người khác thì những người đó sẽ
phản kháng lại và phá hoại lòng mong muốn hạnh phúc của chúng ta. Do đó, nếu
như chúng ta muốn thỏa mãn lòng mong muốn hạnh phúc của chúng ta, chúng ta
phải biết đánh giá đúng những hậu quả của hành vi của chúng ta, và ngoài ra, chúng
ta phải tôn trọng những người khác cũng có quyền bình đẳng với chúng ta trong
việc mong muốn hạnh phúc. Do đó, sự tự hạn chế một cách hợp lý bản thân, và tình
HV: Trần Ngọc Thăng Trang 12 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
yêu - lại tình yêu! - trong quan hệ với những người khác, là những quy tắc cơ bản
của đạo đức của Feuerbach, mà từ đó rút ra những quy tắc khác.
Nếu như con người chỉ chăm lo đến bản thân mình thì lòng mong muốn
hạnh phúc của họ chỉ được thỏa mãn trong những trường hợp rất hãn hữu và hoàn
toàn không có lợi cho họ hay cho người khác. Con người cần phải giao lưu với thế
giới bên ngoài, phải có những phương tiện để thỏa mãn yêu cầu của mình: nghĩa là
cần phải có thức ăn, một người thuộc giới tính khác mình, sách vở, giải trí, tranh
luận, hoạt động, vật dụng và đối tượng lao động.
Tình yêu! Vâng, đối với Feuerbach thì tình yêu, ở đâu và bao giờ, cũng là
một ông thần lắm phép lạ có thể giúp vượt mọi khó khăn của đời sống thực tiễn, và
điều đó diễn ra trong một xã hội chia thành những giai cấp có những lợi ích đối lập
hẳn với nhau! Do đó, những vết tích cuối cùng của tính chất cách mạng trong triết
học của ông đều biến mất hết và chỉ còn lại cái điệp khúc cũ kỹ: Hãy yêu nhau đi,
hãy ôm nhau đi, không cần phân biệt nam nữ và đẳng cấp. - Thật là giấc mơ thiên
hạ thuận hòa!

Feuerbach viết- mà là thực thể tâm lý". Chính sự xúc cảm mạnh, sự chiêm nghiệm
hay trạng thái đau khổ của con người là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo. Nhưng sự
chiêm nghiệm hay trạng thái đau khổ, trạng thái xúc cảm không phải là hiện tượng
có tính chủ quan như chủ nghĩa duy tâm chủ quan quan niệm, mà chúng có tính
khách quan, nghĩa là gắn liền với các hiện tượng tự nhiên và đời sống xã hội.
Feuerbach viết "tôn giáo là giấc mơ của tinh thần con người nhưng trong giấc mơ
đó chúng ta không phải ở trên bầu trời mà ở trên mặt đất trong vương quốc của hiện
thực, chúng ta nhìn thấy các đối tượng của hiện thực không phải trong thế giới thực
tế của tính tất yếu mà là trong thế giới say mê của trí tưởng tượng và sự kỳ quặc.
Nhiệm vụ của tôi là bóc trần bản chất đích thực của tôn giáo và triết học tư biện hay
thần học, chuyển thế giới nội tâm ra thế giới bên ngoài, nghĩa là biến đối tượng
tưởng tượng thành đối tượng hiện thực".
Feuerbach viết " tôn giáo là sự phản ánh thời thơ ấu của nhân loại hay trong
tôn giáo con người là đứa trẻ. Đứa trẻ không thể thực hiện ý muốn của mình bằng
sức mạnh của nó, phải nhờ đến một tồn tại mà nó cảm thấy lệ thuộc tôn giáo có
nguồn gốc xuất hiện, có chỗ đứng chân chính, có ý nghĩa trong thời thơ ấu của nhân
loại".
(10)
2.2.2 Bản chất tôn giáo:
Feuerbach nghiên cứu bản chất của tôn giáo dựa trên các mối quan hệ giữa tôn
giáo với: chính trị, đạo đức, khoa học, triết học duy tâm và nghệ thuật
HV: Trần Ngọc Thăng Trang 14 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
2.2.2.1. Mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị
Nghiên cứu lịch sử tồn tại và phát triển của các quốc gia từ thời cổ đại đến
đương đại, Feuerbach cho rằng, chính quyền nhà nước luôn giữ mối quan hệ với
giáo hội, tôn giáo là chỗ dựa của chính trị và ngược lại.
