Biện pháp phát triển khả năng nghe – hiểu lời nói cho trẻ khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai - Pdf 38

MỤC LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Từ gốc

TKT

Trẻ khiếm thính

ĐCOT

Điện cực ốc tai


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Lịch sử loài người đã chứng minh người khuyết tật, trong đó có trẻ khuyết tật là một
bộ phận cấu thành tất yếu của xã hội. Vấn đề chăm sóc, giáo dục cho người khuyết
tật, nhất là trẻ em khuyết tật ngày càng được các quốc gia trên thế giới quan tâm.
Nó không còn là vấn đề của riêng gia đình trẻ khuyết tật mà đã trở thành vấn đề
chung của toàn xã hội.
Theo số liệu thống kê, Việt Nam có khoảng 1,2 triệu trẻ khuyết tật, trong đó trẻ
khiếm thính chiếm 12,43%, trẻ khiếm thị chiếm 13,73%, trẻ chậm phát triển trí tuệ
chiếm 28,36%, trẻ khuyết tật ngôn ngữ chiếm 12,57%, trẻ vận động 19,25%, trẻ đa
tật chiếm 12,62% [18]....
Khoa học công nghệ càng ngày càng phát triển và không ngừng quan tâm để giảm thiểu

chúng tôi lựa chọn “Biện pháp phát triển khả năng nghe – hiểu lời nói cho trẻ
khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai” làm vấn đề nghiên cứu, nhằm giúp trẻ khiếm
thính cấy điện cực ốc tai có thể phát huy tối đa khả năng nghe để phát triển ngôn
ngữ nói, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng can thiệp sớm, giúp các bé có khả
năng hòa nhập tốt nhất.
2. Mục tiêu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ khiếm thính
cấy điện cực ốc tai, từ đó đề xuất một số biện pháp phát triển khả năng nghe – hiểu lời nói
cho trẻ sau cấy điện cực ốc tai nhằm giúp trẻ phát triển nhận thức, ngôn ngữ nói và hòa
nhập cộng đồng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận: các vấn đề liên quan đến trẻ khiếm thính, điện cực ốc tai,
phát triển khả năng nghe hiểu lời nói cho trẻ khiếm thính.
- Nghiên cứu thực trạng khả năng nghe hiểu lời nói, các biện pháp phát triển khả
năng nghe hiểu lời nói cho trẻ khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai.
- Đề xuất một số biện pháp phát triển khả năng nghe – hiểu lời nói cho trẻ khiếm
thính sau cấy điện cực ốc tai và thực nghiệm sư phạm.
4. Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận
Tiếp cận biện chứng – cách tiếp cận tôn trọng những liên hệ nhân quả và phụ thuộc
biện chứng lẫn nhau giữa giáo dục và người học, giữa biện pháp giáo dục và kết quả
giáo dục.
Tiếp cận lịch sử cụ thể – Mỗi trẻ có quá trình phát triển, hoàn cảnh và tiền sử khác
nhau cũng như kinh nghiệm, phong cách, thói quen, khả năng tiếp thu khác nhau.
Tiếp cận tổng thể– nhìn nhận mọi trẻ trong mối quan hệ tổng hoà với xã hội và trên
nhiều mặt, nhiều khía cạnh. Điều này được thể hiện trong việc xây dựng các biện
pháp sư phạm phù hợp với đặc điểm văn hoá, kinh tế xã hội, điều kiện vùng miền
và nhất quán trong một mô hình dạy học.
Tiếp cận cá nhân hóa– mỗi trẻ là một cá nhân khác biệt đang hình thành và phát

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Khả năng hiểu lời nói của trẻ khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai.
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phát triển ngôn ngữ nói, đặc biệt là ngôn ngữ hiểu cho trẻ mẫu giáo (từ 3 – 6 tuổi)
là vô cùng quan trọng. Sự phát triển tốt về ngôn ngữ sẽ góp phần tạo nền tảng tốt
cho trẻ chuẩn bị bước sang giai đoạn học đường. Do vậy, phát triển khả ănng nghe
hiểu lời nói cho trẻ khiếm thính 3 – 6 tuổi cấy điện cực ốc tai góp phần nâng cao
chất lượng ngôn ngữ nói và hiệu quả hòa nhập, giúp trẻ có sự chuẩn bị tốt nhất để
chuyển sang giai đoạn giáo dục mới – giai đoạn học đường. Trên cơ sở đó, đề tài
nghiên cứu khả năng nghe hiểu lời nói của trẻ khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai từ 3 – 6

