BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
BÁO CÁO TÓM TẮT
Tên đề tài:
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG NGHE HIỂU LỜI NÓI
CHO TRẺ KHIẾM THÍNH CẤY ĐIỆN CỰC ỐC TAI
Mã số: V2012 – 09
Chủ nhiệm đề tài: CN. Phạm Thị Trang
Hà Nội, 2014
1
Danh sách những người tham gia thực hiện đề tài
1. CN. Phạm Thị Trang, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam - Chủ nhiệm đề tài
2. ThS. Mai Thị Phương, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam – Thư kí đề tài
3. TS. Vương Hồng Tâm, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Đơn vị/cá nhân phối hợp chính:
-
Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Đặc biệt – Viện Khoa học giáo dục Việt Nam
2
Project: Measures to develop the understanding – hearing speech for children who
use cochlear implants
Project Code: V2012 – 09
Project leader: Pham Thi Trang, Bachelor
Implementing Institution: Vietnam Institute for Educational Sciences
Project duration: August 2012 – August 2013
1. Objective: Propose the measures to develop the understanding – hearing speech
for children who use cochlear implants.
2. Main contents
-
Research the basic of theoretical issues related to children with hearing impairment,
cochlear implants, developing the understanding – hearing speech for children who use
-
cochlear implants.
Research the fact of the abilities of the understanding – hearing speech for children
-
who use cochlear implants and the measures that have been used to develop.
Propose and experiment the measures to develop the understanding – hearing speech
for children who use cochlear implants.
3. Main results
-
Clarifying some concepts connected to cochlear implants, charaters of the abilities of
cho những người khiếm thính ở mức độ nặng và sâu trong việc phục hồi khả năng
nghe nói. Đặc biệt với công nghệ và kĩ thuật ngày càng được cải biến tinh vi, điện cực
ốc tai giờ có thể áp dụng cấy cho trẻ 6 tháng tuổi. Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng
trẻ khiếm thính được cấy điện cực ốc tai sớm, được can thiệp tích cực sau cấy thì có sự
phát triển ngôn ngữ nói không thua kém so với trẻ nghe bình thường.
Ngôn ngữ không chỉ là một phương tiện giao tiếp mà ngôn ngữ còn là công cụ
của tư duy. Nhờ có ngôn ngữ trẻ có thể tìm hiểu, khám phá, tiếp nhận thế giới xung
quanh, đồng thời ngôn ngữ cũng là phương tiện giúp trẻ kết nối với mọi người xung
quanh, thiết lập các mối quan hệ. Với trẻ trẻ nhỏ thì sự phát triển ngôn ngữ ở giai đoạn
3 – 6 tuổi có ý nghĩa to lớn. Đây là giai đoạn trẻ có sự phát triển mạnh mẽ về vốn từ
vựng, hoàn thiện cơ quan phát âm, phát triển việc sử dụng vốn từ ngữ cũng như cấu
trúc ngữ pháp. Do vậy, ngôn ngữ phát triển tốt là tiền đề quan trọng cho việc trẻ chuẩn
bị bước sang môi trường học mới – môi trường học tiểu học. Bởi vậy, việc phát triển
ngôn ngữ cho trẻ sử dụng phương tiện trợ thính, đặc biệt là trẻ cấy điện cực ốc tai giai
đoạn này có ý nghĩa quan trọng. Để trẻ có thể phát triển ngôn ngữ nói một cách toàn
diện thì đòi hỏi sự phát triển tích cực ở các khía cạnh nghe, hiểu, sử dụng ngôn ngữ
nói. Việc nghe hiểu ngôn ngữ nói tốt sẽ là tiền đề cho việc phát triển vốn từ, sử dụng
vốn từ đó trong hoạt động sinh hoạt, vui chơi và giáo dục. Ở Việt Nam đã có các công
trình nghiên cứu về phát triển giao tiếp, ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính trong môi
trường giáo dục hòa nhập. Tiếp nối những nghiên cứu đó, chúng tôi lựa chọn “Biện
pháp phát triển khả năng nghe – hiểu lời nói cho trẻ khiếm thính sau cấy điện cực
ốc tai” làm vấn đề nghiên cứu, nhằm giúp trẻ khiếm thính cấy điện cực ốc tai có thể
phát huy tối đa khả năng nghe để phát triển ngôn ngữ nói, đồng thời góp phần nâng
cao chất lượng can thiệp sớm, giúp các bé có khả năng hòa nhập tốt nhất.
5
2. Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ khiếm
thính cấy điện cực ốc tai, từ đó đề xuất một số biện pháp phát triển khả năng nghe – hiểu lời
thính cấy điện cực ốc tai.
Phương pháp nghiên cứu hồ sơ của trẻ: kế hoạch giáo dục cá nhân, sổ nhật kí,
sản phẩm của trẻ.
Phương pháp thực nghiệm sư phạm: thực nghiệm một số biện pháp phát triển
khả năng nghe hiểu lời nói cho trẻ khiếm thính cấy điện cực ốc tai.
