MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Từ gốc
1
TKT
Trẻ khiếm thính
2
ĐCOT
Máy trợ thính
3
NNKH
Ngôn ngữ kí hiệu
4
CTS
thiểu những khó khăn do khuyết tật mang lại cho người khuyết tật. Cấy điện cực ốc tai
cho người khiếm thính là một trong những thành tựu đó. Ngày nay điện cực ốc tai
phát triển có thể đạt 24 kênh và đáp ứng hết các dải tần của âm thanh lời nói. Trẻ
khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai, luyện tập và hiệu chỉnh máy có thể đạt sức
nghe từ 25 – 35 dB, gần như tương đương với sức nghe của người bình thường.[22]
Thực tế trên thế giới và ở Việt Nam đều cho thấy điện cực ốc tai có hiệu quả
cho những người khiếm thính ở mức độ nặng và sâu trong việc phục hồi khả năng
nghe nói. Đặc biệt với công nghệ và kĩ thuật ngày càng được cải biến tinh vi, điện
cực ốc tai giờ có thể áp dụng cấy cho trẻ 6 tháng tuổi. Do đó trẻ có nhiều cơ hội để
phát triển ngôn ngữ. Nhưng nếu trẻ khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai không được
tác động giáo dục đúng cách và kịp thời thì điện cực ốc tai không phát huy tác dụng
lý tưởng. Thực tế cho thấy vấn đề phát huy khả năng nghe và phát triển ngôn ngữ
lời nói trẻ sau cấy điện cực ốc tai ở Việt Nam nói chung, khu vực phía Bắc và Hà
2
2
Nội nói riêng chưa có sự đồng nhất về phương pháp và còn nhiều bất cập. Ngôn
ngữ nói của trẻ khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai chưa thực sự được hình thành
và phát triển một cách tự nhiên. Mặc dù trẻ vẫn được can thiệp và hỗ trợ thường
xuyên nhưng một nhóm trẻ khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai có ngôn ngữ hiểu
và ngôn ngữ lời nói còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với khả năng nghe.
Theo khảo sát ban đầu tại một số cơ sở hỗ trợ cho trẻ khiếm thính cấy điện
cực ốc tai tại Hà Nội thì việc áp dụng các phương pháp để phát triển ngôn ngữ nói
cho trẻ (bao gồm cả phương pháp AVT) chưa thống nhất và đúng cách. Do đó,
chúng tôi lựa chọn đề tài “Bài tập phát triển khả năng nghe – hiểu ngôn ngữ lời
nói cho trẻ khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai” làm đề tài nghiên cứu, góp phần
giúp trẻ khiếm thính được phát huy tối đa khả năng nghe để hình thành, phát triển
ngôn ngữ nói một cách tự nhiên sau cấy điện cực ốc tai.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ đề xuất một số bài tập nhằm nhằm phát triển khả năng nghe – hiểu
ngôn ngữ lời nói cho trẻ khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai.
- Địa bàn nghiên cứu: Một số trường mầm non, cơ sở can thiệp sớm có trẻ
khiếm thính cấy điện cực ốc tai đang theo học: Phòng thực nghiệm Giáo dục đặc biệt
– Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, trường mầm non thực nghiệm Linh Đàm.
- Đối tượng nghiên cứu: 5 TKT cấy điện cực ốc tai; 8 giáo viên can thiệp
sớm.
