Thơ Hữu Thỉnh – truyền thống và cách tân
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do, mục đích chọn đề tài:
1. Đổi mới, cách tân là quy luật, là nhu cầu tất yếu của sáng tạo nghệ thuật,
trong đó có thơ. Từ sau 1975 cùng với sự đổi mới toàn diện của đất nước, văn học
nghệ thuật trong đó có thơ đã có những chuyển đổi mạnh mẽ. Khảo sát thơ Việt Nam
từ sau 1975 đặc biệt từ sau 1986 đến nay, thơ đã có những đổi mới cơ bản, theo
những xu hướng khác nhau: Có xu hướng trở về cần mẫn “cày xới” trên nền thơ
truyền thống; có xu hướng đam mê đi tìm “bóng chữ”, tìm những “bến lạ”cho thơ; có
xu hướng mải miết tìm tòi, cách tân đổi mới trên cơ sở truyền thống thơ dân tộc. Dẫu
chưa có sự tổng kết thấu đáo về những xu hướng phát triển của thơ từ sau 1986,
nhưng có thể thấy xu hướng cách tân trên cơ sở tiếp nhận, kế thừa tinh hoa của thơ
truyền thống, kết hợp một cách khoa học sáng tạo truyền thống và hiện đại đã thực sự
tạo được hiệu quả nghệ thuật, tạo được những thành tựu mới cho thơ - Hữu Thỉnh là
một cây bút tiêu biểu của xu hướng này.
2. Là nhà thơ trưởng thành trong giai đoạn thơ chống Mỹ, Hữu Thỉnh sớm
khẳng định được vị trí và phong cách sáng tạo độc đáo. Từ sau 1975, ông tiếp tục
sáng tác và ngày càng khẳng định được vị thế riêng qua nhiều giải thưởng cao quý
của Hội Nhà văn Việt Nam, của Bộ Quốc phòng, Giải thưởng Asean và Giải thưởng
Nhà nước, đặc biệt tạo được sự mến mộ thường trực của nhiều thế hệ độc giả. Nhiều
bài thơ của Hữu Thỉnh đã được phổ nhạc, được dịch và giới thiệu rộng rãi với công
chúng trong và ngoài nước. Đến với thơ Hữu Thỉnh , người đọc vừa được cảm nhận
những dư vị truyền thống đậm đà, đằm thắm, vừa được hấp dẫn bởi những sự mới
mẻ, cách tân tìm tòi đầy sáng tạo, nhuần nhị và tinh tế của nhà thơ. Thơ Hữu Thỉnh
do vậy vừa quen vừa “lạ”, vừa truyền thống vừa hiện đại. Hữu Thỉnh đã “đưa dân
gian cập những bến bờ hiện đại”, tạo được những hiệu quả nghệ thuật đặc sắc trên cơ
1
sở kết hợp nhuần nhị truyền thống và hiện đại. Có thể nói, truyền thống và cách tân
thực sự là hai giá trị thẩm thấu, hội tụ nhuần nhuyễn trong thơ Hữu Thỉnh, tạo nên
Hương...đều thống nhất đánh giá cao thành công cả về nội dung và nghệ thuật của
trường ca Hữu Thỉnh, đồng thời khẳng định những nét đặc sắc riêng trong phong cách
sáng tạo của Hữu Thỉnh ở thể trường ca.
Cả ba trường ca Đường tới thành phố, Sức bền của đất, Trường ca biển đều
được công luận đánh giá cao. Xuân Diệu đánh giá “Đường tới thành phố”, là tập thơ
điển hình hơn cả về ưu điểm đưa thực tế chín đấu ghê gớm đánh Mỹ vào thơ”. Tế
Hanh nhận xét: Đường tới thành phố là “từ cuộc chiến đấu mà ra... là máu thịt chứ
không phải giấy mực”. Đọc Đường tới thành phố Vũ Quần Phương nhận định “Hữu
Thỉnh không xây dựng những tính cách hoàn chỉnh, anh chỉ dừng lại đi sâu vào một
vài tâm trạng, một vài mẫu người. Phần xúc động nhất và tạo nên tầm vóc của trường
ca chính là mẫu người đó”, Thiếu Mai trong Đường tới thành phố cho rằng, thơ Hữu
Thỉnh “vừa sâu, vừa tinh, vừa khát quát, vừa tỉ mỉ chi li những tình cảm, những suy
ngẫm của người chiến sĩ... Cái vững của ngòi bút Hữu Thỉnh khi miêu tả trực diện
những tổn thất mà tác phẩm vẫn không chìm xuống trong không khí bi đát, trái lại vẫn
thấy được xu thế tiến lên của cuộc chiến đấu...”. Trong bài viết “Mấy ghi nhận về thơ
người lính của Hữu Thỉnh” Trường Lưu cũng có cái nhìn toàn vẹn và sâu sắc về người
lính chiến trường vừa gần gũi, giản dị, vừa dung nạp những tiềm ẩn sâu sắc mang đậm
tính nhân văn của dân tộc và thời đại. Anh Chi nhận thấy qua Trường ca Biển “vốn
sống phong phú về trận mạc... Suy tư về quá khứ và hiện tại, về cái thường tình và cái
vĩ đại ở trong mỗi con người”. Trong Lịch sử văn học Việt Nam, Trần Đăng Suyền
phát hiện hồn thơ Hữu Thỉnh – một hồn thơ “tinh tế tài hoa trong cảm xúc mà giàu
những suy ngẫm trăn trở”.