(11)

tâm, còn chủ nghĩa duy tâm chính là hình thức phái sinh của tôn giáo.
(13)
Ông viết:
“Bản chất của triết học tư biện hàm chứa trong bản chất duy lí hiện thực của thần
thánh. Triết học tư biện chính là thần học duy lý chính hiệu”
2.2.2.5. Mối quan hệ giữa tôn giáo với nghệ thuật
Theo Feuerbach, trong tôn giáo và nghệ thuật thì trí tưởng tưởng có vai trò
chủ đạo, chúng điều cần những phương tiện biểu đạt như hình ảnh, biểu tượng, biểu
trưng. Nghệ thuật và tôn giáo tác động một cách trực tiếp tới tình cảm con người,
gây nên trong họ những cảm xúc mạnh.
Như vậy, có thể nói một cách ngắn gọn rằng, Feuerbach đã truy tìm bản chất
của tôn giáo trong bản chất của con người, ông viết. "Bản chất thần thánh không là
cái gì khác như là bản chất con người, bản chất đó đã được gột rửa, được giải phóng
khỏi những giới hạn cá nhân, nghĩa là khỏi những con người vật lý hiện thực, được
khách quan hoá, được nhìn nhận như một bản chất độc lập xa lạ. Bởi vậy, mọi sự
xác đinh về bản chất thần thánh đều có liên quan đến việc xác định bản chất con
người.
(14)
2.3 Thành tựu và hạn chế trong Triết học Feuerbach
Feuerbach giữ một vị trí đặc biệt trong thời kỳ hậu Hegel. Triết học
Feuerbach một mặt là sự kế tục trường phái Hegel, mặt khác nó đánh dấu một sự đi
“chệch hướng” khỏi dòng chảy chung của triết học Đức mà chúng ta vẫn thường gọi
là chủ nghĩa duy tâm cổ điển Đức.
(15)
Chính vì lẽ đó nên chỉ có việc làm sáng tỏ
mối liên hệ của triết học Feuerbach với trường phái Hegel, những lý luận của Karl
Max thì chúng ta mới thấy được những điểm mới mẻ, những thành tựu, những hạn
chế.
2.3.1 Thành tựu.
Là một trong những nhà triết học duy vật lớn nhất thời kỳ trước Karl Marx

theo Feuerbach, chỉ thể hiện mình ở nơi có sự vận động, ưu tư, hưng phấn, lòng nhiệt
thành và xúc cảm. Nơi đó là tồn tại chân chính, con người, với “các tố chất người",
hợp nên “bản chất cộng đồng" mà thiếu nó, đời sống của mỗi cá nhân sẽ trở nên vô
nghĩa.
HV: Trần Ngọc Thăng Trang 17 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
Hegel đã thêu dệt nên cả một huyền thoại về lý trí, duy lý hoá niềm tin vào
Thượng đế thậm chí xem lịch sử tôn giáo là lịch sử vận động của ý thức phản tỉnh.
Ngược lại, Feuerbach đưa bản chất tôn giáo về bản chất con người, loại Thượng đế ra
khỏi đối tượng nghiên cứu của triết học, đưa hình ảnh đó về đúng vị trí của nó - thần
học. Karl Marx nhận ra sự "nổi loạn" này ngay trong thời kỳ đang còn chịu ảnh
hưởng của triết học Hegel. Sự nhận thức lại cung đồng thời là sự cải cách, là "suối
lửa”, mở ra con đường cho triết học thực tiễn đúng nghĩa, triết học cải tạo thế giới,
gắn với tên tuổi của Karl Marx và Engels.
