BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGUYỄN THÀNH HẬU
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG PHẦN MỀM GIẢNG DẠY
CHO MÔN THIẾT KẾ TRANG PHỤC THEO QUAN ĐIỂM
DẠY HỌC TÍCH CỰC VỚI SỰ HỖ TRỢ
CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 601401
S K C0 0 0 4 0 0
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 08/2004
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG PHẦN MỀM
GIẢNG DẠY CHO MÔN THIẾT KẾ
TRANG PHỤC THEO QUAN ĐIỂM DẠY
HỌC TÍCH CỰC VỚI SỰ HỖ TR CỦA
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Chuyên ngành: GIÁO DỤC HỌC
SUMMARY
The application of recent achievements of Information Technology into
teaching and learning methodology has become unavoidable trend to improve
teaching and learning quality. The combination of teaching software with modern
facilities has created an interactive learning environment which develops students’
motivation, initiativeness and creativity and at the same time, ensures training
quality and effectiveness.
The thesis is presented in 4 following chapters:
Chapter 1: Introduction.
The researcher presents the general background of Information Technology
application in the teaching and learning process, urgent reasons for carrying out the
research. Beside objectives, target and research methodology, the author also
raises practical research duties and new points of this thesis.
Chapter 2: Theoretical basis in the application of Information Technology
into design an educational software.
The thesis discovers the influence of psychological aspects in Information
Technology application to teaching methodology, teaching viewpoints of learnercentered approach; presents backup abilities for Information Technology
methodology. The author also presents theoretical bases regarding design,
scenarios, interface and criteria for an educational software evaluation.
Chapter 3: Design an teaching software for the subject “Fashion Design”.
Basing on above-mentioned theoretical aspects, the researcher points out
main factors influencing the renovation of teaching - learning approach with the
application of Information Technology in teaching methodology, then, builds up the
teaching software for the subject “Fashion Design”, and carries out the
experimental research for collecting statistical figures and evaluation of the score
discrepancies between an experimental class and a control one.
Chapter 4: Conclusion - Suggestion.
The research shows that the application of new teaching methodology with
the support with IT has brought positive results in the teaching process of
Mục lục.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Chương dẫn nhập
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Lý do chọn đề tài. ......................................................................................02
Mục tiêu nghiên cứu. .................................................................................03
Đối tượng nghiên cứu. ...............................................................................04
Khách thể nghiên cứu. ...............................................................................04
Giới hạn phạm vi nghiên cứu. ...................................................................04
Nhiệm vụ nghiên cứu. ...............................................................................05
Phương pháp nghiên cứu. ...........................................................................05
Những điểm mới của luận văn và dự kiến kết quả đạt được. ...................06
Cấu trúc luận văn.......................................................................................07
Chương 2: Cơ sở lí luận trong việc ứng dụng công nghệ thông tin
để xây dựng các phần mềm giảng dạy
1. Các học thuyết tâm lý học trong việc ứng dụng công nghệ thông tin
trong giảng dạy. .........................................................................................09
1.1. Sự ảnh hưởng của các học thuyết. .....................................................09
1.2. Sự chuyển đổi mô hình dạy học của các học thuyết khác nhau. .......10
2. Giới thiệu môn học Thiết kế trang phục. ..................................................52
2.1. Tầm quan trọng, mục tiêu yêu cầu và nội dung chương trình
môn học Thiết kế trang phục. ............................................................52
2.2. Tình hình giảng dạy môn học.............................................................59
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình học khi ứng dụng công nghệ
thông tin vào giảng dạy môn học Thiết kế trang phục ..............................60
3.1. Mục tiêu. ............................................................................................60
3.2. Nội dung. ............................................................................................63
3.3. Phương pháp. ......................................................................................63
3.4. Các yếu tố về con người. ...................................................................64
4. Nghiên cứu xây dựng phần mềm giảng dạy cho môn học
Thiết kế trang phục. ...................................................................................67
4.1. Tiến trình xây dựng phần mềm giảng dạy. ........................................67
4.2. Nội dung phần mềm giảng dạy môn học Thiết kế trang phục. .........68
5. Thực nghiệm sư phạm và đánh giá hiệu quả. ...........................................76
5.1. Mục đích thực nghiệm. .......................................................................76
5.2.
