TIỂU LUẬN TRIẾT - TƯ TƯỞNG CỦA C.MÁC VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG - KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG TRONG TP “GÓP PHẦN PHÊ PHÁN KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ”. Ý NGHĨA CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA - Pdf 38

TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG CỦA C.MÁC VỀ QUY LUẬT CƠ SỞ HẠ TẦNG
QUYẾT ĐỊNH KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG TRONG “LỜI TỰA”
TÁC PHẨM “GÓP PHẦN PHÊ PHÁN KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ”.
Ý NGHĨA VẬN DỤNG ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA

T

ác phẩm nổi tiếng của C.Mác “Góp phần phê phán khoa kinh tế
chính trị” được viết từ tháng 8/1858 đến tháng 2/1859 mới hoàn
chỉnh, xuất bản và phát hành tháng 6/1859. Tác phẩm ra đời đánh

dấu mốc quan trọng trong quá trình hình thành, phát triển học thuyết kinh tế
chính trị Mácxít mà còn thể hiện sự phát triển triết học Mácxít, đặc biệt là học
thuyết về hình thái kinh tế-xã hội, trong đó có quy luật cơ sở hạ tầng quyết
định kiến trúc thượng tầng. Tác phẩm này được trình bày trong C.Mác và
Ph.Ăngghen toàn tập, nhà xuất bản CTQG, Hà Nội năm 1995, tập 13.
Trước lúc viết tác phẩm này, C.Mác đã có một quá trình nghiên cứu khoa
học toàn diện trong vòng 15 năm, trong quá trình đó Mác đã nghiên cứu một
khối lượng to lớn các tác phẩm kinh tế-xã hội và soạn thảo những nguyên lý cơ
bản học thuyết kinh tế của mình. Tác phẩm này ra đời thể hiện một quá trình
lao động nghiên cứu khoa học nghiêm túc của Mác.
Nội dung “Lời tựa” tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”,
C.Mác đã tóm tắt, khái quát quá trình nghiên cứu khoa kinh tế chính trị và tổng
kết thực tiễn từ 1842- 1843, khi làm biên tập tờ “Rheinsche Zeitung” đến tháng
2 năm 1859. C.Mác nói: “Lần đầu tiên tôi phải nêu ý kiến của mình về cái gọi là
lợi ích vật chất và điều đó đã làm cho tôi lúng túng”1. Sau đó là những cuộc thảo
luận, tranh luận về vấn đề ăn trộm gỗ và phân nhỏ tài sản ruộng đất; về tình
cảnh nông dân vùng Mô đen; cuối cùng là những cuộc tranh luận về tự do buôn
bán và thuế quan bảo hộ. C.Mác nói: “Lần đầu tiên thúc đẩy tôi nghiên cứu
những vấn đề kinh tế”2. Sự thúc đẩy đó được bắt đầu từ khi C.Mác viết tác phẩm
11 . 2. C. Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb, CTQG, H, 1995, tập 13, Tr 13. 14

Do phạm vi bao quát rộng lớn và hết sức sâu sắc của các nội dung, nên
trong phạm vi bài thu hoạch này tôi trình bày nhận thức của mình về tư tưởng
33.4 C. Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb, CTQG, H, 1995, tập 13, Tr 14

2

2


C.Mác bàn đến quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng trong
“lời tựa” tác phẩm “góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” và ý nghĩa vận
dụng đối với công cuộc đổi mới ở Nước ta.
1. Tư tưởng của C.Mác về quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc
thượng tầng trong “lời tựa” tác phẩm “góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”
Trong lý luận về hình thái kinh tế xã hội không những C.Mác coi các
quan hệ (trong hệ tư tưởng Đức ông gọi là “hình thức giao tiếp”) là tiêu chuẩn
khách quan để phân biệt các hình thái kinh tế xã hội khác nhau, mà còn vạch ra
mối quan hệ có tính chất cơ bản để xác định diện mạo của các hình thái kinh tế
xã hội đó là mối quan hệ biện chứng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
Con người và xã hội loài người muốn tồn tại và phát triển được trước hết
là nhờ sản xuất vật chất. Lịch sử của xã hội, cũng là lịch sử phát triển của sản
xuất vật chất, C.Mác viết: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con
người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của
họ-tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ
phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ” 5. Hiểu theo
cách nói của C.Mác mỗi xã hội trong lịch sử, có một kiểu những quan hệ vật
chất cơ bản nhất định ứng với những lực lượng sản xuất nhất định, đó là những
quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sản xuất tàn dư, quan hệ sản xuất thống trị,
quan hệ sản xuất mầm mống. Toàn bộ những quan hệ sản xuất xã hội hiện thực
đó, mà trước hết và chủ yếu là những quan hệ sản xuất thống trị, tức là những