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG NGHE –
HIỂU LỜI NÓI CHO TRẺ KHIẾM THÍNH SAU CẤY ĐIỆN CỰC ỐC TAI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Thế giới
Máy trợ thính ra đời đánh dấu một bước ngoặt lớn trong việc hỗ trợ người
khiếm thính phục hồi khả năng nghe nói. Nhưng không dừng lại ở đó, các nhà khoa
học vẫn không ngừng nghiên cứu để tìm ra phương tiện hữu hiệu hơn giúp những
người khiếm thính ở mức độ nặng và sâu cũng có thể phục hồi khả năng nghe nói
một cách tốt nhất. Ý tưởng đầu tiên xuất hiện năm 1790 khi Alessandro Volta (Ý)
phát hiện ra việc kích thích điện lên hệ thống thính giác tạo ra khả năng tiếp nhận
âm thanh, đến năm 1950, Algerie Adre Djourno và Charles Eyries (Pháp) thực hiện
kích thích trực tiếp lên thần kinh thính giác với một điện cực, nhưng bệnh nhân của
ông chỉ nghe được tiếng ồn. Năm 1961 Tiến sĩ William House, John Doyle (nhà
4
4
giải phẫu thần kinh) và James Doyle ( kỹ sư điện) bắt đầu làm việc trên một thiết bị
kênh đơn ở Los Angeles. Graeme Clark (Úc) phát triển một thiết bị đa kênh kích
thích ốc tai năm 1970 và đã thực hiện cấy ghép trên bệnh nhân đầu tiên tên là Rod
5
5
Mặc dù việc cấy điện cực ốc tai được đưa vào Việt Nam khá lâu nhưng cho đến
nay vẫn chưa có nghiên cứu sâu nào về tác động giáo dục nhằm phát triển nhận
thức và khả năng ngôn ngữ nói cho trẻ khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Trẻ khiếm thính
1.2.1.1. Khái niệm "trẻ khiếm thính"
Ngành y sử dụng thuật ngữ “điếc” để chỉ sự suy giảm hoặc mất toàn bộ hay
một phần sức nghe ở người. Trong giáo dục sử dụng thuật ngữ ‘khiếm thính” thay
cho thuật ngữ “điếc”, “khuyết tật thính giác”.
Theo quan điểm giáo dục chúng tôi hiểu: trẻ khiếm thính là những trẻ bị
suy giảm sức nghe ở các mức độ khác nhau dẫn đến khó khăn về ngôn ngữ và
giao tiếp, ảnh hưởng đến quá trình nhận thức [7].
1.2.1.2. Phân loại, mức độ khiếm thính
Có nhiều cách để phân loại TKT như: phân loại theo mức độ suy giảm thính
lực, phân loại theo thời gian xuất hiện tật điếc, phân loại theo vị trí tổn thương của
cơ quan thính giác. Cách phân loại được sử dụng chủ yếu trong ngành giáo dục là
phân loại theo khả năng nghe còn lại. Căn cứ vào khả năng nghe còn lại được đo
bằng âm thanh đơn trong dải tần từ 500Hz đến 4000Hz, khiếm thính được chia
thành 4 mức độ sau [7]:
Mức
- Mức 1: Điếc nhẹ (từ 20 – 40 dB)
- Mức 2: Điếc vừa (từ 41 – 70 dB)
- Mức 3: Điếc nặng (từ 71 – 90 dB)
- Mức 4: Điếc sâu (trên 90 dB)
Việc xác định mức độ thính lực cho TKT có ý nghĩa thực tiễn cao giúp việc
tiện trợ giúp quan trọng trong việc hình thành và phát triển ngôn ngữ của TKT [13].
- Đặc điểm trí nhớ của trẻ khiếm thính
TKT có khả năng ghi nhớ có chủ định về vị trí của các đồ vật không thua kém
so với trẻ bình thường. Khả năng ghi nhớ bằng lời của trẻ hạn chế, chủ yếu trẻ tái tạo
lại bằng ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ. Ghi nhớ có ý nghĩa của TKT không bền vững [13].
- Đặc điểm tư duy của trẻ khiếm thính
Tư duy trực quan hành động cụ thể ở TKT phát triển khá bình thường, nhưng tư
duy trừu tượng ở TKT gặp nhiều khó khăn. Thao tác tư duy của trẻ cũng gặp nhiều khó
khăn, đặc biệt là thao tác khái quát hóa và trừu tượng hóa [13].
- Đặc điểm tưởng tượng của trẻ khiếm thính
Khả năng tưởng tượng gắn liền với hình ảnh ở TKT phát triển như những trẻ
bình thường. Trẻ gặp khó khăn khi tưởng tượng tái tạo những sự kiện lịch sử và
tưởng tượng sự vật, hiện tượng mà trẻ chưa được trực quan. Do những hạn chế về
nghe nên khả năng tưởng tượng sáng tạo của TKT gặp khó khăn, đặc biệt là việc tiếp
thu những kiến thức tự nhiên, văn học. Tưởng tượng sáng tạo gắn liền với tri giác
nhìn và thao tác hành động ở trẻ khá tốt. [13]
- Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ khiếm thính
7
7
Sự phát triển ngôn ngữ của TKT phụ thuộc vào các yếu tố: thời điểm và
mức độ mất thính lực. Sự tổn thương chức năng nghe càng sớm thì khả năng phát
triển ngôn ngữ càng hạn chế, được thể hiện ở các yếu tố cấu thành ngôn ngữ như:
thiếu về ngữ âm, sai lệch về ngữ pháp, rời rạc về ngữ điệu, nghèo nàn về từ vựng…
Trong trường hợp trẻ bị mất thính lực ở mức độ nặng hoặc sâu, ngôn ngữ nói có thể
hình thành và phát triển nhưng chỉ khi trẻ được giáo dục tốt dưới sự hướng dẫn của
cha mẹ, giáo viên.