Phương pháp chuyên gia: trưng cầu ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực
nhằm đánh giá tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất.
Phương pháp toán thống kê.
6
6. Thời gian thực hiện: Từ 8/2012 đến 8/2013
7. Sản phẩm
- Báo cáo tổng kết nhiệm vụ nghiên cứu
- Báo cáo tóm tắt nhiệm vụ nghiên cứu
- 01 bài báo
Phần II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Ngoài nước
Các nhà khoa học đã chứng minh rằng trẻ khiếm thính (TKT) được trang bị
máy trợ thính hay điện cực ốc tai (ĐCÔT) và được can thiệp càng sớm thì khả năng
phát triển ngôn ngữ nói càng cao.
Nghiên cứu của Apuzzo và Yoshinaga-Itano (1995) chỉ ra rằng, trẻ được phát
hiện và can thiệp trong khoảng 13 – 24 tháng thì khả năng ngôn ngữ diễn đạt, ngôn
ngữ hiểu cao hơn so với trẻ được phát hiện và can thiệp sau 25 tháng tuổi.
Mary Pet Moeller (2000) lại cho rằng: trẻ tham gia can thiệp trước 11 tháng tuổi
có vốn từ vựng và kĩ năng sử dụng từ ngữ đạt được lúc 5 tuổi trội hơn hẳn so với trẻ
được can thiệp muộn hơn.
cho trẻ sau khi sử dụng phương tiện trợ thính.
1.1.2 Trong nước
Những năm gần đây thì dịch vụ chăm sóc thính học ở Việt Nam đã được phát
triển hơn. TKT không chỉ được tiếp cận với MTT mà còn được tiếp cận với các
phương tiện trợ thính hiện đại khác nhau mà còn được tiếp cận với ĐCÔT – một
phương trợ thính hiện đại và hiệu quả nhất trong việc giúp trẻ phục hồi khả năng nghe
và phát triển ngôn ngữ nói. Điện cực ốc tai được đưa vào Việt Nam từ năm 1998 và
thực hiện ca cấy ghép đơn kênh đầu tiên ở Viện Nhi đồng 1 Thành phố Hồ Chí Minh
do các bác sỹ của hãng All Hear. Đến năm 2000 bắt đầu thực hiện cấy ốc tai đa kênh
[35]. Cho đến nay việc thực hiện cấy điện cực ốc tai đã được thực hiện rộng khắp ở
miền Bắc và miền Nam tại các bệnh viện lớn như bệnh viện Nhi Trung Ương Hà Nội,
bệnh viện Đại học Y Hà Nội, bệnh viện Hồng Ngọc, bệnh viện Nhi Đồng 1 Thành phố
Hồ Chí Minh,… với điện cực chủ yếu của hai hãng Cochlear và Medel. Song song với
sự phát triển của các dịch vụ thính học thì các dịch vụ can thiệp cũng được phát triển
mạnh mẽ, đặc biệt là các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn.
Đáp ứng nhu cầu giáo dục TKT, các nhà khoa học, giáo dục ngày càng quan
tâm hơn đến việc phát triển ngôn ngữ, giao tiếp cho TKT. Trong báo cáo thực trạng can
thiệp sớm (CTS) cho TKT (8/2000), Nguyễn Thị Hoàng Yến đã nhận định: TKT đeo
MTT trước 2 tuổi là cần thiết, với sự tác động phù hợp thì ngôn ngữ của trẻ sẽ phát triển
tốt. Tác giả Trần Thị Thiệp (2004) cho rằng quá trình phát triển ngôn ngữ, giao tiếp ở
TKT sẽ gặp nhiều khó khăn nếu không được chăm sóc và can thiệp tốt về mặt thính học.
Tác giả Vương Hồng Tâm (2003) đã nhận định rằng, sử dụng phương pháp tiếp cận
ngôn ngữ nghe – nói và những phương tiện giao tiếp thích hợp với nó là một trong
những biện pháp cơ bản nhất để phát triển khả năng giao tiếp cho TKT trong môi
trường giáo dục hòa nhập. Điều này đòi hỏi cần có sự tăng cường ngôn ngữ nói và coi
ngôn ngữ nói như là ngôn ngữ thứ nhất.
Trong nghiên cứu của Bùi Thị Lâm (2012) thì khẳng định rằng thông qua các
hoạt động chơi sẽ có thể giúp TKT phát triển được ngôn ngữ trong môi trường giáo
dục hòa nhập. Các trò chơi có thể tác động toàn diện đến các kĩ năng nghe hiểu ngôn
ngữ, mở rộng vốn từ, cải thiện độ rõ ràng trong lời nói của trẻ cũng như việc sử dụng
chế, được thể hiện ở các yếu tố cấu thành ngôn ngữ như: thiếu về ngữ âm, sai lệch về ngữ pháp,
rời rạc về ngữ điệu, nghèo nàn về từ vựng…Trong trường hợp trẻ bị mất thính lực ở mức độ
nặng hoặc sâu, ngôn ngữ nói có thể hình thành và phát triển nhưng chỉ khi trẻ được giáo dục tốt
dưới sự hướng dẫn của cha mẹ, giáo viên.