hiện thực, trên đó người ta dựng lên kiến trúc thượng tầng tương ứng với cơ sở
thực tại đó. Do đó toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học,
đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật… cùng với những thiết chế xã hội tương ứng của
chúng như: nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội là cái được hình
thành, được xây dựng trên nền tảng của cơ sở hạ tầng nhất định, hợp thành
kiến trúc thượng tầng xã hội. Cũng chính trong “lời tựa” của tác phẩm “góp
phần phê phán khoa kinh tế chính trị”, C.Mác đã chỉ ra cấu trúc của kiến trúc
thượng tầng xã hội gồm: “kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị”, “và
những hình thái ý thức xã hội” nhất định. Cấu trúc đó phải phù hợp với kiểu
4

4


quan hệ sản xuất nhất định, chứ không phải chung chung trừu tượng. Khi
nghiên cứu vấn đề này chúng ta thấy ràng C.Mác đã trừu tượng hóa, đã phân
quan hệ xã hội ra làm hai loại: loại quan hệ xã hội trong sản xuất vật chất, loại
quan hệ chính trị, tinh thần tư tưởng. Quan hệ chính trị tinh thần tư tưởng được
hình thành trên các quan hệ kinh tế. Chính từ trên nền tảng của quá trình sản
xuất vật chất phát triển đến một trình độ nhất định “từ đó người ta phát triển
các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật”.
Trong “lời tựa”; C.Mác đã chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa cơ ở hạ
tầng và kiến trúc thượng tầng, trong mối quan hệ đó thì vai trò của chúng
không ngang bằng nhau, cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định đối với kiến trúc
thượng tầng. Cơ sở hạ tầng quyết định sự ra đời, cơ cấu tính chất, sự vận động
biến đổi của kiến trúc thượng tầng.
C.Mác viết “Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế
của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng
tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng
với cơ sở hiện thực đó”6. Kiến trúc thượng tầng là sự phản ánh của cơ sở hạ

thế căn cứ vào ý thức của thời đại ấy. Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng
những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực
lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất xã hội” 8. Cơ sở hạ tầng như
thế nào thì cơ cấu, bề mặt của kiến trúc thượng tầng của nó như thế ấy. Bộ mặt
kiến trúc thượng tầng trong đời sống xã hội luôn được biểu hiện ra một cách
phong phú, phức tạp, ngay cả những hiện tượng lạ lùng nhất của kiến trúc
thượng tầng cũng đều có nguyên nhân sâu xa nằm ở các cơ cấu kinh tế xã hội.
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng còn
được C.Mác chỉ ra: khi “Cơ sở kinh tế thay đổi, thì toàn bộ cái kiến trúc
thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng” 9. Do vậy, nếu cơ sở
hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng cũng
sẽ diễn ra. Quá trình đó thực hiện không chỉ trong giai đoạn có tính chất cách
mạng-xã hội này sang xã hội khác, mà còn được thực hiện ngay trong bản thân
77.8 C. Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb, CTQG, H, 1995, tập 13, Tr 14
99 C. Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb, CTQG, H, 1995, tập 13, Tr 15