5


tuổi, từ đó đề xuất một số biện pháp phát triển khả năng nghe hiểu lời nói cho trẻ sau cấy
điện cực ốc tai.
- Địa bàn nghiên cứu: đề tài tập trung thực hiện ở Cơ sở thực nghiệm giáo dục đặc
biệt – Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, trường mầm non thực nghiệm Linh Đàm.

6


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG
NGHE- NÓI CHO TRẺ KHIẾM THÍNH SAU CẤY ĐIỆN CỰC ỐC TAI
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Ngoài nước
Máy trợ thính ra đời đánh dấu một bước ngoặt lớn trong việc hỗ trợ người khiếm
thính phục hồi khả năng nghe nói. Nhưng không dừng lại ở đó, các nhà khoa học



Mary Pet Moeller (2000) lại cho rằng: trẻ tham gia can thiệp trước 11 tháng tuổi có
vốn từ vựng và kĩ năng sử dụng từ ngữ đạt được lúc 5 tuổi trội hơn hẳn so với trẻ
được can thiệp muộn hơn [29].
Nghiên cứu của Betty Vohr (2011) và các cộng sự đặc biệt khẳng định vai trò của
can thiệp sớm như sau: TKT có mức độ suy giảm thính lực khác nhau nếu được can
thiệp sớm trước 3 tháng tuổi thì có sự phát triển vốn từ vựng nhanh và lớn hơn
nhiều so với trẻ can thiệp sau 3 tháng [20].
Kết quả nghiên cứu của Hammes và các cộng sự (2002) chỉ ra rằng, TKT được cấy
ĐCÔT khoảng 9 – 18 tháng tuổi thì sau 6 tháng tác động tích cực có sự phát triển
ngôn ngữ nói (ngôn ngữ diễn đạt, ngôn ngữ tiếp nhận và các kĩ năng ngôn ngữ)
tương tự những trẻ nghe bình thường. TKT được cấy ĐCÔT trước 18 tháng tuổi thu
được kết quả tốt nhất[25]. Một minh chứng khác là kết quả nghiên cứu của Svirsky
và các cộng sự (2004) cho thấy: TKT được cấy ĐCÔT khoảng 1 – 2 tuổi có sự phát
triển ngôn ngữ tốt hơn trẻ cấy ĐCÔT sau 2 tuổi [32].
Yoshinaga-Itano và các cộng sự (2010) cho rằng một số TKT cấy ĐCÔT có thể học
ngôn ngữ nhanh hơn những trẻ nghe bình thường khác, do vậy, trẻ có thể “bắt kịp”
sự chậm trễ về mặt ngôn ngữ đã xảy ra trước khi trẻ được cấy ĐCÔT và trẻ có thể
đạt được sự phát triển ngôn ngữ phù hợp với tuổi khi trẻ 4 đến 7 tuổi [22].
Như vậy các nghiên cứu đã chỉ ra rằng phương tiện trợ thính có vai trò quan trọng
trong việc phát triển ngôn ngữ nói cho TKT. Nếu được phát hiện sớm, được hỗ trợ
phương tiện trợ thính và được can thiệp sớm thì trẻ có thể đạt được sự phát triển
ngôn ngữ tốt nhất.
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về hướng tiếp cận về hướng phát triển
ngôn ngữ, giao tiếp cho TKT như: phương pháp tiếp cận Thính giác – lời nói,
phương pháp tiếp cận thính giác – hình miệng, phương pháp tiếp cận song ngữ,
phương pháp tiếp cận giao tiếp tổng hợp. Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi lựa
chọn Phương pháp tiếp cận Thính giác – lời nói.
Phương pháp tiếp cận Thính giác – lời nói (Auditory verbal therapy – AVT) là