TKT cũng như trẻ bình thường, không thể thiếu nhu cầu giao tiếp với thế giới xung quanh.
Nhưng khả năng nghe hạn chế gây cho trẻ những khó khăn trong học tập và hòa nhập cộng đồng.
Thực tế này đã đòi hỏi TKT phải sử dụng loại hình ngôn ngữ khác để đáp ứng nhu cầu giao tiếp Đó là ngôn ngữ kí hiệu (NNKH). NNKH mang đậm nét văn hóa riêng của cộng đồng người khiếm
thính, là sự kết hợp các động tác của tay, điệu bộ và nét mặt . TKT mất thính lực ở mức độ nặng và
sâu nếu không được hỗ trợ tích cực của MTT và sự luyện nghe, luyện nói đúng cách thì ngôn ngữ
của TKT phát triển rất hạn chế.
Sự phát triển ngôn ngữ viết ở TKT khác so với trẻ bình thường. Ngôn ngữ viết và ngôn
ngữ nói ở TKT có thể diễn ra song song hoặc bằng ngôn ngữ viết và diễn ra trước ngôn ngữ nói.
Ngoài ra còn có hệ thống chữ cái ngón tay hỗ trợ TKT trong học tập và giao tiếp.
Ngôn ngữ biểu đạt của TKT có nhiều đặc điểm riêng. Do hạn chế về khả năng nghe ảnh
hưởng đến việc nắm bắt các cấu trúc ngữ pháp, các khái niệm mới. Cho nên khả năng diễn đạt
ngôn ngữ nói, viết của TKT thường bị đảo lộn trật tự ngữ pháp, thiếu từ, sai lệch ngữ pháp,
thiếu logic,… Do không điều khiển được luồng hơi từ phổi đi ra nên TKT phát âm nguyên âm
dễ hơn phụ âm, câu nói của trẻ thường bị ngắt quãng, giọng yếu…..
1.2.2 Ốc tai điện tử
Dưới đây là một số quan điểm về ốc tai điện tử:
Ốc tai điện tử (Cochlear Implants) là thiết bị biến đổi năng lượng âm thanh
thành dấu hiệu điện kích thích lên thần kinh ốc tai của những cá thể điếc sâu. [33]
Ốc tai điện tử là một thiết bị vi mạch điện tử cấy vào trong ốc tai giúp cho bệnh
nhân bị điếc nặng có thể nghe được nhờ vào một hệ thống tiếp nhận, dẫn truyền và
khuếch đại các âm thanh từ môi trường bên ngoài vào đến ốc tai và truyền các tín hiệu
điện lên não giúp cho bệnh nhân nghe được.[33]
Theo giáo dục có thể hiểu: ÔTĐT là một thiết bị điện tử được cấy bên trong
ốc tai có tác dụng tiếp nhận, khuếch đại và truyền tín hiệu điện lên não giúp
người khiếm thính có thể tiếp nhận và xử lý âm thanh.
Ngạc nhiên với - Theo một bước
tiếng ồn bất ngờ.
chỉ dẫn trong khi
chơi.
- Phản ứng với mặt
người nói.
- Hiểu câu hỏi đơn
giản, ví dụ: “mẹ
- Phản ứng với đâu?”.
tiếng nói bằng im
lặng hay mỉm cười. - Nhận ra và thể
hiện mình hiểu một
- Lặng im với số đồ vật bằng
giọng nói quen cách chỉ.
thuộc.
- Hiểu các cụm từ
- Đôi khi phản ứng tương đương.
khi nghe gọi tên
mình.
- Bắt đầu nhận ra
tên các bộ phận cơ
- Phân biệt giữa thể, ví dụ: tay, mắt.
giọng nói tức giận
hay trì mến, ví dụ - Thích thú giai
2 – 3 tuổi
3 – 4 tuổi
- Hiểu được các - Có thể nghe được
1 hay tất cả.
- Hiểu giới từ chỉ
10
khóc khi nghe thấy điệu.
giọng nói gay gắt.
- Hiểu các câu hỏi
- Đáp trả với cử đơn giản.
chỉ tay phù hợp với
những từ nhất định - Bắt đầu hiểu cụm
như: cao, bye từ dài hơn với từ
bye…
khóa nằm giữa
câu.
- Thường xuyên
dừng hoạt động khi - Nhận dạng các bộ
nghe gọi tên.
phận cơ thể nhiều
hơn.
- Có vẻ nhận ra tên
một số ít đồ vật - Tìm thấy các đồ
thông thường và vật quen thuộc
nhìn vào chỗ để không nằm trong
chúng khi nghe tầm nhìn.
thấy tên vật đó.