TKT cũng như trẻ bình thường, không thể thiếu nhu cầu giao tiếp với thế giới
ra được tròn tiếng, rõ ràng. Nhưng ở người khiếm thính, do bị suy giảm về thính
lực nên âm thanh đầu vào không đầy đủ khiến cho việc xử lý tín hiệu âm thanh và
tạo ra các âm sẽ bị méo mó. Do vậy khi đeo MTT, TKT cần được luyện nghe để có
khả năng cảm nhận, nhận diện, phân biệt âm thanh và kết hợp với luyện tập bộ máy
cấu âm sao cho luồng hơi đi ra vừa đủ để tiếng nói được sản sinh cũng như giữ hơi
thở, nhịp điệu sao cho câu nói được diễn đạt đầy đủ, không bị ngắt quãng.
Đặc điểm suy giảm thính lực, ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ của
TKT [20]: Khả năng nghe phải đạt được ở tần số 3000Hz thì mới có thể nghe được
các nguyên âm. Khả năng nghe phải đạt được ở tần số 6.000 Hz thì mới có thể nghe
được các phụ âm.
1.2.2. Điện cực ốc tai (ĐCOT)
1.2.2.1. Khái niệm "điện cực ốc tai"
Dưới đây là một số quan điểm về ĐCOT:
Điện cực ốc tai (Cochlear Implants) là thiết bị biến đổi năng lượng âm thanh
thành dấu hiệu điện kích thích lên thần kinh ốc tai của những cá thể điếc sâu. [22]
Ốc tai điện tử là một thiết bị vi mạch điện tử cấy vào trong ốc tai giúp cho
bệnh nhân bị điếc nặng có thể nghe được nhờ vào một hệ thống tiếp nhận, dẫn
truyền và khuếch đại các âm thanh từ môi trường bên ngoài vào đến ốc tai và
truyền các tín hiệu điện lên não giúp cho bệnh nhân nghe được.[24]
Theo giáo dục có thể hiểu: ĐCOT là một thiết bị điện tử được cấy bên
trong ốc tai có tác dụng tiếp nhận, khuếch đại và truyền tín hiệu điện lên não
giúp người khiếm thính có thể nghe và phát triển được ngôn ngữ nói.
1.2.2.2. Hệ thống ĐCOT
* Cấu tạo
9
9
các tín hiệu thành xung điện
3. Các xung điện được truyền tới điện dãy điện cực đặt trong ốc tai.
4. Các điện cực kích thích dây thần kinh thính giác, não bộ thu nhận tín hiệu âm
thanh.
1.2.2.3. Lợi ích của việc cấy ĐCOT
Cấy ĐCOT không phải là cách chữa trị tật điếc. Tuy nhiên, cấy ghép ốc tai
điện tử có thể mang lại nhiều lợi ích, bao gồm nghe được giọng nói, âm thanh của
môi trường và âm nhạc. Các lợi ích có thể ảnh hưởng khác nhau đối với mỗi người
11
11
tùy thuộc vào: độ tuổi, mức độ và thời gian mất thính lực, tình trạng của ốc tai và các
điều kiện y khoa khác. Cấy ĐCOT giúp trẻ khiếm thính:[22]
Nghe được âm thanh hằng ngày
Gần như tất cả những người cấy ghép ĐCOT đều nghe được âm thanh bên
ngoài, giúp họ giữ liên lạc với xung quanh, ví dụ như: âm thanh xe cộ, chuông cửa,
báo động, v.v. Hầu hết người cấy ốc tai đều nói rằng họ nghe được nhiều âm thanh
hằng ngày có khác biệt rõ ràng, như tiếng chim hót, tiếng lá xào xạc, tiếng nước
chảy nhỏ giọt và nhiều hơn nữa.