đào tạo một đội ngũ chuyên gia đầu tiên về giáo dục TKT. Sau đó, mô hình can
thiệp sớm TKT được triển khai ở nhiều tỉnh thành trên toàn quốc. Phương châm
giáo dục của dự án: “Tập trung phát triển khả năng nghe, nói cho TKT nhờ sự hỗ
trợ của MTT”.
Đến những năm gần đây thì dịch vụ chăm sóc thính học ở Việt Nam đã được phát
triển hơn. TKT không chỉ được tiếp cận với MTT mà còn được tiếp cận với các
phương tiện trợ thính hiện đại khác nhau mà còn được tiếp cận với ĐCÔT – một
phương trợ thính hiện đại và hiệu quả nhất trong việc giúp trẻ phục hồi khả năng
nghe và phát triển ngôn ngữ nói. Điện cực ốc tai được đưa vào Việt Nam từ năm
1998 và thực hiện ca cấy ghép đơn kênh đầu tiên ở Viện Nhi đồng 1 Thành phố Hồ
Chí Minh do các bác sỹ của hãng All Hear. Đến năm 2000 bắt đầu thực hiện cấy ốc
tai đa kênh [35]. Cho đến nay việc thực hiện cấy điện cực ốc tai đã được thực hiện
rộng khắp ở miền Bắc và miền Nam tại các bệnh viện lớn như bệnh viện Nhi Trung
Ương Hà Nội, bệnh viện Đại học Y Hà Nội, bệnh viện Hồng Ngọc, bệnh viện Nhi
Đồng 1 Thành phố Hồ Chí Minh,… với điện cực chủ yếu của hai hãng Cochlear và
Medel. Song song với sự phát triển của các dịch vụ thính học thì các dịch vụ can
thiệp cũng được phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là các thành phố lớn như Hà Nội, Sài
Gòn.
Đáp ứng nhu cầu giáo dục TKT, các nhà khoa học, giáo dục ngày càng quan tâm
hơn đến việc phát triển ngôn ngữ, giao tiếp cho TKT. Trong báo cáo thực trạng can
thiệp sớm (CTS) cho TKT (8/2000), Nguyễn Thị Hoàng Yến đã nhận định: TKT đeo

9


MTT trước 2 tuổi là cần thiết, với sự tác động phù hợp thì ngôn ngữ của trẻ sẽ phát
triển tốt [19]. Tác giả Trần Thị Thiệp (2004) cho rằng quá trình phát triển ngôn ngữ,
giao tiếp ở TKT sẽ gặp nhiều khó khăn nếu không được chăm sóc và can thiệp tốt về
mặt thính học [16].
Tác giả Vương Hồng Tâm (2003) đã nhận định rằng, sử dụng phương pháp tiếp cận


1.2. Cơ sở lý luận về trẻ khiếm thính và phương tiện trợ thính
1.2.1. Trẻ khiếm thính
1.2.1.1. Khái niệm "trẻ khiếm thính"
Ngành y sử dụng thuật ngữ “điếc” để chỉ sự suy giảm hoặc mất toàn bộ hay một
phần sức nghe ở người. Trong giáo dục sử dụng thuật ngữ ‘khiếm thính” thay cho
thuật ngữ “điếc”, “khuyết tật thính giác”.
Theo quan điểm giáo dục chúng tôi hiểu: trẻ khiếm thính là những trẻ bị suy giảm
sức nghe ở các mức độ khác nhau dẫn đến khó khăn về ngôn ngữ và giao tiếp,
ảnh hưởng đến quá trình nhận thức [12].
1.2.1.2. Phân loại, mức độ khiếm thính
Có nhiều cách để phân loại TKT như: phân loại theo mức độ suy giảm thính lực,
phân loại theo thời gian xuất hiện tật điếc, phân loại theo vị trí tổn thương của cơ
quan thính giác. Cách phân loại được sử dụng chủ yếu trong ngành giáo dục là phân
loại theo khả năng nghe còn lại. Căn cứ vào khả năng nghe còn lại được đo bằng âm
thanh đơn trong dải tần từ 500Hz đến 4000Hz, khiếm thính được chia thành 4 mức
độ sau [12]:
Mức độ

Bảng 1.1: Khả năng nghe của trẻ khiếm thính
Khả năng nghe

- Mức 1: Điếc nhẹ (từ - Trẻ còn nghe được hầu hết các âm thanh nhưng không
20 – 40 dB)
nghe được tiếng nói thầm.
- Mức 2: Điếc vừa (từ - Trẻ có thể nghe được các âm thanh to, không nghe được
41 – 70 dB)
tiếng nói chuyện bình thường.
- Mức 3: Điếc nặng (từ
- Trẻ chỉ nghe được tiếng nói to sát tai.