5.3.
5.4.
5.5.
5.6.
Nội dung thực nghiệm. .......................................................................76
Đối tượng thực nghiệm. ......................................................................77
Tổ chức quá trình thực nghiệm. .........................................................77
Thống kê kết quả thực nghiệm ở giáo viên .......................................78
Phân tích kết quả thực nghiệm ở người học. ......................................79
bùng nổ và phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin như hiện nay, việc ứng
dụng rộng rãi truyền thông đa phương tiện vào quá trình dạy và học đã trở thành
xu hướng của nhiều trường học, cung cấp nhiều tiện nghi giúp con người thay đổi
cách học, cách dạy để có thể tự chiếm lónh tri thức. Để nâng cao được chất lượng
dạy và học, nhất thiết phải có những đổi mới về phương pháp dạy học, phù hợp
với sự phát triển của phương tiện dạy học hiện đại. Đó là việc đưa công nghệ,
phương tiện kỹ thuật cao vào quá trình giảng dạy để dần thay thế cho những
phương pháp truyền thống với phấn trắng và bảng đen; những qui trình kỹ thuật
trong dạy học nhằm khơi dậy tối đa tiềm năng của người học theo hướng đầu tư
công nghệ điều khiển và tổ chức nhận thức.
Ngày 17 tháng 10 năm 2000, Bộ chính trò đã ban hành chỉ thò 58/TW-BCT
về việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Chỉ thò đònh hướng rõ:
“Công nghệ thông tin là một trong những động lực quan trọng nhất của sự
phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc
đời sống kinh tế, văn hóa xã hội của thế giới hiện đại. Mục tiêu của công nghệ
thông tin Việt Nam đến năm 2010 là đạt trình độ tiên tiến của khu vực. Để đạt
mục tiêu đó, thì ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin là một nhiệm vụ ưu
tiên chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón
đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước”.
Trong chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo đến năm 2010 của Bộ giáo
dục đào tạo cũng nhấn mạnh:
“Từng bước phát triển giáo dục dựa trên công nghệ thông tin: …công nghệ
thông tin và đa phương tiện sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong quản lý hệ thống
giáo dục, trong chuyển tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc
cách mạng về phương pháp dạy và học. Ngày nay, cơ hội đổi mớ i kiến thức và
trau dồi kó năng đã được mở rộng, vì vậy, ngay cả với những phương pháp tốt
nhất, người học cũng gặp khó khăn trước sự thay đổi nhanh chóng của khoa học,
công nghệ và sự lỗi thời của tri thức. Tăng cường sử dụng máy tính trong dạy
Nguyễn Thành Hậu
phẩm may mặc nói chung. Vì vậy, với thực trạng giảng dạy như trên, thì hiệu
quả truyền đạt thông tin bài giảng chưa cao, mất nhiều thời gian ghi chép, đặc
biệt với những hình vẽ phức tạp, lớp học kém sinh động vì ít có minh họa, thiếu
cụ thể… khiến cho người học trở nên thụ động, thiếu khả năng vận dụng kiến
thức trong những tình huống mới một cách linh họat. Như vậy, phải chăng đã
đến lúc cần quan tâm đến việc sử dụng các phần mềm giảng dạy để minh họa,
mô phỏng bài học cho sinh viên, đồng thời khuyến khích giáo viên biên soạn
giáo trình điện tử nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác giảng dạy.
Xuất phát trước thực tiễn đó, tác giả đã mạnh dạn chọn hướng đi: “Nghiên
cứu xây dựng phần mềm giảng dạy cho môn Thiết kế trang phục theo quan điểm
dạy học tích cực với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin”
2.
Mục tiêu nghiên cứu:
Ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng phần mềm giảng dạy phục vụ
Nguyễn Thành Hậu
3
Luận Văn Thạc Só
cho công tác giảng dạy môn học Thiết kế trang phục tại khoa CN May và CB
Thực Phẩm, trường ĐHSPKT Thành phố Hồ Chí Minh.