Về các tập thơ: Cùng với những bài viết chung về thơ Hữu Thỉnh của Hoài Anh,
Nguyễn Đăng Điệp, Lý Hoài Thu, Lưu Khánh Thơ... là nhiều bài viết của Tô Hoài, Vũ
Nho, Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo, Trúc Thông, Đỗ Ngọc Yên, Thiên Sơn, Trần
Mạnh Hảo... về các tập thơ Thư mùa đông, Thơ Hữu Thỉnh, Thương lượng với thời
gian, Thơ với tuổi thơ...
Nguyễn Trọng Tạo nhận xét: “Nếu như hồn thơ Thanh Thảo là những tia chớp
từ trời xuống thì hồn thơ Hữu Thỉnh là sự sum suê của cây cối từ đất mà lên”. Bên
và nghệ thuật... Ngoài ra, một số ý kiến được đề cập đan xen trong các bài viết của Mai
Hương, Nguyễn Trọng Tạo, Vũ Nho, Trường Lưu, Hữu Đạt... phát hiện điểm sáng
4
trong tìm tòi và khai thác nội dung, đề tài và hình tượng con người từ những giá trị văn
hóa truyền thống, đề cập đến chất dân gian, tính truyền thống và những tìm tòi cách tân
của thơ Hữu Thỉnh.
Nhìn chung, vấn đề truyền thống và cách tân trong thơ Hữu Thỉnh mới chỉ được
kết hợp đề cập trong một số bài viết chung về thơ Hữu Thỉnh. Cho đến nay chưa có
công trình nào nghiên cứu trực tiếp, toàn diện, hệ thống về vấn đề này. Chính vì vậy
chúng tôi chọn đi sâu nghiên cứu về truyền thống và cách tân trong thơ Hữu Thỉnh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Trên cơ sở khảo sát yếu tố truyền thống và cách tân trong thơ Hữu Thỉnh, luận
văn khẳng định những đóng góp có ý nghĩa nổi bật của Hữu Thỉnh đối với thơ Việt
Nam hiện đại, vì vậy toàn bộ sáng tác thơ và trường ca của Hữu Thỉnh là đối tượng
khảo sát của luận văn, cụ thể các tập thơ và trường ca:
- Âm vang chiến hào, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1975, (in chung với
Lâm Huy Nhuận).
- Trường ca: Sức bền của đất, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1998.
- Thơ Hữu Thỉnh, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1998.
- Thơ với tuổi hoa, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 2000.
- Thương lượng với thời gian, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2006.
- Tiếng hát trong rừng, tập thơ
- Đường tới thành phố, trường ca
- Thư mùa đông, tập thơ
- Trường ca Biển.
Bên cạnh đó, để có cơ sở so sánh làm nổi bật những nét đặc sắc riêng trong thơ
Hữu Thỉnh, chúng tôi mở rộng khảo sát một số thơ và trường ca của các tác giả cùng
1.1.1. Về khái niệm truyền thống văn học
1.1.1.1. Truyền thống:
Trong ngôn ngữ Ấn – Âu, truyền thống là tradition, bắt nguồn từ tiếng Latinh
tradere, tradetio, có nghĩa là trao truyền, truyền đạt, truyền lại (transmission).
Theo Từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên) và Sổ tay từ Hán Việt (do
Nxb Giáo dục ấn hành 1990), “truyền thống” được xác định là: Các nhân tố xã hội
6
đặc biệt truyền từ đời này sang đời khác ví như: Truyền thống lịch sử, truyền thống
cách mạng, truyền thống văn hóa...
Truyền thống được hình thành trong quá trình hoạt động lịch sử của con người
và có tính ổn định tương đối. Theo cách hiểu thông thường truyền thống là tất cả
những gì được trao truyền, tiếp nối từ đời này sang đời khác không ngừng, không dứt.