Công lao to lớn của Feuerbach còn ở chỗ, ông không chỉ đấu tranh chống chủ
nghĩa duy tâm mà còn đấu tranh chống lại những người duy vật tầm thường. Ông đã
có quan niệm đúng đắn là, không thể quy các hiện tượng tâm lý về các quá trình lý
– hoá; công nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới. Ông đã kịch liệt
phê phán những người theo chủ nghĩa hoài nghi và thuyết không thể biết. Trong sự
phát triển lý luận nhận thức duy vật, Feuerbach đã biết dựa vào thực tiễn là tổng
hợp những yêu cầu về tinh thần, về sinh lý mà chưa nhận thức được nội dung cơ
bản của thực tiễn là hoạt động vật chất của con người, là lao động sản xuất vật chất,
đấu tranh giai cấp và hoạt động thực tiễn của nó là cơ sở của nhận thức cảm tính và
lý tính.
Triết học cổ điển Đức, đặc biệt là Feuerbach, nguồn gốc lý luận trực tiếp của
triết học Marx. Trong khi phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen, Karl Marx đã
dựa vào truyền thống của chủ nghĩa duy vật triết học mà trực tiếp là chủ nghĩa duy
vật triết học của Feuerbach; đồng thời đã cải tạo chủ nghĩa duy vật cũ, khắc phục

trong một xã hội còn đầy áp bức bất công, đầy khổ đau và bất hạnh, còn tồn tại sự
áp bức, sự khao khát quyền lực thì việc loại bỏ tôn giáo là điều không tưởng. Và
giấc mơ thiên hạ thuận hoà cũng không thể nào thực hiện được.
Feuerbach cho rằng cần phải biến tình yêu thương của con người thành quan
hệ chi phối mọi quan hệ xã hội khác, thành lý tưởng xã hội. Con người trong quan
niệm của Feuerbach là con người trừu tượng, phi xã hội, mang những đặc tính sinh
học bẩm sinh. Triết học nhân bản của ông chứa đựng những yếu tố của chủ nghĩa
duy tâm. Ông nói rằng, bản tính con người là tình yêu, tôn giáo cũng là một tình
HV: Trần Ngọc Thăng Trang 19 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
yêu. Do vậy, thay thế cho một tôn giáo sùng một vị Thượng đế siêu nhiên cần xây
dựng một tôn giáo mới phù hợp với tình yêu của con người. Trong điều kiện của xã
hội tư sản Đức thời đó, với sự phân chia giai cấp, đầy rẫy sự đàn áp, bốc lột thì chủ
nghĩa nhân đạo về tình yêu thương con người trở thành chủ nghĩa nhân đạo trừu
tượng, duy tâm.
Trong thuyết nhân bản - đạo đức, Feuerbach nhấn mạnh giá trị con người, "tố
chất người" nói chung, song chưa nêu ra được những tính quy định xã hội thực sự
làm nên bản chất con người. Ông đề cao tình yêu phổ quát, cổ suý cho huyền thoại
về tình yêu, và cung chỉ dừng lại ở huyền thoại, ở Feuerbach, chủ nghĩa duy tâm xã
hội đan xen với chủ nghĩa không tưởng chính trị về một Nhà nước "của tất cả và
dành cho tất cả", thể hiện sự trọn vẹn, hiện thực, phát triển, trực tiếp của bản chất
con người. Ông phê phán một ảo tưởng để hướng đến thứ ảo tưởng khác - "tôn giáo
của Tình yêu’ phi lịch sử. Như thế, sự tiến bộ xã hội được nhà tư tưởng nhân bản
xem xét qua lăng kính của sự thay thế các hình thức sinh hoạt tinh thần, chứ không
phải hoạt động thực tiễn - vật chất của con người.
Đạo đức học của Feuerbach, theo Engels, tỏ ra nghèo nàn hơn Hegel do tính
dung tục hoá, tính đơn giản và tính ảo tưởng của nó. Feuerbach lấy con người làm
điểm xuất phát, nhưng đó không phải là con người sống trong một thế giới hiện

nguyên mới, mở ra nhiều khả năng để tìm ra những con đường tối ưu đi tới tương
lai.