Đảm bảo chất lượng đào tạo theo hướng chương trình công nghệ đang
được thực hiện tại trường ĐHSPKT Thành phố Hồ Chí Minh, do Bộ giáo dục và
đào tạo ban hành.
3.
Đối tượng nghiên cứu:
thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng phần mềm trong
sinh viên ngành Công nghệ cắt may năm thứ 4.
Với sản phẩm Veston Nam và Veston Nữ có rất nhiều kiểu dáng khác
nhau, nhưng để đáp ứng cho nhu cầu đào tạo theo hướng chương trình công nghệ
cho ngành Công nghệ cắt may, luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu vào dạng Veston
Nam và Veston Nữ căn bản để từ đó làm tiền đề cho phát triển thiết kế trang
phục sau này.
Về tài liệu thiết kế Veston Nam và Veston Nữ thì có nhiều tài liệu đa
Nguyễn Thành Hậu
4
Luận Văn Thạc Só
dạng, nhưng qua thực tiễn tham khảo tài liệu người nghiên cứu chỉ tập trung khai
thác giáo trình đã được biên soạn tại khoa, để phát triển thành một phần mềm
giảng dạy hoàn chỉnh về nội dung này.
Hiện nay, có rất nhiều phần mềm đồ họa, luận văn chỉ tập trung khai thác
cách ứng dụng các phần mềm Macromedia Flash, Director MX, Adobe
Photoshop, Acrobat, CorelDRAW để phục vụ việc xây dựng phần mềm giảng
dạy cho môn học Thiết kế trang phục.
6.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Tìm hiểu các học thuyết tâm lý học và việc ứng dụng trong giảng dạy,
nghiên cứu tính hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình
dạy học. Nghiên cứu cơ sở khoa học của các vấn đề về cấu trúc, giao diện, kòch
bản, sự tương tác và đánh giá một phần mềm giảng dạy.
Thăm dò thực trạng sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, đặc biệt
Luận Văn Thạc Só
trường trên đòa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quan sát sư phạm.
- Thực nghiệm sư phạm.
Các phương pháp bổ trợ:
8.
Phỏng vấn, trò chuyện đàm thoại.
Phương pháp chuyên gia.
Phương pháp tổng kết các kinh nghiệm của các thế hệ đồng nghiệp.
Phương pháp sử dụng các phần mềm ứng dụng.
Những điểm mới của luận văn và dự kiến kết quả đạt được:
Để xác đònh các điểm mới và dự kiến các kết quả đạt được, người nghiên
cứu đã tham khảo cách thức trình bày của nhiều giáo trình điện tử và các luận
văn có liên quan. Trong đó có hai luận văn thạc só, ngành Giáo dục học được
thực hiện năm 2003, đó là luận văn “Nghiên cứu và xây dựng bộ phương tiện dạy
học cho môn Âu phục nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Châu và luận văn “Nghiên
cứu xác đònh phương pháp giảng dạy thực hành chuyên ngành in” của tác giả Nguyễn
Ngân. Có thể nói các kết quả mà những luận văn này đạt được, đã góp phần rất lớn
trong việc đổi mới phương pháp, phương tiện giảng dạy cho các môn học chuyên ngành
tại trường ĐHSPKT Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, về nội dung cũng
không tránh khỏi những hạn chế như: tính liên kết chưa cao, việc thiết kế các bố
cục giao diện của giáo trình quá đa dạng có thể làm phân tán khả năng tiếp thu
của người học, không hướng họ tập trung vào những mục tiêu chính của môn
học… Trên cơ sở đó, người nghiên cứu kế thừa và phát triển cơ sở lý thuyết trong việc
thiết kế các giáo trình điện tử, đồng thời vận dụng các bước tiến hành xây dựng một
- Có khả năng ứng dụng giảng dạy tại nhiều trường, có thể giữ vững và
nâng cao vò thế hàng đầu của khoa CN May và CB Thực Phẩm về đào tạo nhân
lực chuyên ngành Công nghệ cắt may cho đất nước.
9.
Cấu trúc luận văn:
Luận văn gồm 4 phần:
- Chương 1: Chương dẫn nhập.
- Chương 2: Cơ sở lí luận trong việc ứng dụng công nghệ thông tin để
xây dựng các phần mềm giảng dạy.