điểm nổi bật nào đó mà trẻ tiếp xúc [17].
Đối với TKT cảm giác vận động và xúc giác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
việc tiếp nhận ngôn ngữ. Cảm giác vận động là phương thức duy nhất giúp TKT
kiểm tra sự phát âm dựa trên cảm giác rung, nhận được từ hoạt động của bộ máy
phát âm. Cảm giác xúc giác – rung có nét độc đáo và đặc trưng. Nó là phương tiện
trợ giúp quan trọng trong việc hình thành và phát triển ngôn ngữ của TKT [17].
- Đặc điểm trí nhớ của trẻ khiếm thính
TKT có khả năng ghi nhớ có chủ định về vị trí của các đồ vật không thua kém so với
trẻ bình thường. Khả năng ghi nhớ bằng lời của trẻ hạn chế, chủ yếu trẻ tái tạo lại bằng
ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ. Ghi nhớ có ý nghĩa của TKT không bền vững [17].
- Đặc điểm tư duy của trẻ khiếm thính
Tư duy trực quan hành động cụ thể ở TKT phát triển khá bình thường, nhưng tư duy trừu
tượng ở TKT gặp nhiều khó khăn. Thao tác tư duy của trẻ cũng gặp nhiều khó khăn, đặc
biệt là thao tác khái quát hóa và trừu tượng hóa [17].
- Đặc điểm tưởng tượng của trẻ khiếm thính
Khả năng tưởng tượng gắn liền với hình ảnh ở TKT phát triển như những trẻ bình
thường. Trẻ gặp khó khăn khi tưởng tượng tái tạo những sự kiện lịch sử và tưởng

12


tượng sự vật, hiện tượng mà trẻ chưa được trực quan. Do những hạn chế về nghe nên
khả năng tưởng tượng sáng tạo của TKT gặp khó khăn, đặc biệt là việc tiếp thu
những kiến thức tự nhiên, văn học. Tưởng tượng sáng tạo gắn liền với tri giác nhìn và
thao tác hành động ở trẻ khá tốt. [17]
- Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ khiếm thính
Sự phát triển ngôn ngữ của TKT phụ thuộc vào các yếu tố: thời điểm và mức độ mất
thính lực. Sự tổn thương chức năng nghe càng sớm thì khả năng phát triển ngôn ngữ
càng hạn chế, được thể hiện ở các yếu tố cấu thành ngôn ngữ như: thiếu về ngữ âm,
sai lệch về ngữ pháp, rời rạc về ngữ điệu, nghèo nàn về từ vựng…Trong trường hợp


Ở người bình thường, âm thanh thu nhận được không bị méo mó, nguyên vẹn. Sau
khi được xử lý và tạo thành tiếng nói qua cơ quan phát âm. Âm thanh phát ra được
tròn tiếng, rõ ràng. Nhưng ở người khiếm thính, do bị suy giảm về thính lực nên âm
thanh đầu vào không đầy đủ khiến cho việc xử lý tín hiệu âm thanh và tạo ra các âm
sẽ bị méo mó. Do vậy khi đeo MTT, TKT cần được luyện nghe để có khả năng cảm
nhận, nhận diện, phân biệt âm thanh và kết hợp với luyện tập bộ máy cấu âm sao
cho luồng hơi đi ra vừa đủ để tiếng nói được sản sinh cũng như giữ hơi thở, nhịp
điệu sao cho câu nói được diễn đạt đầy đủ, không bị ngắt quãng.
Đặc điểm suy giảm thính lực, ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ của TKT [30]:
Khả năng nghe phải đạt được ở tần số 3000Hz thì mới có thể nghe được các nguyên
âm. Khả năng nghe phải đạt được ở tần số 6.000 Hz thì mới có thể nghe được các
phụ âm.
1.2.2 Ốc tai điện tử
1.2.2.1. Khái niệm ốc tai điện tử
Dưới đây là một số quan điểm về ốc tai điện tử:
Ốc tai điện tử (Cochlear Implants) là thiết bị biến đổi năng lượng âm thanh thành
dấu hiệu điện kích thích lên thần kinh ốc tai của những cá thể điếc sâu. [33]
Ốc tai điện tử là một thiết bị vi mạch điện tử cấy vào trong ốc tai giúp cho bệnh
nhân bị điếc nặng có thể nghe được nhờ vào một hệ thống tiếp nhận, dẫn truyền và
khuếch đại các âm thanh từ môi trường bên ngoài vào đến ốc tai và truyền các tín
hiệu điện lên não giúp cho bệnh nhân nghe được.[33]
Theo giáo dục có thể hiểu: ÔTĐT là một thiết bị điện tử được cấy bên trong ốc
tai có tác dụng tiếp nhận, khuếch đại và truyền tín hiệu điện lên não giúp
người khiếm thính có thể tiếp nhận và xử lý âm thanh.
1.2.2.2 Cấu tạo ốc tai điện tử