6

6


mỗi hình thái kinh tế xã hội. Sự biến đổi của cơ sở hạ tầng dẫn đến sự biến đổi
của kiến trúc thượng tầng là cả một quá trình diễn ra hết sức phức tạp. Nguyên
nhân của quá trình đó xét đến cùng là do sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Tuy nhiên, sự phát triển của lực lượng sản xuất chỉ trực tiếp gây ra sự biến đổi
cơ sở hạ tầng, còn chính sự biến đổi của cơ sở hạ tầng, đến lượt nó mới làm
cho kiến trúc thượng tầng biến đổi một cách căn bản. Sự biến đổi trong kiến
trúc thượng tầng phản ánh sự biến đổi của cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó. Lịch sử
nhân loại đã chứng minh rằng trong xã hội có giai cấp đối kháng sự thay đổi
kiến trúc thượng tầng không phải là một hành động tự phát, mà phải thông qua

trong thực tiễn đời sống xã hội, không phải chỉ nhà nước, pháp luật mới có sự
tác động to lớn đến cơ sở hạ tầng, mà các bộ phận khác của kiến trúc thượng
tầng đều có khả năng gây ra những biến động không nhỏ tới cơ sở hạ tầng.
Những bộ phận đó tác động đến cơ sở hạ tầng bằng nhiều hình thức khác nhau.
Tất nhiên, trong mỗi chế độ xã hội, sự vận động của các bộ phận của kiến trúc
thượng tầng không phải bao giờ cũng đi theo cùng một xu hướng, đôi khi,
trong kiến trúc thượng tầng cũng nảy sinh tình trạng không đồng bộ giữa các
bộ phận của nó. Lịch sử các xã hội có giai cấp đã chứng minh ràng xã hội cơ
bản của kiến trúc thượng tầng thống trị là xây dựng, bảo vệ và phát triển cơ sở
hạ tầng hiện tồn, chống lại nguy cơ làm suy yếu hoặc phá hoại sự tồn tại của
chế độ kinh tế xã hội đang tồn tại. Trong việc thực hiện chức năng đó, nhà
nước có vai trò đặc biệt quan trọng; nó chi phối và trong nhiều trường hợp
quyết định khả năng tác động của các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng
đến toàn bộ đời sống xã hội nói chung và đến hạ tầng cơ sở nói riêng.
Khi nghiên cứu “lời tựa” của tác phẩm “góp phần phê phán khoa kinh tế
chính trị” chúng ta phải hết sức lưu ý C.Mác không trực tiếp viết về vai trò của
lĩnh vực tư tưởng đối với lịch sử là có lý do của nó. Bởi vì, ông đã nói trong lời
tựa đó là “công việc nghiên cứu kinh tế của tôi” 11. Ông tìm hiểu “cơ sở hiện
thực của xã hội” cái mà quyết định mọi quan hệ xã hội khác nhau. Tuy vậy,
1010 C. Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb, CTQG, H, 1995, tập 13, Tr 15
1111 C. Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb, CTQG, H, 1995, tập 13, Tr 17

8

8


nếu cho ràng C.Mác quá tuyệt đối hóa nhân tố kinh tế thì đó là quan điểm duy
vật tầm thường về điều này như Ph.Ăngghen đã viết: “Có cái quan điểm lạ
lùng của các nhà tư tưởng cho rằng: vì chúng tôi không thừa nhận là các lĩnh