Hiểu được giọng nói
Đa số những người cấy ghép ĐCOT nghe được giọng nói. Với một chương
trình hỗ trợ và can thiệp hiệu quả, trẻ được học để hiểu giọng nói và dần dần trở nên
dễ dàng hơn khi trẻ đã có kinh nghiệm. Nhiều người cấy ốc tai điện tử tiếp tục hiểu
giọng nói rất tốt, không cần dựa trên việc đọc hình miệng.
Tăng cường khả năng nói
Bằng việc nghe người khác nói chuyện cũng như nghe giọng nói của chính
mình, người cấy ghép ốc tai điện tử có thể tạo ra sự cải thiện lớn trong khả năng
nói.
tiếng trống, tiếng sấm…. Do đó luyện nghe có tác dụng tận dụng sức nghe còn lại
của trẻ. Hơn nữa, việc luyện nghe còn là điều kiện để trẻ phát triển ngôn ngữ lời
nói. TKT sau khi cấy ĐCOT khả năng nghe của trẻ rất tốt. Do vậy việc luyện nghe
lại càng đóng vai trò quan trọng đối với TKT sau khi cấy ĐCOT. Nếu được luyện
nghe, trẻ sẽ phát triển và biết tận dụng tối đa khả năng nghe còn lại của mình. Tuỳ
theo mức độ nghe của trẻ, sự can thiệp sớm hay muộn, sự phù hợp của máy trợ
thính mà khả năng nghe và ngôn ngữ nói được hình thành và phát triển ở các mức
độ khác nhau. Việc tận dụng phần còn lại của thính lực (khả năng nghe của trẻ) có
một ý nghĩa đặc biệt trong hình thành và phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ. [2]
TKT trước khi cấy ĐCOT ở mức độ điếc sâu, hầu như không nghe thấy âm
thanh lời nói. Sau khi cấy ĐCOT ngưỡng nghe của trẻ sẽ thấp xuống. Nhưng trẻ
không thể nghe thấy âm thanh ngay được vì trẻ chưa có kinh nghiệm nghe và chưa
nghe được âm thanh.
13
13
Các nghiên cứu khoa học cho thấy ngay từ khi nằm trong bụng mẹ trẻ đã có
thể nghe được âm thanh và có thể phản ứng lại với các âm thanh nghe được. Con
đường nghe của trẻ phát triển một cách tự nhiên. Còn với trẻ cấy ĐCOT việc nghe
sẽ khác với trẻ bình thường:
- Trẻ bình thường nghe thông qua việc tiếp nhận âm thanh một cách tự
nhiên.
- Trẻ đeo máy trợ thính nghe qua máy trợ thính.
- Trẻ cấy ĐCOT nghe qua các thiết bị ốc tai điện tử.
- Nguyên lý nghe của tai nghe bình thường khác với nguyên lý nghe của
điện cực ốc tai. Tai nghe bình thường là có sự rung động của các tế bào lông tạo
nên các điện thế hoạt động kích thích dây thần kinh thính giác qua đó tới não bộ để
phân tích và phản hồi lại. Còn cấy ĐCOT là bộ phận cấy sẽ truyền các tín hiệu đến
quanh, tránh các rủi ro,….Kinh nghiệm và các kĩ năng nghe có được là cơ sở tiền đề
để trẻ học nói tốt hơn. Rèn luyện thói quen tri giác âm thanh, kỹ năng nghe và sử
dụng ngôn ngữ nói với sự hỗ trợ của các phương tiện trợ thính. Thông qua luyện
nghe trẻ có thể nghe được âm thanh lời nói và phát triển ngôn ngữ một cách tự
nhiên.
1.3.2. Khả năng nghe hiểu lời nói
Khả năng nghe – hiểu lời nói là khả năng xử lý các thông tin lời nói thu
được qua bộ máy thính giác thành các tín hiệu được truyền lên não bộ, mã hóa và
thể hiện ra bên ngoài bằng tiếng nói, cử chỉ điệu bộ có ý nghĩa.