14



3. Các xung điện được truyền tới điện dãy điện cực đặt trong ốc tai.
4. Các điện cực kích thích dây thần kinh thính giác, não bộ thu nhận tín hiệu âm
thanh. [34]
1.3 Đặc điểm nghe hiểu ngôn ngữ của trẻ khiếm thính cấy điện cực ốc tai
1.3.1 Đặc điểm nghe hiểu ngôn ngữ của trẻ từ 3 – 6 tuổi
Theo Đinh Hồng Thái, ở mỗi giai đoạn, lứa tuổi phát triển trẻ có khả năng nghe
hiểu ở từng nội dung là khác nhau. Tương ứng với từng giai đoạn phát triển, tác giả
có những tổng kết như sau: [15]
Với trẻ từ 3 – 36 tháng, khả năng nghe hiểu của trẻ là:
Nghe và phân biệt các giọng nói, giọng điệu khác nhau;
Nghe những từ, cụm từ và câu đơn giản chỉ sự vật, sự việc quen thuộc;
Nghe những bài thơ, đoạn văn vần, bài hát, chuyện kể ngắn có nội dung đơn giản,
phù hợp với trẻ;
Nghe và hiểu nghĩa một số từ, câu nói đơn giản;
Biểu hiện thái độ phù hợp với giọng nói và giọng điệu khác nhau như: nựng yêu,
cáu gắt…
Các mức độ ở từng nội dung nghe hiểu được phân chia cụ thể theo từng lứa tuổi
như sau:
Nội dung

Bảng 1.2: Nội dung nghe hiểu cho trẻ mầm non
3 – 12 tháng
13 – 24 tháng
25 – 36 tháng

Nghe hiểu Các giọng điệu khác Các âm thanh khác
nhau như: âu yếm, vui nhau: các đồ vật,
đùa,…
tiếng kêu của các con
vật,..

một số yêu cầu bằng
lời nói của người lớn

Các từ chỉ đồ vật, sự
vật, hành động, tính
chất, trạng thái của
chúng
Các bài thơ, đồng
dao, ca dao, câu đố,
bài hát và câu chuyện
ngắn

Các từ chỉ đồ vật, sự
vật, hành động gần Các câu hỏi đơn giản:
gũi
Cái gì đây? Để làm
gì? Con gì đây? Kêu
Các câu hỏi đơn giản:
thế nào? Làm gì đấy?
Đâu? Cái gì đây? Con
gì đây? Kêu thế nào?
Làm gì đấy?