- Chương 3: Nghiên cứu xây dựng phần mềm giảng dạy cho môn học
Thiết kế trang phục.
- Chương 4: Kết luận - Kiến nghò.
Nguyễn Thành Hậu
7
Luận Văn Thạc Só
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN TRONG VIỆC
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN ĐỂ XÂY DỰNG
CÁC PHẦN MỀM GIẢNG DẠY
Nguyễn Thành Hậu
vừa qua. Simonson và Thomson [15] cũng gọi Edward Thorndike, Ivan Pavlov
và cả B.F. Skinner như là những người có ảnh hưởng lớn nhất trong việc trình
bày những học thuyết ủng hộ việc sử dụng máy tính trong giáo dục.
Học thuyết của Thorndike chỉ rõ rằng việc học tập cốt yếu ở một loạt
những liên kết giữa các vấn đề của một tình huống cụ thể nào đó với những
thành quả trước đó. Những ý tưởng phức tạp nên được bổ xẻ thành những quan
niệm cơ bản ban đầu và sự củng cố ôn tập nên được áp dụng khi người học tiếp
thu những quan niệm này để có thể tổ chức những hoạt động học tập ở trình độ
cao hơn, phức tạp hơn [15]. Simonson và Thompson cũng cho rằng học thuyết
của Thorndike cung cấp nền móng cho nhiều sự thay đổi trong giáo dục như là
những mục đích cụ thể chuyên biệt của giáo dục đã thay đổi. Một trong những
mục đích chuyên biệt đó là khả năng đọc ở một trình độ nào đó. Điều này cũng
đã thúc đẩy tiến trình đánh giá những kết quả giáo dục.
Ivan Pavlov phát hiện rằng bất cứ một phản ứng trung tính nào, một khi
nó đi kèm với một phản ứng vô điều kiện lúc ban đầu đều liên quan đến một
phản xạ tự nhiên, có thể thay thế phản ứng ban đầu đó và trở thành một phản
ứng có điều kiện tạo nên phản xạ. Tuy nhiên, phản ứng có điều kiện này sẽ dần
dần yếu đi và mất hẳn nếu không có sự góp mặt thường xuyên của phản ứng vô
Nguyễn Thành Hậu
9
Luận Văn Thạc Só
điều kiện. Phương pháp của Pavlov được mọi người biết đến như là một thuyết
phản ứng có điều kiện cổ điển. Nó cho ta thấy những phản ứng có điều kiện bậc
cao có thể được hình thành từ một chuỗi phản ứng phức tạp kiểm soát hành vi
con người. Thuyết phản ứng có điều kiện đã cung cấp nền tảng cho việc thiết kế
giáo án với sự hỗ trợ chủ yếu của máy tính vào quá trình học tập và quá trình
học tập này phải được tổ chức từ những sự kiện đơn giản nhất đến những sự kiện
Sự chuyển đổi mô hình dạy học của các học thuyết khác nhau:
Những học thuyết được đề cập ở trên đã giữ được những ảnh hưởng sâu
rộng của mình, từ đó, những quan điểm khác nhau về việc học đã thay thế nhau
Nguyễn Thành Hậu
10
Luận Văn Thạc Só
ra đời. Những học thuyết mới này nhanh chóng thu được sự hưởng ứng đủ mạnh
để chuyển đổi mô hình của tâm lý học giáo dục từ quan điểm tâm lý học hành vi
sang tâm lý học nhận thức để nghiên cứu những quá trình tâm lý bên trong của
người học và trong quá trình học tập của họ. Theo Simonson và Thompson [15],
những nhà lý thuyết học tập nhận thức như: Jerome Bruner, Jean Piaget, và
Seymour Papert tin rằng sự giảng dạy phải dựa trên hiện trạng về tinh thần của
người học. Các kiến thức được tự người học tác động tạo ra phương pháp học
mới. Điều này ngụ ý rằng việc giảng dạy dựa trên máy tính cần phải được tổ
chức và phân bố sao cho có thể làm tăng khả năng nhận thức và sự nhạy cảm
tinh tế của người học. Simonson và Thompson bổ sung thêm rằng, trong khi
những nhà hành vi học quan tâm nhiều hơn đến kết quả của việc giảng dạy thì
những nhà nhận thức học lại chú tâm nhiều hơn đến nội dung và môi trường của
việc giảng dạy đó.