Ở trẻ bình thường, khả năng ngôn ngữ phát triển cả về lượng và về chất qua
các giai đoạn, theo các bước phát triển khác nhau, từ thấp đến cao. Khả năng hiểu
ngôn ngữ của mỗi trẻ là khác nhau. Cá nhân mỗi trẻ đều có những trải nghiệm riêng,
và trải nghiệm càng phong phú thì khả năng ngôn ngữ nói chung và khả năng hiểu
ngôn ngữ nói riêng của trẻ dày dạn và linh hoạt hơn. Do đó khả năng hiểu ngôn ngữ
nói của trẻ cũng được tích lũy dần và khả năng xử lý các thông tin nghe được ngày
càng nhanh và tinh tế hơn. [5]
Chúng ta điều biết rằng chúng ta nghe được khi âm thanh đến ốc tai và được
thần kinh thính giác truyền đến thông tin thính giác của não bộ . Khi âm thanh lời
nói đến não, tiến trình lắng nghe và hiểu ngôn ngữ lời nói bắt đầu xảy ra.
Trẻ càng có nhiều kinh nghiệm lắng nghe thì càng giỏi nhận ra và hiểu âm thanh.
Âm thanh lời nói là một trong những âm thanh quan trọng và có ý nghĩa nhất đối với trẻ,
và cũng là một trong những âm thanh phức tạp và khó hiểu nhất .Lời nói có thể là từ,
câu hay đoạn hình thành từ một loạt những âm đơn.
15
15
1.
với từ khác trong câu. Ví dụ, nếu trẻ khó nhận ra sự khác nhau giữa hai từ "hai” và
"mai”, trẻ sẽ biết mẹ đã nói từ "hai” vì trẻ cũng có nghe từ "kẹo ", vì "mai cái kẹo”
thì vô nghĩa.
Số vần: Trẻ có thể phân biệt các từ vì chúng có số vần khác nhau , chẳng hạn như
từ "airplane” và "hair” (đặc thù tiếng đa âm ).
Các nguyên âm: một số từ có phụ âm giống nhau nhưng nguyên âm khác nhau,
chẳng hạn như từ "hát” và "hót”.
Các phụ âm: một số từ có nguyên âm giống nhau nhưng phụ âm khác nhau, chẳng
hạn như từ "gạch” và "sạch”.
Ngữ điệu: trẻ có thể dựa vào sự lên xuống của độ cao giọng nói để hiểu nghĩa của
lời nói.
Độ dài: đây là độ dài của âm , từ, cụm từ hoặc câu. "Dừng lại!” ngắn hơn "Lại đây
mẹ bảo!”.
Nhịp điệu: Nhịp điệu là sự nhanh, chậm, mạnh, yếu khi người ta nói một từ, cụm từ
hay câu. Cùng một câu sẽ mang nhiều ý nghĩa khác nhau nếu được nói với các nhịp
điệu khác nhau.
Để có thể thực hiện được tất cả các gợi ý trên, TKT cần nhiều thời gian
luyện tập sử dụng chiếc tai mới và được trải nghiệm qua nhiều tình huống thực tế
để có thể tích lũy được kinh nghiệm lắng nghe, phát triển ngôn ngữ nói và hiểu
được ngôn ngữ nói. Cũng như bất cứ kỹ năng nào khác, càng thực hành nhiều thì
kỹ năng lắng nghe lời nói càng được cải thiện. Có thể trẻ sẽ chưa hiểu ngay những
điều chúng ta nói với trẻ. Những gì trẻ nghe và hiểu được sau vài tháng mang máy
trợ thính hay cấy ĐCOT mới chỉ là sự khởi đầu. Trẻ cần được hiệu chỉnh độ
khuếch đại thích hợp và nói chuyện về những điều chúng thích. Chúng ta sẽ ngạc
nhiên khi thấy trẻ sử dụng những gợi ý rất nhỏ để hiểu những điều chúng ta nói với
trẻ. [25]
1.3.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nghe – hiểu lời nói của TKT sau cấy
ĐCOT
Khả năng phát triển khả năng nghe – hiểu lời nói của TKT sau cấy ĐCOT
phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
Điều kiện nghe: TKT cần được trải nghiệm trong môi trường ngôn ngữ tự
nhiên cả ngày với âm thanh nền không quá 45 dB.