HV: Trần Ngọc Thăng Trang 21 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
Chương 3: KẾT LUẬN
Trong đời sống xã hội, mối quan hệ giữa con người với con người là một vấn
đề rất quan trọng. Đạo đức và tôn giáo là hai khái niệm khác nhau, tuy nhiên chúng
lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, đó là giải quyết mối quan hệ giữa con người
với con người. Qua tìm hiểu triết học Feuerbach về vấn đề đạo đức và tôn giáo, có
thể rút ra một số điểm kết lõi như sau:
Về mặt tôn giáo, Feuerbach phân tích nguồn gốc tôn giáo từ phương diện xã
hội, đây là một bước tiến vượt bậc so với các nhà duy vật Pháp thể kỷ XVIII. Triết
học tôn giáo của Feuerbach đã giúp Marx thoát ra khỏi chủ nghĩa duy tâm huyền bí
của Hegel để đến với chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa vô thần. Triết học tôn giáo
của ông cũng có những hạn chế nhất định đó là sự biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm
và chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng. Ban đầu Feuerbach phê phán mạnh mẽ tôn giáo
nhưng càng phê phán ông càng nhận thức được rằng con người sẽ không thể sống
nếu không có tôn giáo và sau đó ông lại đi xây dựng một tôn giáo mới-"tôn giáo
của tình yêu", trong đó con người yêu con người là trung tâm.
Về mặt đạo đức, con người; Feuerbach đề cao tinh thần nhân bản, coi bản
chất con người là tình yêu, đề cao tình yêu thương giữa con người và con người.
Tuy nhiên quan niệm về con người của ông rất trừu tượng, không mang tính giai
cấp, tính dân tộc, tính lịch sử, đó là sự mơ hồ, không phù hợp.
Về mặt đóng góp cho kho tàng triết học nhân loại; triết học Feuerbach, là
nguồn gốc lý luận trực tiếp của triết học Marx. Cùng với phép biện chứng của
Hegel, chủ nghĩa duy vật của Feuerbach, Marx đã xây dựng nên phép biện chứng
duy vật.
HV: Trần Ngọc Thăng Trang 22 Tiểu luận triết học

Bùi Văn Mưa, TS. Trần Nguyên Ký, PGS TS. Lê Thanh Sinh, TS.
Nguyễn Ngọc Thu, TS. Bùi Bá Linh, TS. Bùi Xuân Thanh, Trường Đại
học Kinh tế, 2010.
6
Trang 215– Triết học phần 1 Đại Cương về lịch sử Triết học, TS. Bùi Văn
Mưa, TS. Trần Nguyên Ký, PGS TS. Lê Thanh Sinh, TS. Nguyễn Ngọc
Thu, TS. Bùi Bá Linh, TS. Bùi Xuân Thanh, Trường Đại học Kinh tế,
2010.
7,8,9,10,11,12,13,14
Triết học tôn giáo của Ludvig Feuerbach – Lê Công Sự - tạp chí
Nghiên cứu Tôn giáo (Số 1,2 – 2006)
15
Trang 668, Đại cương lịch sử triết học phương tây, TS. Đỗ Minh Hợp, TS.
Nguyễn Thanh, TS. Nguyễn Anh Tuấn, NXB Tổng hợp TP.HCM 2006)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đại cương lịch sử triết học phương tây, TS. Đỗ Minh Hợp, TS. Nguyễn
Thanh, TS. Nguyễn Anh Tuấn, NXB Tổng hợp TP.HCM 2006
HV: Trần Ngọc Thăng Trang 24 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
2. Triết học phần 1 Đại Cương về lịch sử Triết học, TS. Bùi Văn Mưa, TS. Trần
Nguyên Ký, PGS TS. Lê Thanh Sinh, TS. Nguyễn Ngọc Thu, TS. Bùi Bá
Linh, TS. Bùi Xuân Thanh, Trường Đại học Kinh tế, 2010.
3. Triết học phần 2, Các chuyên đề về triết học Mác-Lê Nin, TS. Bùi Văn
Mưa, TS. Trần Nguyên Ký, PGS TS. Lê Thanh Sinh, TS. Nguyễn Ngọc Thu,
TS. Bùi Bá Linh, TS. Bùi Xuân Thanh, Trường Đại học Kinh tế, 2010.
4. Lịch Sử Triết học Phương Tây, Nguyễn Tiến Dũng, NXB TP.HCM, 2006
5. Các trang web:
• www.tailieu.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status