Lời tựa tác phẩm ra đời đã thể hiện kế thừa, phát triển tư tưởng nhân loại
đến đỉnh cao và tạo ra bwocs ngặt cách mạng trong quan niệm về xã hội. đây
là thế giới quan, phương pháp khoa học có giá trị định hướng cơ bản cho
C.Mác nghiên cứu lịch sử, C.Mác đánh giá: “Kết quả chung mà tôi đã đạt và
trở thành kim chỉ nam cho mọi nghiên cứu sau này của tôi”14
Biện chứng “lời tựa” tác phẩm trên có ý nghĩa to lớn cho các Đảng cộng
sản vận dụng vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Đảng cộng sản Việt Nam đã
vận dụng tốt tư tưởng cơ bản của lời tựa về vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa
cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng.
“Lời tựa” của tác phẩm này là thế giới quan, phương pháp luận cho
C.Mác nghiên cứu các công trình khoa học về sau này của ông; nó đặt nền
tảng cho C.Mác nghiên cứu và cho ra đời bộ “tư bản”. Lời tựa thể hiện hoàn
thiện nội dung nền tảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nó là cơ sở vũ khi sắc
bén để giai cấp vô sản đấu tranh phê phán các quan điểm duy tâm, siêu hình
chống lại chủ nghĩa Mác lúc bấy giờ, đặc biệt là các quan điểm của các học
giả tư sản phản động.
Cho đến nay tư tưởng của “lời tựa” vẫn còn nguyên giá trị, nó là cơ sở
phương pháp luận cho mọi nghiên cứu của xã hội hiện tại. Đó là một mẫu hình
nghiên cứu xã hội mà chúng ta tiếp tục vận dụng để nghiên cứu xã hội tư bản
hiện đại. Lời tựa là cơ sở để tiếp cận xác định mô hình nôi dung, con đường,
biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt nghiên cứu mối quan hệ biện
chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng có ý nghĩa to lớn trong
nhận thực và chỉ đạo hành động thực tiễn để giải quyết mối quan hệ kinh tế và
chính trị trong công cuộc đổi mới đất nước ta theo định hướng xã hội chủ
nghĩa .

1414 C. Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb, CTQG, H, 1995, tập 13, Tr 15

10


1515.16. V.I. Lênin : Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mácxcơva, 1981, t.42, tr 349

11

11


tạo động lực để phát triển kinh tế quốc dân. Muốn phát triển xã hội, đòi hỏi
phải ưu tiên ổn định, hoàn thiện, từng bước đổi mới chính trị, dân chủ hóa
chính trị. Làm được điều đó, quay trở lại chính trị tạo điều kiện cho kinh tế
phát triển. Quan hệ chính trị với kinh tế là quan hệ cơ bản, có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng, chi phối các mối quan hệ xã hội. Vì vậy, đòi hỏi trong xử lý những
vấn đề cụ thể phải chủ động, sáng tạo, tránh tuyệt đối hóa hoặc đồng nhất
chính trị với kinh tế.
Tuyệt đối hóa kinh tế dẫn đến tình trạng phát triển kinh tế tự phát, vô
chính phủ, tập trung tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá, hy sinh các mặt khác.
Ngược lại tuyệt đối hóa chính trị trong phát triển kinh tế sẽ làm cho nền kinh tế
bị can thiệp, áp đặt một cách duy ý chí, không theo quy luật khách quan. Đồng
nhất chính trị với kinh tế sẽ làm cho chính trị trở nên cứng nhắc giáo điều. Mắc
phải một trong những khuynh hướng trên đều ảnh hưởng đến tiêu cực, kìm
hãm sự phát triển kinh tế nói riêng và phát triển xã hội nói chung.
Chính vì vậy, việc nhận thức và xử lý mối quan hệ đó trong thực tiễn
đúng hay sai có ý nghĩa quyết định đối với sự hưng thịnh hay diệt vong của
nền kinh tế về chế độ chính trị-xã hội. Thực tế sự sụp đỗ của chế độ xã hội chủ
nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông âu đều có nhiều nguyên nhân, có nguyên
nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp, có nguyên nhân chủ quan và nguyên
nhân khách quan của nó, nhưng xét về thực chất và sâu xa thì việc giải quyết
mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế chưa được tốt trong quá trình xây dựng
xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, việc nghiên cứu và giải quyết vấn đề này ở Nước ta
có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn rất lớn đối với sự phát triển của một đất

hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ. Chúng ta đã nhận thức
được ràng, chủ nghĩa xã hội không loại trừ, không đối lập với kinh tế thị
trường, trái lại cần phát triển kinh tế thị trường, tận dụng những ưu thế của
nó để phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện
lời dạy của V.I. Lênin, trong một nước tiểu nông, chung ta phải bắc những
chiếc cầu nhỏ, vững chắc đi xuyên qua chủ nghĩa tư bản nhà nước tiến dần
13