- Hiểu được hơn
- Thường xuyên 50 từ.
hơn dừng hoạt
động khi nghe từ “ - Nhận diện một số
- Hiểu sự khác
nhau giữa hiện tại/
- Dùng được nhiều quá khứ/ tương lai.
giới từ chỉ vị trí.
- Trả lời được các
- Mở rộng phát từ tương đương.
triển các khái niệm
thu nhận.
- Nhận dạng vật bị
thiếu trong cả ngữ
- Nhận dạng từng cảnh.
phần của một đồ
vật.
- Hiểu: ngày/ sáng/
chiều/ tối.
- Hiểu về khái
niệm thời gian: - Biết so sánh về
Hôm nay, ngày tốc
độ,
trọng
mai.
lượng.
- Hiểu được câu - Hiểu 1500 – 2000
hỏi: Cái gì không từ.
có ở đây? Cái gì
- Đáp ứng với âm - Hiểu được cụm không thuộc về đồ
nhạc bằng chuyển từ hành động.
này?
động của cơ thể,
trẻ có thói quen nghe và sử dụng ngôn ngữ nói với sự hỗ trợ cuả ốc tai điện tử. Khi đó
sẽ giúp các em hòa nhập cộng đồng tốt hơn.
Như vậy có thể thấy được các vai trò quan trọng của việc luyện nghe là: Tận
dụng sức nghe còn lại để phát triển khả năng nghe của trẻ, qua đó trẻ có kinh nghiệm,
hình thành kỹ năng nghe bằng ốc tai điện tử, giúp trẻ hiểu về thế giới xung quanh, tránh
các rủi ro,….Kinh nghiệm và các kĩ năng nghe có được là cơ sở tiền đề để trẻ học nói tốt
hơn. Rèn luyện thói quen tri giác âm thanh, kỹ năng nghe và sử dụng ngôn ngữ nói với
sự hỗ trợ của các phương tiện trợ thính. Thông qua luyện nghe trẻ có thể nghe được âm
thanh lời nói và phát triển ngôn ngữ một cách tự nhiên.
1.3.3.3Phát triển khả năng nghe – hiểu lời nói cho trẻ khiếm thính sau cấy điện cực ốc
tai
Khả năng nghe – hiểu lời nói là khả năng xử lý các thông tin lời nói thu được qua bộ
máy thính giác thành các tín hiệu được truyền lên não bộ, mã hóa và thể hiện ra bên
ngoài bằng tiếng nói, cử chỉ điệu bộ có ý nghĩa.
Ở trẻ bình thường, khả năng ngôn ngữ phát triển cả về lượng và về chất qua các giai
đoạn, theo các bước phát triển khác nhau, từ thấp đến cao. Khả năng hiểu ngôn ngữ của
mỗi trẻ là khác nhau. Cá nhân mỗi trẻ đều có những trải nghiệm riêng, và trải nghiệm
càng phong phú thì khả năng ngôn ngữ nói chung và khả năng hiểu ngôn ngữ nói riêng
của trẻ dày dạn và linh hoạt hơn. Do đó khả năng hiểu ngôn ngữ nói của trẻ cũng được
tích lũy dần và khả năng xử lý các thông tin nghe được ngày càng nhanh và tinh tế hơn.
Chúng ta điều biết rằng chúng ta nghe được khi âm thanh đến ốc tai và được thần kinh
thính giác truyền đến thông tin thính giác của não bộ . Khi âm thanh lời nói đến não,
tiến trình lắng nghe và hiểu ngôn ngữ lời nói bắt đầu xảy ra.
Trẻ càng có nhiều kinh nghiệm lắng nghe thì càng giỏi nhận ra và hiểu âm thanh. Âm thanh
lời nói là một trong những âm thanh quan trọng và có ý nghĩa nhất đối với trẻ, và cũng là
một trong những âm thanh phức tạp và khó hiểu nhất .Lời nói có thể là từ, câu hay đoạn
hình thành từ một loạt những âm đơn.
Để trẻ hiểu lời nói, trước hết âm thanh lời nói phải được chuyển tới não của trẻ. Khi
âm thanh lời nói đến não, trung tâm thính giác của não phải có khả năng dịch nghĩa,
hoặc thực hiện một loạt chức năng làm cho âm thanh đó có ý nghĩa.
Việc chăm sóc thính học sau cấy cũng là nhân tố góp phần thúc đẩy quá trình phát
triển ngôn ngữ của TKT. Cho nên TKT cần được chăm sóc thính học định kì để đảm
bảo ĐCOT luôn được hoạt động và trẻ đạt được sức nghe tốt nhất.