1.1.1.2. Truyền thống văn học:
Theo Từ điển thuật ngữ văn học “Truyền thống văn học” là “những thành tựu
chung, đặc sắc tương đối bền vững, ổn định trên cả hai phương diện nội dung và
hình thức của văn học được lưu chuyển, kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác trong
quá trình văn học. Có những truyền thống văn học của một dân tộc hoặc một vùng,
một khu vực gồm nhiều dân tộc có quan hệ mật thiết với nhau, có truyền thống văn
học của cả nhân loại” [63, 299].
Tuy nhiên, “Truyền thống văn học không phải là một hiện tượng ngưng đọng,
khép kín mà không ngừng tự vận động đổi mới. Mỗi bước phát triển của lịch sử xã
hội và lịch sử văn học thường khiến cho hàng loạt giá trị, kinh nghiệm nghệ thuật
từng được xem là truyền thống trở nên bảo thủ lạc hậu. Để giải quyết những nhiệm
vụ nghệ thuật do thời đại đặt ra, người sáng tác hoặc là phải đấu tranh chống lại
những gì đã cũ kỹ, lạc hậu, phải tìm kiếm những lối đi mới”, sáng tạo những giá trị
mới...[63, 230].
Như vậy, truyền thống văn học là những giá trị văn học tinh túy của mỗi dân
tộc được chắt lọc, kết tinh, gìn giữ trong tiến trình văn học dân tộc. Mỗi thời đại, mỗi
“những cách tân chân chính sẽ trở lại thành những truyền thống mới bồi đắp thêm
cho kho tàng kinh nghiệm đã vượt qua sự thử thách của thời gian của những thế hệ đi
trước” [63, 230].
Nhìn như vậy có thể thấy, “kế thừa truyền thống và cách tân nghệ thuật là
những phương diện không bao giờ tách rời của quá trình văn học” [63, 230].
1.2. Hành trình sáng tạo thơ của Hữu Thỉnh:
1.2.1. Quan niệm của Hữu Thỉnh về thơ:
Hữu Thỉnh thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ. Khi Hữu Thỉnh đến với thơ, đội ngũ nhà thơ chống Mỹ đã rất đông đảo từ những
nhà thơ lớp trước với những phong cách sáng tạo già dặn, độc đáo: Tố Hữu, Chế Lan
Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Tế Hanh, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hoàng Trung
8
Thông... đến lớp nhà thơ trẻ ít nhiều đã ổn định về cá tính sáng tạo: Bằng Việt, Xuân
Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Mỹ, Lê Anh Xuân, Nguyễn
Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Thanh Thảo... Có thể nói, mỗi nhà thơ bằng kinh nghiệm
sống, bằng tài năng và tâm huyết đã đem đến một cách nhìn, một cách cảm nhận và
từ đó cách thể hiện riêng về cuộc chiến tranh, về con người, về cuộc đời... tạo nên sự
phong phú, đa dạng của nền thơ chống Mỹ. Xuất hiện ở chặng cuối cuộc kháng chiến
chống Mỹ, từ trong dòng chung của thơ chống Mỹ, Hữu Thỉnh không ngừng suy tư,
trăn trở, tìm cho mình một “lối đi riêng, một giọng điệu riêng”. Đến với thơ Hữu
Thỉnh, do vậy người đọc dễ dàng cảm nhận được “chất” riêng, những dấu ấn sáng tạo
riêng hệ quả của những suy tư, trăn trở, những quan niệm sâu sắc, nghiêm túc của nhà
thơ về thơ.
1.2.1.1. “Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình”
Một trong những nét đặc sắc của thơ chống Mỹ là sự hiện diện đông đảo của
đội ngũ các nhà thơ – chiến sỹ, những người lính trực tiếp cầm súng và cầm bút, trực
tiếp “đánh giặc” và “làm thơ”. “Văn thơ đối với họ như một phương tiện nhập thân
với xã hội” (Vũ Quần Phương). Nói như Thanh Thảo “Trước khi làm thơ, trong khi
“Thơ cứ đến” ngay trong Đêm chuẩn bị, ngay trước trận đánh đầy cam go:
Đêm ngủ hầm thèm sách vở
Nghe tiếng chim hồi hộp chân trời
“Thơ cứ đến” ở cái khoảnh khắc người lính “Ôm súng bò lên với trái tim tình
nguyện”, cận kề bên cái chết, thơ cùng người lính quyết giành giật “ghì” giữ lấy từng
gốc sim cằn, từng tấc đất thiêng của Tổ quốc “Thơ cứ đến” khi người lính phải đối
mặt với những trận mưa rừng xối xả, giữa những “trận rét rừng xoắn tím cả làn môi”.