13


tới chủ nghĩa xã hội. Trong nhiều lĩnh vực “cần phải lùi về chủ nghĩa tư bản
nhà nước, từ bỏ biện pháp tấn công chính diện và bắt đầu cuộc bao vây lâu
dài”17. Có thể nói, tại Đại hội Đảng lần thứ VI, đặc biệt là Hội nghi Trung
ương 6 (khóa VI) Đảng ta đã có bước phát triển quan trọng trong nhận thức
lý luận, coi chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến
lược lâu dài. Đến Đại hội Đảng lần thứ VII, Đảng tiếp tục khẳng định sự cần
thiết phải phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Đến Đại hội IX, Đảng chủ trương đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và coi đó là đường lối chiến lược, là mô
hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam. Đường lối chính trị đó đã được thực tiễn sau 20 năm đổi mới
chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.
Trong nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi
mới chính trị, Đảng ta xác định rằng cần phải kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi
mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng điểm, đồng
thời từng bước đổi mới chính trị. Đây là một chủ trương đúng đắn, bảo đảm
không gây nên những đảo lộn làm mất cân bằng trong đời sống xã hội; đồng
thời giữ vững được sự ổn định chính trị, đó là một tiên đề kiên quyết cho sự

Mục tiêu căn bản của đổi mới chính trị và hệ thống chính trị cũng là mục
tiêu và động lực của công cuộc đổi mới ở nước ta là xây dựng nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Dân chủ phải đi
đôi với tập trung, với kỷ cương, pháp luật, với ý thức của công dân, chống tư
tưởng dân chủ cực đoan và những mưu toan lợi dụng “dân chủ” nhân quyền để
thực hiện đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập hòng chống phá chế độ, lái
cách mạng nước ta đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa.
Về mặt kinh tế-xã hội, thực hiện chủ trương “đổi mới kinh tế làm trọng
tâm”, tập trung giải quyết những vấn đề cấp thiết của nhân dân về sản xuất và
1818.Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb.Sự thật, Hà Nội, 1991,
tr54

15

15


đời sống, giải phóng sức sản xuất, hình thành và phát huy nguồn nhân lực
trong và ngoài nước, thúc đẩy kinh tế phát triển, đưa nước ta thoát khỏi tình
trạng nghèo khó và khủng hoảng kinh tế xã hội vốn đã tồn tại kéo dài nhiều
năm, tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, ổn định và liên tục
phát triển, mở rộng các quan hệ hợp tác kinh tế với nhiều quốc gia và tổ chức
kinh tế quốc tế. Tạo môi trường thuận lợi nhằm thu hút đầu tư nước ngoài,
nâng vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, khuyến kích phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, với đa dạng các hình thức sở hữu, các hình thức
phân phối, trong đó lấy phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu,
cũng như mô hình quản lý cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được
xác lập và từng bước vận hành thông suốt. Trong Văn kiện Đại hội Đảng X
tiếp tục khẳng định “Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành
phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước

thượng tầng tác động, thúc đẩy nhau. Trong quá trình thực hiện không phải là
dàn trải mà phải có trọng tâm, trọng điểm và bước đi thích hợp; coi trong sự
gắn kết giữa các yếu tố của kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng, phát huy
vai trò của từng yếu tố đó trong sự đổi mới nhằm phát triển kinh tế-xã hội.
Quá trình đổi mới của chúng ta hơn 20 năm qua đã đạt được nhiều thành
tựu quan trọng. Tuy nhiên, nền kinh tế của đất nước phát triển chưa vững chắc,
hệ thống chính trị còn nhiều bất cập, đổi mới chính trị và hệ thống chính trị
chưa theo kịp đòi hỏi phát triển của xã hội và đổi mới kinh tế. Để khắc phục
hạn chế trên, phát huy vai trò lãnh đạo hướng dẫn của chính trị đối với kinh tế,
đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa cho việc xây dựng và phát triển nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường ở nước ta, đưa
công cuộc đổi mới tiếp tục phát triển thắng lợi, cần làm tốt một số vấn đề sau:
Thứ nhất, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế
thị trường. Chúng ta thực hiện nhất quán và lâu dài chủ trương phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Như vậy vấn đề đặt ra là phải tiếp
tục đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
đạo và cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảng vững chắc. Đồng thời tạo
2121.Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb.CTQG, H, 2006, tr70-71