Việc phát triển khả năng nghe – hiểu ngôn ngữ lời nói cho TKT phụ thuộc vào nhiều
yếu tố. Phụ huynh, người chăm sóc, giáo viên cần nhận thức đúng đắn về lợi ích, chức
năng ĐCOT mang lại, các yêu cầu chăm sóc thính học và hỗ trợ sau cấy cho trẻ cần
được quan tâm để trẻ đạt sức nghe tốt nhất, có môi trường giao tiếp thuận lợi nhất thì
khả năng phát triển ngôn ngữ nói nói chung và khả năng nghe – hiểu lời nói nói riêng
có được nền tảng đảm bảo cho sự phát triển, giúp trẻ hòa nhập cộng đồng một cách sớm
nhất.Việc sử dụng ĐCOT đạt hiệu quả phụ thuộc vào nhiều yếu tố và các yếu tố này phải được
liên kết chặt chẽ với nhau mới có thể mang lại hiệu quả cao cho người sử dụng ĐCOT.
II. THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG NGHE NÓI CỦA TRẺ KHIẾM THÍNH CẤY
ĐIỆN CỰC ỐC TAI Ở ĐỊA BÀN HÀ NỘI
2.1.Tổ chức khảo sát thực trạng
2.1.1. Mục tiêu khảo sát
Chúng tôi tiến hành khảo sát nhằm tìm hiểu thực trạng khả năng nghe và ngôn ngữ nói
của TKT sau cấy ĐCOT, đồng thời tìm hiểu thực trạng giáo viên, phụ huynh nhận
thức về tầm quan trọng và các biện pháp phát triển khả năng nghe, nói cho TKT, đặc
biệt là khả năng nghe hiểu lời nói. Từ đó chúng tôi đề xuất các biện pháp phát triển
khả năng nghe hiểu lời nói của TKT sau cấy ĐCOT, nhằm góp phần nâng cao chất
lượng nghe nói cho trẻ.
2.1.2. Nội dung khảo sát
Để đánh giá được thực trạng khả năng nghe nói của TKT sau cấy ĐCOT và nhận thức
của giáo viên, phụ huynh về tầm quan trọng và các biện pháp phát triển khả năng nghe
nói cho TKT, chúng tôi tiến hành khảo sát ở những nội dung sau:
13
- Nhận thức của giáo viên, phụ huynh về tầm quan trọng của việc thực hiện các bài
tập luyện nghe và các biện pháp phát triển khả năng nghe – hiểu lời nói cho TKT sau
2.2.1.2 Khả năng nghe của trẻ khiếm thính
Biểu đồ 2.2 Khả năng nhận thức âm thanh của trẻ khiếm thính
- Âm thanh tiếng động:biểu đồ 2.2 cho thấy, tất cả các trẻ được khảo sát đều phát hiện,
nhận diện được các âm thanh tiếng động đặc trưng như: tiếng trống, thanh la, tiếng vỗ
tay, xúc xắc, gõ cửa, tiếng ho, huýt sáo. 5/10 trẻ nhận diện được các âm thanh trên
bằng cách chỉ tay. Nhóm trẻ thực hiện được yêu cầu này có tuổi nghe khác nhau.
- Phản ứng với 6 âm Ling (a/u/i/m/s/x): Tất cả trẻ được khảo sát đều thực hiện được
yêu cầu phản ứng và nhắc lại âm Ling vừa nghe được. Chúng tôi có quan sát giờ dạy
và tiến hành phỏng vấn giáo viên can thiệp thì được biết, không tùy thuộc vào tuổi
14
nghe, bài tập luyện nghe với 6 âm Ling vẫn được các cô thực hiện hàng ngày vừa với
mục đích kiểm tra máy, vừa là củng cố kĩ năng nghe cho trẻ. Đây là cách làm đúng
đắn của giáo viên trong việc rèn luyện kĩ năng lắng nghe – tiền đề cho việc nghe, phát
triển ngôn ngữ nói ở trẻ.
- Phản ứng với chuỗi âm thanh:trong bài test chúng tôi có đưa ra 13 item chuỗi các âm
thanh có số lượng từ 2 – 6 âm tiết. Với yêu cầu phát hiện chuỗi âm thanh, tất cả trẻ đều
phản ứng khi chuỗi âm thanh được phát ra. Đa số các trẻ đều có khả năng nhắc lại
chuỗi âm thanh có từ 2 – 4 âm tiết. 6/10 trẻ nhắc lại được chuỗi âm thanh có 5 – 6 âm
tiết. Nhóm trẻ này đều có tuổi nghe từ 2 tuổi 2 tháng – 2 tuổi 6 tháng. Duy nhất có
trường hợp trẻ thực hiện được yêu cầu này khi tuổi nghe là 1 tuổi 11 tháng.
Hơn nữa, với yêu cầu này, kết quả khảo sát còn cho thấy, 3/10 trẻ có khả năng nghe và
lặp lại ngữ điệu của người kiểm tra khi phát âm chuỗi âm có 2 – 3 âm tiết. Nhóm trẻ
này có tuổi thực từ 4 tuổi 10 tháng đến 5 tuổi và có tuổi nghe từ 1 tuổi 11 tháng đến 2
tuổi 6 tháng. Kết quả thực hiện này cho thấy khả năng nghe, kĩ năng nghe của trẻ khá
tốt. Cả ba trẻ này đều có sự tác động tích cực từ phía gia đình cũng như sự phối hợp
chặt chẽ với nhà trường.