Mặc dù những học thuyết trên có nhiều điểm dò biệt nhưng cũng có những
điểm chung. Đó là, những thủ thuật kỹ năng giảng dạy mà các học thuyết trên
ủng hộ đều được áp dụng trong việc giảng dạy bằng máy tính; đó là sự phản hồi,
đánh giá của người học và sự cá nhân hóa quá trình giảng dạy.
Cùng với sự gia tăng những ứng dụng của công nghệ thông tin trong giáo
Luận Văn Thạc Só
nhà giáo dục trên thế giới luận bàn. Tuy nhiên, cho đến nay, nó luôn được coi là
một trong những vấn đề quan trọng và cấp bách nhất của quá trình dạy và học.
2.1.1. Quan niệm về tính tích cực:
Tính tích cực là một khái niệm rộng bao trùm nhiều mặt, có thể xét về
mặt triết học, tâm lý học và giáo dục học. Theo từ điển “Chủ nghóa cộng sản
khoa học”, Nhà xuất bản Tiến bộ, Hà Nội năm 1986, khái niệm tính tích cực của
một cá nhân có thể hiểu là một tập hợp gồm toàn bộ những biểu hiện của sự
hoạt động có mục đích, của các chủ thể riêng lẻ nhằm chủ động tiếp cận thỏa
mãn nhu cầu của mình. [3]
2.1.2. Quan niệm về tính tích cực nhận thức:
Tác giả Nguyễn Như An [1] xem tính tích cực nhận thức của học sinh là
mức độ biểu hiện thái độ của họ đối với đối tượng và phương tiện học tập. Học
sinh chỉ tư duy tích cực khi có sự tác động từ phía giáo viên, buộc các em phải
nhớ lại, gợi lên những hình ảnh quen thuộc trong trí tưởng tượng của mình, có sự
so sánh giữa những khái niệm mới và những kiến thức khái quát đã có. Có hai
mức độ nhận thức bao gồm: mức độ nhận thức thụ động và mức độ nhận thức
tích cực. Mức độ nhận thức tích cực là mức độ cao của quá trình nhận thức của
cá nhân người học, huy động cao các chức năng tâm lý, đặc biệt là chức năng tư
duy. Do đó, trong hoạt động nhận thức của người học, các yếu tố nhận thứ c, tình
cảm, và ý chí có sự kết hợp với nhau tạo nên các mô hình tâm lý và luôn biến
đổi theo mục đích, nhiệm vụ và nội dung của hoạt động nhận thức.
Như vậy, có thể nhận đònh tính tích cực nhận thức đặc trưng cho quá trình
thay đổi liên tục bên trong các mô hình tâm lý của hoạt động nhận thức. Tính
tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự
huy động cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề học tập, về
nhận thức. Tính tích cực nhận thức vừa là mục đích hoạt động, vừa là phương
tiện, là điều kiện để đạt được mục đích, vừa là kết quả của hoạt động. Nó là
phẩm chất hoạt động của cá nhân. Tính tích cực được thể hiện trong hoạt động
cải tạo, đòi hỏi phải thay đổi trong ý thức của chủ thể hành động.
qua các hành vi bên ngoài. Vì vậy, có thể dể dàng nhận biết được tính tích cực
nhận thức của người học trong quá trình tiếp nhận tri thức, được thể hiện qua các
dấu hiệu sau:
- Hành vi biểu hiện mức độ của sự chú ý thể hiện ở thái độ chú ý học tập
và ghi nhớ tốt những điều đã học. Đồng thời thực hiện đầy đủ các yêu cầu của
giáo viên, khả năng phản xạ nhanh lẹ và chính xác các câu hỏi khi giáo viên đưa
ra. Mức độ tham gia của người học vào sự chú ý được thể hiện ở nỗ lực làm việc
khi giải quyết một nhiệm vụ học tập hoặc một vấn đề nào đó mà giáo viên đặt
ra, sự kiên trì tìm tòi đến cùng, không học một cách ngần ngại, chán nản.