Ở trẻ từ 3 – 6 tuổi, các yêu cầu về khả năng nghe hiểu đã được nâng cao như:
Nghe hiểu người khác nói và phân biệt được các giọng nói, giọng điệu khác nhau;
Nghe hiểu những từ, câu;
Nghe hiểu nội dung các lời nói;
Nghe hiểu những câu chuyện, bài hát, bài thơ phù hợp với độ tuổi;
Biểu hiện thái độ thích hợp khi nghe.
Tương ứng với từng nội dung, thì khả năng nghe hiểu của trẻ ở từng độ tuổi được

nghĩa, trái nghĩa

3. Nghe hiểu lời - Nghe và làm theo - Nghe và làm theo hai lời chỉ dẫn liên
nói
1 lời chỉ dẫn
tiếp nhau trở lên
- Nghe hiểu nội - Nghe hiểu nội dung giao tiếp bằng các
dung các câu đơn, câu ghép
câu đơn mở rộng
trong giao tiếp
4. Nghe hiểu nội - Nghe hiểu nội dung truyện kể, truyện đọc, văn vần phù hợp
dung câu chuyện
- Nghe hiểu những truyện dân gian, ca dao, đồng dao, tục ngữ
phù hợp
- Nghe nội dung chuyện và liên hệ với
bản thân
5. Thái độ phù hợp Lắng nghe khi Lắng nghe chăm chú và không ngắt lời
khi lắng nghe
người khác nói
khi người khác nói
Lắng nghe chăm chú sau đó đáp lại

Như vậy, có thể thấy, yêu cầu nghe hiểu cho từng lứa tuổi, giai đoạn phát triển của
trẻ là khác nhau. Trẻ càng lớn thì các yêu cầu nghe hiểu càng cao: không chỉ đơn
giản là phân biệt được các giọng nói có sắc thái biểu cảm khác nhau, các câu nói
đơn giản trong giao tiếp hàng ngày, mà trẻ càng lớn thì yêu cầu nghe hiểu ngày càng
phức tạp hơn như: nghe hiểu câu ghép, mệnh lệnh kép, truyện kể, bài thơ phù hợp
với lứa tuổi, có thái độ phù hợp khi nghe… Việc nắm rõ yêu cầu nghe hiểu cho từng
độ tuổi sẽ giúp giáo viên, phụ huynh có kế hoạch hỗ trợ, phát triển ngôn ngữ phù
hợp cho con em mình.

vào cái cốc.
hiện mình hiểu một
- Lặng im với
số đồ vật bằng - Hiểu về kích
giọng nói quen
cách chỉ.
thước như to/ nhỏ.
thuộc.
- Hiểu các cụm từ - Hiểu về giới từ
- Đôi khi phản ứng
tương đương.
chỉ vị trí như:
khi nghe gọi tên
Trong, trên, dưới.
mình.
- Bắt đầu nhận ra
tên các bộ phận cơ - Hiểu về khái
- Phân biệt giữa
thể, ví dụ: tay, mắt. niệm số lượng như
giọng nói tức giận
1 hay tất cả.
hay trì mến, ví dụ - Thích thú giai
khóc khi nghe thấy điệu.
- Hiểu đại từ nhân
giọng nói gay gắt.
xưng như: Anh ấy,
- Hiểu các câu hỏi
nó, chúng nó.
- Đáp trả với cử chỉ đơn giản.
tay phù hợp với

từ.
triển các khái niệm
- Thường xuyên - Nhận diện một số
hơn dừng hoạt quần áo, đồ chơi,
động khi nghe từ “ thức ăn.
không.
- Thực hiện được 2
- Có đôi lúc đưa đồ yêu cầu với cùng
chơi cho người lớn một đồ vật.

- Hiểu được các
khái niệm khó hơn
như: chất lượng, số
lượng, chất liệu.
- Hiểu khái
ngày/ đêm,
biệt các hoạt
khác nhau ở
và đêm.

niệm
phân
động
ngày

- Theo hướng dẫn
với các khái niệm:
rỗng/ đầy, giống/
khác.
- Hiểu giới từ chỉ



khi được yêu cầu.