2.2.1.3 Khả năng nghe hiểu lời nói của trẻ khiếm thính
Chúng tôi tiến hành đánh giá năng lực nghe hiểu (nhận biết các thành tố then chốt) của
dung đơn giản của bài thơ qua các câu hỏi Tên bài thơ? Ai? Làm gì? Cho ai? Hoặc câu
hỏi trả lời ngắn gon Có/Không, Câu hỏi tìm nguyên nhân Vì sao?.
- Truyện kể (Gà trống quên gáy sáng, Mùa xuân đến): tất cả các trẻ đều chăm chú
nghe cô đọc truyện theo tranh minh họa (truyện chữ có xen kẽ hình ảnh minh họa thay
thế). Hầu hết trẻ đã trả lời được câu hỏi Ai? Cái gì? theo tranh minh họa, nhưng trẻ lại
không trả lời được các câu hỏi khác cho việc tìm hiểu nội dung đơn giản của truyện.
Điều này cũng minh chứng cho việc trẻ chưa được chú trọng phát triển khả năng nghe
– hiểu lời nói qua các câu chuyện ngắn, phù hợp với lứa tuổi.
c) Hội thoại theo chủ đề
- Các câu hỏi về bản thân, gia đình và trường học của trẻ: Hầu hết trẻ đều trả lời được
các câu hỏi Con tên là gì? Con mấy tuổi? Bố/mẹ/anh/chị con tên là gì? Con học trường
nào? Lớp nào? Cô giáo con tên là gì? hoặc Con học cô nào? Lớp con có bạn nào (trẻ
trả lời được một vài bạn trong nhóm/tổ của mình)? Những nội dung này trẻ đều đã
được làm quen và củng cố trong quá trình can thiệp, nên khi được hỏi trẻ trả lời khá
nhanh và thuần thục các câu hỏi này. Điều này cũng chứng minh cho việc, nội dung
nào được cũng cố thường xuyên thông qua các hoạt động hỗ trợ hàng ngày thì trẻ cso
khả năng phản ứng nhanh khi nghe hỏi.
2.2.2. Nhận thức của giáo viên về việc phát triển khả năng nghe – hiểu lời nói cho
TKT sau cấy ĐCOT
2.2.2.1 Những thông tin chung về giáo viên
2.2.2.2 Nhận thức của giáo viên về các bài tập luyện nghe
Tất cả giáo viên được hỏi đều cho rằng thực hiện các bài tập luyện nghe là rất cần thiết
vì họ đều cho rằng, có luyện nghe tốt, trẻ mới có được kĩ năng nghe tốt – tiền đề cho
trẻ phát triển khả năng ngôn ngữ nói, đặc biệt khả năng nghe – hiểu. Tuynhiên mức độ
và thứ tự ưu tiên sử dụng các bài tập luyện nghe là khác nhau.
2.2.2.3. Nhận thức của giáo viên về các biện pháp phát triển khả năng nghe – hiểu lời
nói cho TKT cấy ĐCOT
Với các biện pháp phát triển ngôn ngữ giáo viên thường sử dụng trong các hoạt động
hỗ trợ, ai cũng cho rằng các biện pháp này là quan trọng, cần thiết và hữu ích đối với
sự phát triển khả năng ngôn ngữ của trẻ. Các biện pháp này đều được giáo viên sử
bởi cha mẹ, các nhà trị liệu thính giác – ngôn ngữ. Sau khi sử dụng phương tiện trợ
thính, trẻ cần có thời gian làm quen, thích nghi với thiết bị nghe, hình thành và phát
triển các kĩ năng nghe từ đơn giản đến phức tạp, từ cơ bản đền nâng cao.
3.2.1.2 Nội dung biện pháp
Hình thành và phát triển kĩ năng nghe tập trung ở những vấn đề sau:
Nhận thức âm thanh: bao gồm âm thanh môi trường và sự hiện diện của âm thanh lời
nói, 6 âm Ling ở các khoảng cách khác nhau; định hướng nguồn âm thanh
Vận động theo nhạc, giai điệu: sử dung các bài hát quen thuộc để trẻ nghe, thể hiện
vận động theo nhạc mà trẻ nghe được
Nhận diện các thành tố then chốt: có sự phức hợp giữa các thành tố như: danh từ, động
từ, tính từ, liên từ,…. Số lượng các thành tố được tăng dần dựa theo tuổi nghe và khả
năng nghe của trẻ
Như vậy hình thành và phát triển các kĩ năng nghe âm thanh và nghe lời nói được thực
hiện từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Qua ĐCÔT trẻ sẽ hình thành kĩ năng
lắng nghe, phát hiện, nhận biết, phân biệt, định hướng nguồn âm thanh môi trường, âm
thanh lời nói, nghe các yêu cầu đơn, kép hay nghe hội thoại, các câu chuyện . Từ đó
trẻ sẽ hình thành, tích lũy được các kinh nghiệm nghe qua đôi tai mới cho bản thân. Do
vậy việc phát triển các kĩ năng nghe cho trẻ là vô cùng quan trọng. Đây là nền móng
cho sự phát triển ngôn ngữ nói của trẻ. Vậy nên phát triển khả năng nghe cho TKT cấy
17
ĐCÔT là một biện pháp quan trọng cho sự phát triển khả năng nghe hiểu nói riêng và
khả năng ngôn ngữ nói của TKT.