17

17


điều kiện thuật lợi các thành phần kinh tế khác yên tâm, đầu tư phát triển. Bên
cạnh đó xác lập, cũng cố, nâng cao địa vị làm chủ của người lao động trong
nền sản xuất xã hội. Trong hoạt động kinh tế đối ngoại cần đảm bảo giữ vững
độc lập chủ quyền, tăng cường lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia, thự hiện tốt
“Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền
tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện

Đại hội khóa VIII của Đảng chỉ rõ: “Toàn bộ thành tựu và khuyết điểm của
công cuộc đổi mới gắn liền với tránh nhiệm lãnh đạo và hoạt động của Đảng
ta. Sự lãnh đạo và hoạt động của Đảng là nhân tố quyết định những thành tựu
của công cuộc đổi mới”23.
Để đáp ứng được vai trò lãnh đạo đất nước nói chung và lãnh đạo kinh tế
nói riêng của Đảng trong tình hình mới cần tập trung đổi mới và chỉnh đốn
đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ theo chốt. Do vậy cần quan tâm và thực
hiện tốt một số yêu cầu.
Kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa, đưa các quan điểm, đường lối chính
sách, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, nhất là quan điểm chính sách phát
triển kinh tế-xã hội. Mỗi đảng viên, tổ chức đảng phải gương mẫu trong chấp
hành thực hiện đường lối chủ trương chính sánh đó, kịp thời phát hiện những
sai lệch, để có biện pháp sửa chữa, điều chỉnh bổ sung.
Đẩy mạnh việc đổi mới công tác cán bộ, quan tâm đào tạo bồi dưỡng,
sử dụng và quản lý cán bộ, quản lý đảng viên trong bộ máy nhà nước,
trong các tổ chức kinh tế, các đơn vị sản xuất kinh doanh. Kịp thời phát
hiện tài năng quản lý kinh tế, sản xuất kinh doanh giỏi, đồng thời ngăn
chặn có hiệu quả những thất thoát trong quản lý kinh tế, có nhiều hợp đồng
ma để rút tiền của nhà nước vào túi cá nhân, dẫn đến tham nhũng làm thoái
hóa, biến chất đội ngũ cán bộ công chức của nhà nước, làm mất lòng tin
của quần chúng nhân dân đối với Đảng, làm cho hệ thống chính trị suy yếu
trong cơ chế thị trường.
2323 .Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb.CTQG, H, 1996, tr135

19

19


Thường xuyên làm tốt công tác tổng kết thực tiễn để rút ra bài học kinh


giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường,
tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị, thực hiện dân chủ hóa xã hội, xây dựng và
hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, đồng thời phát huy
vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản thực hiện mục tiêu, dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Chúng ta nắm vững thế giới quan, phương pháp luận biện chứng khoa
học và cách mạng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung triết
học duy vật lịch sử nói riêng, đặc biệt vận dụng quy luật cơ sở hạ tầng quyết
định kiến trúc thượng tầng là điều kiện cơ bản để chống lại các thế lực thù địch
về chính trị, tư tưởng, chống chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa giáo điều, đưa công
cuộc đổi mới đi đến thắng lợi. Đến lượt nó, chính thắng lợi của thực tiễn đổi
mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng ta và nhân dân ta sẽ là một
đóng góp có giá trị vào việc bảo vệ và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin
trong đó có triết học Mác-Lênin mãi mãi trường tồn./.

21

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status