- Lựa chọn ra đúng Hôm nay, ngày
2 món đồ quen mai.
- Có lúc làm theo
thuộc.
mệnh lệnh đơn
- Hiểu được câu
giản như đặt nó - Hiểu được cụm hỏi: Cái gì không
xuống.
từ hành động.
có ở đây? Cái gì
không thuộc về đồ
- Đáp ứng với âm - Chỉ ra đúng các
này?
nhạc bằng chuyển bộ phận cơ thể, ví
động của cơ thể, dụ: cằm, má.
tay thích hợp.
- Bắt đầu hiểu đại
- Thể hiện có hiểu từ nhân xưng – của
các yêu cầu nghe con, mẹ.
được bằng cử chỉ
- Nhận ra các từ
của đầu, cơ thể.
mới hàng ngày.

tốc
độ,

20


và âm nhạc. Các lợi ích có thể ảnh hưởng khác nhau đối với mỗi người tùy thuộc vào:
độ tuổi, mức độ và thời gian mất thính lực, tình trạng của ốc tai và các điều kiện y
khoa khác. Cấy ĐCOT giúp trẻ khiếm thính:[33]
Nghe được âm thanh hằng ngày
Gần như tất cả những trẻ cấy ghép ĐCOT đều nghe được âm thanh bên ngoài, giúp họ
giữ liên lạc với xung quanh, ví dụ như: âm thanh xe cộ, chuông cửa, báo động, v.v. Hầu
hết trẻ cấy ĐCOT đều nói rằng họ nghe được nhiều âm thanh hằng ngày có khác biệt rõ
ràng, như tiếng chim hót, tiếng lá xào xạc, tiếng nước chảy nhỏ giọt và nhiều hơn nữa.
Việc lắng nghe được các âm thanh cuộc sống hàng ngày là tiền đề cho trẻ nghe, hiểu
lời nói, phát triển ngôn ngữ nói tự nhiên như những trẻ khác.
Hiểu được giọng nói
Các nhà khoa học đã chứng minh, đa số những trẻ cấy ghép ĐCOT nghe được giọng
nói. Để phát triển được ngôn ngữ nói sau cấy, đòi hỏi trẻ cấy ghép ĐCOT phải được
hỗ trợ, can thiệp tích cực và hiệu quả. Qua quá trình can thiệp, trẻ hình thành được
các kĩ năng lắng nghe, hiểu được giọng nói. Dần dần trẻ tích lũy được kinh nghiệm
cho bản thân nên việc lắng nghe, hiểu giọng nói trở nên dễ dàng hơn. Từ đây, ngôn
ngữ nói của trẻ được phát triển cả về lượng và chất theo qui luật thông thường. Nhiều
trẻ cấy ĐCOT có khả năng ngôn ngữ rất tốt mà không cần dựa trên việc đọc hình
miệng. Với sự hỗ trợ của ĐCOT, trẻ có thể diễn đạt, giao tiếp với người khác hay
nghe được chính giọng nói của mình. Điều này giúp cho khả năng diễn đạt ngôn ngữ
nói của trẻ được cải thiện đáng kể.
Sử dụng được điện thoại
Với sự phát triển tinh vi về khoa học kĩ thuật, đa dạng số kênh nên trẻ cấy ĐCOT có
thể nghe âm thanh của môi trường xung quanh. Kĩ năng nghe và ngôn ngữ nói phát
triển tốt nên trẻ khiếm thính có khả năng sử dụng điện thoại cố định và di động.
Nghe nhạc
Cấy ghép ốc tai điện tử không chỉ giúp trẻ sử dụng được điện thoại như những người

TKT trước khi cấy ĐCOT ở mức độ điếc sâu, hầu như không nghe thấy âm thanh
lời nói. Sau khi cấy ĐCOT ngưỡng nghe của trẻ sẽ thấp xuống. Nhưng trẻ không thể
nghe thấy âm thanh ngay được vì trẻ chưa có kinh nghiệm nghe và chưa nghe được
âm thanh.
Các nghiên cứu khoa học cho thấy ngay từ khi nằm trong bụng mẹ trẻ đã có thể
nghe được âm thanh và có thể phản ứng lại với các âm thanh nghe được. Con đường
nghe của trẻ phát triển một cách tự nhiên. Còn với trẻ cấy ĐCOT việc nghe sẽ khác
với trẻ bình thường:
- Trẻ bình thường nghe thông qua việc tiếp nhận âm thanh một cách tự nhiên.
- Trẻ đeo máy trợ thính nghe qua máy trợ thính.
- Trẻ cấy ĐCOT nghe qua các thiết bị ốc tai điện tử.
- Nguyên lý nghe của tai nghe bình thường khác với nguyên lý nghe của điện cực ốc
tai. Tai nghe bình thường là có sự rung động của các tế bào lông tạo nên các điện
thế hoạt động kích thích dây thần kinh thính giác qua đó tới não bộ để phân tích và
phản hồi lại. Còn cấy ĐCOT là bộ phận cấy sẽ truyền các tín hiệu đến các điện cực
nằm trong ốc tai, thần kinh thính giác sẽ thu nhận các tín hiệu và truyền nó đến não,
não sẽ nhận biết tín hiệu này như là âm thanh.