3.2.1.3 Điều kiện thực hiện
- Bài tập luyện nghe phải được thực hiện từ dễ đến khó, có hệ thống, logic và tính phát
triển.
- Lựa chọn bài tập/hoạt động luyện nghe phù hợp với năng lực của trẻ.
- Các hình thức tổ chức linh hoạt, đa dạng thu hút sự tham gia tích cực của trẻ.
- Đảm bảo sự trực quan hóa kích thích khả năng tri giác âm thanh của trẻ
khả năng áp dụng linh hoạt trong các tình huống hoàn cảnh khác nhau. Khả năng đáp
18
ứng linh hoạt trong các tình huống giao tiếp sẽ giúp trẻ hòa nhập cộng đồng được tốt
hơn.
3.2.2.2 Nội dung biện pháp
Phát triển ngôn ngữ nói cho TKT thông qua các tình huống sinh hoạt hàng ngày, bao
gồm các nội dung sau
- Phát triển vốn từ cho TKT thông qua các tình huống sinh hoạt hàng ngày
- Giáo dục cho TKT sử dụng từ đúng với hoàn cảnh, ngữ cảnh
- Phát triển kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ nói cho TKT
3.2.2.3 Điều kiện thực hiện
Đảm bảo trẻ sử dụng phương tiện trợ thính và hoạt động tốt;
Sử dụng các tình huống giao tiếp từ đơn giản đến phức tạp. Các tình huống giao tiếp
được sử dụng từ đơn giản đến phức tạp;
Đảm bảo trực quan hóa trong các tình huống nếu cần thiết
3.2.2.4 Cách tiến hành
Giáo viên, phụ huynh lựa chọn các tình huống giao tiếp hàng ngày dựa theo kế hoạch
hỗ trợ sao cho phù hợp với năng lực của trẻ. Các tình huống giao tiếp này có thể xảy ra
ở mọi lúc mọi nơi, nên hãy khéo léo để lôi cuốn trẻ tham gia một cách tự nhiên, vui vẻ
và hứng thú. Bên cạnh đó, sự lặp đi lặp lại của các tình huống sẽ giúp cho trẻ có cơ hội
trải nghiệm và tiếp nhận được ngôn từ được cung cấp qua tình huống đó.
3.2.2.5 Ví dụ minh họa
Tình huống chào khi gặp người lớn: với trẻ nhỏ mới sử dụng phương tiện trợ thính
chúng ta có thể hình thành cho trẻ kĩ năng nghe hiểu yêu cầu “Con chào ..... đi” để trẻ
nghe và có thể khoanh tay và nói “ạ”. Người lớn có thể thực hiện mẫu với nhau để cho
trẻ quan sát hoặc cho trẻ quan sát trẻ khác làm. Lặp đi lặp lại yêu cầu này trong các
tình huống giao tiếp khác nhau xảy ra hàng ngày để trẻ có cơ hội được nghe, được trải
nghiệm và thực hiện. Khi trẻ đã có thể thuần thục khả năng nghe thực hiện yêu cầu thì
3.3.3.5 Ví dụ minh họa
Kể chuyện: Mùa xuân đến
Nội dung: Gia đình bé có 5 người gồm: ông, bà, bố, mẹ và bé. Tết đến mẹ mua bánh,
kẹo, giò, bánh chưng, rượu,… Mẹ cũng không quên mua cây quất và quần áo mới cho
bé. Ngày Tết, bé được bố mẹ đưa đi chơi, chúc Tết. Bé được ăn bánh kẹo, được mừng
tuổi nữa. Bé rất thích Tết.
Chuẩn bị: tranh minh họa gia đình với các thành viên: ông, bà, bố, mẹ và bé; tranh các
loại bánh, kẹo, bánh chưng, giò, cây quất, lì xì, quần áo.
Giáo viên, phụ huynh kể cho trẻ nghe kết hợp sử dụng tranh tương ứng. Lần kể đầu
tiên để cho trẻ tiếp nhận các từ thông qua nghe và tranh. Sau 2 – 3 lần kể, phụ huynh,
giáo viên tiến hành cho trẻ tìm hiểu nội dung cơ bản của truyện bằng các câu hỏi Ai?
Cái gì? Như thế nào? Việc đưa ra các câu hỏi phải được tiến hành từ dễ đến khó, tùy
thuộc vào năng lực của trẻ. Trẻ cần được củng cố thường xuyên dưới nhiều hình thức
khác nhau để có thể hiểu được nội dung cơ bản và kể lại truyện theo tranh.