- Người học hứng thú tìm hiểu tri thức trong quá trình học. Từ đó, có thể
trình bày những nội dung đã học bằng ngôn ngữ riêng và có khả năng vận dụng
được một cách linh hoạt các kiến thức đã học vào thực tiễn. Đó là những hành vi
sôi nổi chủ động linh hoạt trong hoạt động học tập như cường độ, nhòp độ các
thao tác, các kỹ năng học tập, các khả năng đối thoại trong giao tiếp giữa thầy
hoặc bạn bè xoay quanh các vấn đề trong lónh vực học tập.
- Các hành vi thể hiện mặt cảm xúc trong học tập được thể hiện qua các
niềm vui lao động trí tuệ và sẵn sàng thực hiện các yêu cầu của giáo viên.
- Các hành vi thể hiện nhu cầu hứng thú học tập được biểu hiện qua sự
tập trung, sự hứng thú giải quyết một vấn đề do thầy giáo đưa ra hoặc một tình
huống học tập nào đó.
Dựa vào sự biểu hiện của các hành vi trên mà người dạy có khả năng
nhận biết được mức độ tích cực của người học để có thể xử lý và điều khiển quá
Nguyễn Thành Hậu
13
Luận Văn Thạc Só
trình dạy học theo hướng tích cực nhận thức người học đạt hiệu quả cao. Mức độ
tích cực nhận thức của người học có thể nhận biết bằng các yếu tố: tính tích cực
phương hướng biện pháp nhằm phát huy tính tích cực nhận thức người học.
J.J.Rutxo cho rằng phải hướng học sinh tích cực tự dành lấy kiến thức
bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo. [22]
A. Distecvec cho rằng người giáo viên tồi là người cung cấp cho học sinh
chân lý, người giáo viên giỏi là người dạy cho họ tìm ra chân lý. [10]
Ở Việt Nam các nhà lý luận dạy học cũng đã có nhiều công trình khoa
học đã và đang nghiên cứu về tính tích cực nhận thức của người học. Cùng với
Nguyễn Thành Hậu
14
Luận Văn Thạc Só
sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin như hiện nay, các công trình
khoa học ấy đang được vận dụng có hiệu quả tại các trường học ở nước ta. Với
mối quan tâm đặc biệt cho sự phát triển của giáo dục, các trường đã khai thác tối
đa thế mạnh của việc ứng dụng công nghệ thông tin với vai trò là những phương
tiện dạy học hiện đại, hỗ trợ cho quá trình giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực
nhận thức của người học. Xuất phát từ mục tiêu đào tạo và các đặc điểm tâm lý
xã hội của người học, để tích cực hóa nhận thức ở người học việc chuẩn bò thiết
kế và tổ chức thực hiện một bài giảng (lý thuyết hoặc thực hành) cần chú ý các
biện pháp sau:
- Làm rõ mục tiêu, yêu cầu của toàn khóa học, từng phần, từng giai đoạn
trong khóa học và từng bài giảng, qua đó thể hiện rõ sự cần thiết và lợi ích của
khóa học. Người học cần biết sự cần thiết trong việc học trước khi bước vào quá
trình học để tạo cho người học có động lực và sự say mê trong học tập.
SÁCH GIÁO KHOA – TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Nguyễn Thành Hậu
15
Luận Văn Thạc Só
tra - đánh giá kết quả đào tạo. Nếu như việc sử dụng phương pháp diễn giảng
kết hợp với các giáo cụ trực quan (tranh ảnh, mô hình, mô phỏng) có hiệu quả
tốt trong hình thức tổ chức dạy học theo nhóm, theo lớp… thì các phương pháp
hướng dẫn thực hành, tập luyện… chủ yếu thích hợp với các hình thức tổ chức
đào tạo theo từng cá nhân. Một chương trình đào tạo được lựa chọn và sử dụng
phối hợp nhiều phương pháp đào tạo thích hợp với quan điểm lấy người học làm
trung tâm, góp phần tích cực hóa hoạt động của học viên, hình thành ở học viên
các phương pháp học tập hợp lý và có hiệu quả đặc biệt tạo điều kiện cho người
học tích chủ động trong hoạt động nhận thức của mình.