22


Trước khi cấy ĐCOT hầu như trẻ bị điếc sâu không nghe thấy âm thanh, trẻ không
có kinh nghiệm nghe và máy trợ thính cũng không có tác dụng với trẻ. Nhưng sau
khi cấy ngưỡng nghe của trẻ giảm xuống. Trẻ có thể nghe thấy âm thanh nhưng phải
tập luyện. Vì những gì trẻ nghe thấy là các tín hiệu, nên luyện nghe nhiều lần trẻ sẽ
có kỹ năng nghe. Do vậy trẻ sau khi cấy ốc tai nên tiến hành luyện nghe càng sớm
càng tốt, trẻ càng có cơ hội phát triển ngôn ngữ. Trẻ cũng rèn luyện và dần hình
thành kỹ năng nghe bằng ốc tai điện tử.
Trẻ nghe (bình thường) học ngôn ngữ trong môi trường giàu âm thanh lời nói. Sau
khi có những kỹ năng tiếp nhận tiếng nói, các kỹ năng biểu đạt bằng lời nói dần dần



cũng được tích lũy dần và khả năng xử lý các thông tin nghe được ngày càng nhanh
và tinh tế hơn. [9]
Chúng ta điều biết rằng chúng ta nghe được khi âm thanh đến ốc tai và được thần
kinh thính giác truyền đến thông tin thính giác của não bộ . Khi âm thanh lời nói
đến não, tiến trình lắng nghe và hiểu ngôn ngữ lời nói bắt đầu xảy ra.
Trẻ càng có nhiều kinh nghiệm lắng nghe thì càng giỏi nhận ra và hiểu âm thanh. Âm
thanh lời nói là một trong những âm thanh quan trọng và có ý nghĩa nhất đối với trẻ, và
cũng là một trong những âm thanh phức tạp và khó hiểu nhất .Lời nói có thể là từ, câu
hay đoạn hình thành từ một loạt những âm đơn.
Để trẻ hiểu lời nói, trước hết âm thanh lời nói phải được chuyển tới não của trẻ. Khi
âm thanh lời nói đến não, trung tâm thính giác của não phải có khả năng dịch nghĩa,
hoặc thực hiện một loạt chức năng làm cho âm thanh đó có ý nghĩa.
Với TKT cấy ĐCOT cũng vậy. Quá trình hình thành kĩ năng nghe và phát triển
ngôn ngữ nói cũng theo qui luật phát triển chung ở trẻ bình thường. Nhưng điều đặc
biệt và quan trọng là người lớn cần tạo được điều kiện thuận lợi để trẻ có thể làm
quen với chiếc tai mới và sử dụng chúng. Do đó để phát triển được ngôn ngữ nói
cho trẻ cần thời gian luyện tập để có thể hình thành các kĩ năng nghe, nói. Điều đó
đòi hỏi người chăm sóc, nhà giáo dục cần tạo được môi trường nghe cũng như môi
trường ngôn ngữ nói tự nhiên thuận lợi để trẻ có phát triển khả năng nghe hiểu ngôn
ngữ nói.
Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng nghe nói của trẻ khiếm thính sau cấy điện
cực ốc tai
Khả năng phát triển khả năng nghe – hiểu lời nói của TKT sau cấy ĐCOT phụ thuộc
vào nhiều yếu tố:
Thời điểm mất thính lực của trẻ. Trẻ mất thính lực sau khi có ngôn ngữ thì khi cấy
ĐCOT có khả năng phát triển ngôn ngữ nói hơn trẻ mất thính lực trước khi có ngôn ngữ;
Chất lượng hiệu chỉnh giúp trẻ có thể đạt tối đa sức nghe sau cấy ĐCOT là một trong
những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nghe, chất lượng lời nói và khả năng hiểu




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status