3.2.4 Phát triển ngôn ngữ nói thông qua các trò chơi
3.2.4.1 Mục đích
Trò chơi là một hoạt động không thể thiếu đối với trẻ nhỏ. Trong phạm vi đề tài này,
chúng tôi sẽ lựa chọn trò chơi có luật để phát triển khả năng nghe hiểu lời nói cho trẻ
khiếm thính cấy ĐCÔT. Trò chơi có luật cần trẻ hiểu những hướng dẫn cụ thể để có
thể tham gia. Khi tham gia vào các trò chơi, trẻ không chỉ được phát triển ngôn ngữ
mà còn hình thành, phát triển được các kĩ năng tương tác, kĩ năng luân phiên, lần lượt
và chờ đợi. Đây là những kĩ năng cần thiết cho một trẻ khi tham gia tương tác nhóm.
Bởi vậy, sự tham gia tích cực của trẻ ở các trò chơi càng giúp trẻ có sự hòa nhập ở tất
cả các hoạt động giáo dục. Điều này sẽ giúp cho giáo dục hòa nhập đạt được mục tiêu
cao nhất.
20
3.2.4.2 Nội dung biện pháp
3.3.3.1 Bé N.V.H.L
Bé N.V.H.L được bố mẹ phát hiện có vấn đề về nghe khi bé hơn 1 tuổi. 26 tháng bé
được cấy ĐCÔT cả hai bên. Sau 1 tháng bật máy, bé được hỗ trợ tích cực huấn luyện
nghe nói và tham gia học hòa nhập trong trường mầm non.
Bảng 3.1: Năng lực của N.V.H.L trước và sau khi thử nghiệm biện pháp
dung
Khả năng
21
Trước thử nghiệm
- Nhận diện 6 âm Ling
Sau thử nghiệm
Nhận diện được 6 âm Ling ở các khoảng các
- Nghe thực hiện yêu cầu ghép – 2 thành tố then Định hướng được nguồn âm thanh phát ra
chốt
Nghe thực hiện yêu cầu kép – 3, 4 thành tố th
- Nghe nhắc lại bài thơ
Trả lời được các câu hỏi quen thuộc trong
- Nghe và trả lời được một số câu hỏi đơn giản về sinh hoạt hàng ngày, sử dụng từ đúng tình hu
bản thân như: tên, tuổi, trường, tên bố, mẹ, anh trai.
Bước đầu trả lời được các câu hỏi liên quan đ
- Nghe và trả lời được một số câu hỏi đơn giản giản của 1 số truyện, bài thơ quen thuộc
trong các tình huống sinh hoạt hàng ngày như: Ai
đưa con đi học? Con đang làm gì?....
Phát triển khả năng nghe hiểu lời nói là tiền đề quan trọng cho việc phát triển
ngôn ngữ nói ở trẻ.
Việc phát triển khả năng nghe hiểu lời nói cho TKT sau cấy ĐCÔT không chỉ có
tận dụng sức nghe mà cần phải có sự kết hợp nhiều biện pháp khác nhau để trẻ có thể
phát huy tối đa khả năng nghe của mình và phát triển được ngôn ngữ nói.
Các biện pháp phát triển khả năng nghe hiểu lời nói được xây dựng là phù hợp
và hiệu quả cho TKT cấy ĐCÔT.
Trẻ cần được áp dụng tích cực, thường xuyên và linh hoạt các biện pháp để có
thể phát triển toàn diện khả năng nghe hiểu lời nói và vận dụng linh hoạt vào các tình
huống sinh hoạt, chăm sóc và giáo dục hàng ngày.
Các biện pháp này không chỉ áp dụng cho trẻ cấy ĐCÔT mà còn có thể áp dụng
trong quá trình can thiệp sớm cho TKT có sử dụng phương tiện trợ thính để phát triển
ngôn ngữ nói.
2. Khuyến nghị
Đối với các nhà nghiên cứu: cần nghiên cứu và thích ứng và cụ thể hóa chương
trình nghe nói 4 năm đầu tiên để có sự phù hợp với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ
khiếm thính Việt Nam, đồng thời xây dựng các thang đo dành cho trẻ khiếm thính để
làm cơ sở đánh giá năng lực và định hướng phát triển cho trẻ khiếm thính.
Các cơ sở can thiệp, trường học cần có sự phối hợp chặt chẽ với các phòng hỗ
trợ, giáo viên, phụ huynh, các cơ sở thính học để trẻ có được sự hỗ trợ tốt nhất, nâng
cao hiệu quả chất lượng can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính, giúp các em có sự phát
triển tốt nhất và hòa nhập coognj đồng.
Giáo viên, người chăm sóc cần được hướng dẫn, huấn luyện để có thể hiểu
đúng bản chất của phương pháp, các biện pháp phát triển khả năng nghe nói cho TKT.
Điều này đòi hỏi cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa các cơ sở can thiệp sớm, các hãng trợ
thính và các chuyên gia huấn luyện nghe nói.
23