-
Việc chăm sóc thính học sau cấy cũng là nhân tố góp phần thúc đẩy quá
trình phát triển ngôn ngữ của TKT. Cho nên TKT cần được chăm sóc thính
học định kì để đảm bảo ĐCOT luôn được hoạt động và trẻ đạt được sức
nghe tốt nhất.
Việc phát triển khả năng nghe – hiểu ngôn ngữ lời nói cho TKT phụ thuộc
vào nhiều yếu tố. Phụ huynh, người chăm sóc, giáo viên cần nhận thức đúng đắn về
lợi ích, chức năng ĐCOT mang lại, các yêu cầu chăm sóc thính học và hỗ trợ sau
cấy cho trẻ cần được quan tâm để trẻ đạt sức nghe tốt nhất, có môi trường giao tiếp
thuận lợi nhất thì khả năng phát triển ngôn ngữ nói nói chung và khả năng nghe –
hiểu lời nói nói riêng có được nền tảng đảm bảo cho sự phát triển, giúp trẻ hòa
nhập cộng đồng một cách sớm nhất.
18
18
Việc sử dụng MTT đạt hiệu quả phụ thuộc vào nhiều yếu tố và các yếu tố
này phải được liên kết chặt chẽ với nhau mới có thể mang lại hiệu quả cao cho
người sử dụng MTT.
Kết luận chương 1
TKT bị suy giảm về thính lực nên việc tiếp nhận âm thanh gặp nhiều khó
khăn, làm ảnh hưởng đến khả năng phát triển ngôn ngữ nói và nhận thức. Trẻ bị tổn
thương chức năng nghe càng sớm thì khả năng phát triển ngôn ngữ càng hạn chế.
thú của trẻ để bài tập đạt hiệu quả cao nhất.
Đảm bảo tính linh hoạt trong các hình thức và phương pháp phát triển khả
năng nghe – hiểu lời nói cho TKT sau cấy ĐCOT. Việc áp dụng linh hoạt
các hình thức và phương pháp dạy học giúp trẻ hứng thú với bài học, học
được những kinh nghiệm mới (khả năng luân phiên, bắt chước) từ các bạn
trong nhóm hoặc từ các tình huống và môi trường học tập khác nhau.
- Đảm bảo việc sử dụng phương tiện và đồ dung học tập một cách hợp lý.
TKT sau cấy ĐCOT vẫn còn hạn chế về ngôn ngữ nên việc xây dựng các bài
tập phát triển khả năng nghe hiểu lời nói cho trẻ sau cấy phải chú ý đến việc
lựa chọn phương tiện và đồ dung học tập phù hợp với từng nội dung của bài
học, các tranh ảnh, mô hình, vật thật cần phong phú và sinh động, gần gũi
với cuộc sống thực của trẻ.
Điều kiện thực hiện
20
20
- Giáo viên, phụ huynh cần nắm rõ sức nghe của trẻ. Đây là điều kiện đảm
bảo cho việc luyện nghe và phát triển ngôn ngữ nói của trẻ có hiệu quả;
đồng thời cũng là cơ sở để lập kế hoạch luỵên nghe và phát triển ngôn ngữ
cho trẻ.
- Đảm bảo ĐCOT hoặc phương tiện trợ thính luôn hoạt động.
- Địa điểm: đảm bảo phòng học yên tĩnh để trẻ có thể nghe trong điều kiện
tốt nhất và phát huy tối đa sức nghe của mình.
- Vị trí ngồi: Đảm bảo âm thanh tiếp cận được với tai nghe tốt nhất của trẻ.
Do đó yêu cầu giáo viên, phụ huynh luôn ngồi ở bên tai cấy ĐCOT hoặc bên
tai có sức nghe tốt hơn.
Cấu trúc của bài tập
Mỗi bài tập được thiết kế như sau:
- Mục đích: Sau mỗi bài tập trẻ đạt được một mức độ kỹ năng cụ thể.
2.2 Các bài tập
22
22
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, chúng tôi xây dựng ngân hàng bài tập phát triển khả năng nghe – hiểu
lời nói cho trẻ khiếm thính cấy ĐCÔT như sau:
2.2.1 Bài tập nhận thức âm thanh
2.2.1.1 Bài tập phát hiện âm thanh
Bài 1: Phát hiện âm thanh môi trường
Mục đích: Trẻ phản ứng với các âm thanh các đồ vật như : trống, kèn, thanh la, chuông, xúc xắc, tiếng vỗ tay, gõ cửa,….