Tùy thuộc vào đối tượng học viên, mục tiêu và nội dung chương trình đào
tạo, cơ sở vật chất loại hình đào tạo mà ta có thể sử dụng các phương pháp hoặc
nhóm các phương pháp đào tạo khác nhau nhằm đạt được mục tiêu và kết qủa
đào tạo mong muốn. Hệ thống các phương pháp dạy học bao gồm một số các
phương pháp cơ bản sau: thuyết trình, thuyết trình có thảo luận, nhóm chuyên
gia, phương pháp động não, giảng dạy qua băng hình, thảo luận trong lớp, thảo
luận trong nhóm nhỏ, nghiên cứu tình huống, đóng vai, báo cáo lại, điều tra,
phiếu ghi chép, nói chuyện chuyên đề, bài tập làm rõ giá trò. Thông thường các
phương pháp này được sử dụng linh hoạt và có sự kết hợp chặt chẽ với nhau
trong từng bài giảng. Ví dụ: các bài thuyết trình hoặc diễn giảng kết hợp với
minh họa trực quan hoặc nêu vấn đề, hướng dẫn đọc tài liệu kết hợp thảo luận
nhóm, nghe nhìn và làm bài tập… Việc sử dụng độc lập từng phương pháp cần
dựa trên sự phân tích, đánh giá về mục tiêu, nội dung bài giảng, các ưu nhược
điểm của từng phương pháp, các biện pháp cần thực hiện để sử dụng có hiệu quả
các phương pháp khác nhau.
của người học, hoàn thiện quá trình dạy học và kiểm chứng chất lượng, hiệu quả
giờ học và trình độ nghề nghiệp của giáo viên. Các hình thức kiểm tra truyền
thống nặng về đánh giá khả năng ghi nhớ, trình bày lại những nội dung mà
người thầy truyền thụ, đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế trong việc nâng cao tính
tích cực nhận thức và khả năng vận dụng linh hoạt - sáng tạo các kiến thức - kỹ
năng của người học trong các tình huống thực tế đa dạng. Việc kiểm tra đánh giá
phải theo cách thức giảng dạy và học tập. Phải có sự thu nhận và đánh giá các
thông tin phản hồi. Việc thu nhận thông tin một cách kòp thời nhanh chóng và
chính xác một cách tương đối đầy đủ về phía người học sẽ tạo điều kiện cho
người thầy phân hóa, cá thể hóa người học một cách nhanh chóng và chính xác.
Thông tin phản hồi là những thông tin về hiệu quả và chất lượng học tập của
người học, những thông tin về đặc điểm tâm lý nhận thức và về mức độ tích cực
học tập của người học. Các thông tin này được thu nhận qua mối liên hệ ngược
như tự đánh giá, tự điều chỉnh của người học và qua kết quả kiểm tra của người
học.
- Đồng thời, biện pháp động viên khen thưởng kòp thời khi người học đạt
được những kết quả tốt, cũng là một biện pháp mang lại hiệu quả cao trong việc
tích cực hóa người học.
2.2. Cách tiếp cận và quan điểm dạy học tích cực:
2.2.1. Cách tiếp cận:
Cách tiếp cận thứ 1: quan tâm đến kết quả cuối cùng nhận được là sản
phẩm học tập hay hành vi nhận biết được. Đó là cách tiếp cận theo hành vi đáp
lại phản xạ có điều kiện của Pavlov, hay theo hành vi kích hoạt phản xạ có điều
kiện của Skinner: học là quá trình làm biến đổi hành vi từ kinh nghiệm hay từ sự
tiếp xúc với môi trường sống của chủ thể. [19]
Cách tiếp cận thứ 2: quan tâm đến quá trình học, bằng cách tìm hiểu
những gì đã xảy ra trong cách tư duy của người học, tức là cách tiếp cận về trí
tuệ, theo Piaget với “cơ chế đồng hóa, điều ứng” hay Vigotski với “vùng phát
triển gần”. Theo GS Vũ Văn Tảo học là quá trình biến đổi và cân bằng cấu trúc
Nguyễn Thành Hậu