Chuẩn bị: Trống, kèn, sáo, thanh la, chuông, xúc xắc….., bộ xâu hạt
Người thực hiện: giáo viên, phụ huynh, trẻ
Cách tiến hành: Giáo viên tạo các âm thanh, trẻ nghe và phản ứng bằng cách xâu hạt vào dây. Giáo viên có thể sử dụng
cách này với các dụng cụ khác.
Bước 1: Giáo viên kiểm tra máy của trẻ.
Bước 2: Giáo viên làm mẫu trên mẹ để hướng dẫn trẻ cách phản ứng: “Khi mẹ nghe thấy tiếng trống, mẹ hãy thổi kèn
nhé”. Yêu cầu mẹ ngồi quay lưng với giáo viên. Trẻ quan sát hành động mẫu.
Bước 3: Giáo viên đánh trống, trẻ nghe và phản ứng lại bằng cách thổi kèn. Giáo viên, phụ huynh và trẻ làm luân phiên và có thể
trao đổi dụng cụ cho nhau.
Bước 4: Giáo viên ghi kết quả trẻ thực hiện vào bảng theo dõi kết quả luyện nghe của trẻ:
Bài 2: Phát hiện các nguyên âm Tiếng Việt
Mục đích: Trẻ phản ứng với các nguyên âm Tiếng Việt như: a, u, o,
Chuẩn bị: Băng casset có âm thanh của các nguyên âm, đồ chơi xâu hạt
Người thực hiện: giáo viên, phụ huynh, trẻ
Cách tiến hành: Giáo viên phát âm từng nguyên âm, trẻ nghe thấy thì xâu hạt. Giáo viên có thể sử dụng cách này với các
nguyên âm còn lại.
24
không có phản ứng thì giáo viên, phụ huynh điều chỉnh khoảng cách bằng cách tiến gần đến trẻ hơn, không điều chỉnh âm lượng
bằng cách nói to hơn.
Bước 1: Giáo viên kiểm tra máy của trẻ.
Bước 2: Giáo viên làm mẫu trên mẹ để hướng dẫn trẻ cách phản ứng: “Khi mẹ nghe thấy tiếng trống, mẹ hãy thổi kèn
nhé”. Yêu cầu mẹ ngồi cạnh trẻ. Trẻ quan sát hành động mẫu.
Bước 3: Giáo viên đánh trống, trẻ nghe và phản ứng lại bằng cách thổi kèn. Giáo viên, phụ huynh và trẻ làm luân phiên và có thể
trao đổi dụng cụ cho nhau.
Bước 4: Giáo viên ghi kết quả trẻ thực hiện vào bảng theo dõi kết quả luyện nghe của trẻ.
Bài 5: Phản ứng với 6 âm Ling
Mục đích: Trẻ phản xạ khi nghe 6 âm Ling :/m/, /u/, /a/, /i/, /s/, /x/.
Chuẩn bị: hạt – dây xâu
Người thực hiện: giáo viên, phụ huynh, trẻ
Cách tiến hành :
Bước 1: Kiểm tra máy nghe của trẻ.
Bước 2: Giáo viên hướng dẫn trẻ cách phản ứng, khi nghe thấy âm thanh thì xâu hạt vào dây.
Bước 3: Giáo viên thực hiện, trẻ lắng nghe và phản ứng.
Bước 4: Giáo viên ghi kết quả vào bẳng theo dõi.
Bài 6: Phản ứng với 6 âm Ling ở các khoảng cách khác nhau
Mục đích: Trẻ phản xạ khi nghe 6 âm Ling :/m/, /u/, /a/, /i/, /s/, /x/ ở các khoảng cách 2m, 3,5m, hơn 3,5m
Chuẩn bị: hạt – dây xâu
Người thực hiện: giáo viên, phụ huynh, trẻ
Cách tiến hành : Giáo viên đứng phía sau trẻ, ở khoảng cách 2m, tạo từng âm Ling, trẻ nghe và phản ứng bằng cách xâu
hạt vào dây. Giáo viên có thể sử dụng cách này với các dụng cụ khác và các khoảng cách 3,5m và hơn 3,5m. Nếu âm nào đó, trẻ
25
25