“Thơ cứ đến” ngay giữa đại ngàn Trường Sơn “Đường ngổn ngang đường đất còn
cháy khét” mùi bom đạn, giữa cơn sốt rét rung người, giúp người lính vượt lên tất cả:
Anh bỗng quên vừa qua cơn sốt
Rừng bỗng quên vừa trận bom đau
(Tiếng hát trong rừng)
10
“Thơ cứ đến” và mang đến “...dù chỉ ít/ dòng Nho Quế ngọt ngào lên với các anh”
đang khát từng giọt nước nơi điểm chốt chon von trên đỉnh núi giữa cái nắng như
thiêu như đốt, giữa hơi đá núi nóng đến “nung người”. Chính vì thế, thơ Hữu Thỉnh
đã thật sự trở thành những “Bài ca người lính”, trở thành cội nguồn sức mạnh, đủ để
mỗi người lính “vịn” vào những câu thơ ấy “... Sưởi trên những câu thơ ấy/ Cứ thế
qua đi nhiều mừa mưa” và đi tới chiến thắng. Thơ ấy là thứ thơ “gan ruột” - Thơ của
người trong cuộc viết về người trong cuộc. Trong quan niệm của Hữu Thỉnh, thơ
không thể thờ ơ, xa lạ với cuộc sống và con người; thơ không thể là “những dây bìm
trang trí/ Kéo nhòe đi những rễ cây tứa nhựa/ Bão động rừng sao thơ chỉ rung rinh”
1.2.1.2. “Tôi rất tin: Thơ là kinh nghiệm sống”
Theo Khrapchenkô trong cuốn Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển
của văn học “Kinh nghiệm sống, những gì mà nhà văn đã nhìn thấy và trải qua,
những sự kiện mà nhà văn đã tham dự, những con người, những số phận mà tâm lý và
hành động khiến cho nhà văn chú ý. Tất cả những điều đó đều là cội nguồn cho
hùng của cuộc kháng chiến gian khổ và từ những máu thịt ấy mình ngồi trước trang
giấy cầm bút viết”... “Trong Đường tới thành phố, hình ảnh người mẹ quê nhà chính
là người mẹ của tôi, quê hương yêu dấu chính là quê hương vùng Trung du Phú Thọ
của tôi, người chị chờ chồng là chị dâu tôi”.
Trường ca biển là những trải nghiệm máu thịt của Hữu Thỉnh sau những năm
tháng “neo mình vào biển” “Tôi qua mấy tầng mặn chát” của biển và “Biển và tôi
trong tiếp xúc toàn thân” – “ tôi gần như hóa biển”. Đến độ:
Biển ngấm vào anh thành một khối mặn mòi
Sóng ngấm vào anh thành muôn nỗi lênh đênh
Bão ngấm vào anh thành niềm khao khát sống
Chống lại cái chết trong vùng chết
Có thể nói, giống như Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh là người đã “mang được
Trường Sơn nhiều nhất vào thơ” (Vũ Quần Phương). Mỗi bài thơ, mỗi câu thơ của
Hữu Thỉnh đều là trải nghiệm sống của người lính ở chiến trường, đều thấm mồ hôi,
nước mắt và máu của chính ông và đồng đội. Từ những chuyến hành quân “Những
bước chân khua rộn cả không gian/ Qua dốc đá vịn vai nhau mà bước”, đến những
“Đêm chuẩn bị”, lúc vượt qua “Chuyến đò đêm giáp ranh”, khi đi trong mây, tắm
bên cầu Chaki hay câu cá bên bờ sông Sê Pôn; từ những “ý nghĩ không vần” cuộn lên
12
ngay khi ngồi trên tháp pháo xe tăng “Vượt qua những hố bom tức tối/ Vượt trọng
điểm này để tới chỗ xung phong”; những bâng khuâng, suy vấn trước tượng Bay On
“Nụ cười ẩn giữa binh đao nói gì ?” đến những tổn thất, mất mát, hy sinh không thể
gì đo đếm người lính phải sống trải hàng ngày, hàng giờ: “Chưa kịp đặt ba lô... cùng
nhau bới cát/ Dọn chỗ nằm cho đồng chí hy sinh”; những cái chết có thể đến bất chợt,
bất ngờ: chỉ “Sau một cơn ác tính/ Sau một cái rùng mình và cứ thế ra đi”; chỉ sau
“Một tiếng thét/ Một vũng máu/ Một khoảng trống... Tôi gào lên/ Im ắng rợn người”
và “mất bạn”, mất đồng đội; từ những đau đớn thể xác khi bị thương trên chốt vẫn
Thỉnh mới có được những câu thơ đầy ám ảnh về cảm giác thảng thốt như sắp tuột
mất một cái gì của những người lính “Sau những ngày vượt dốc”, lần đầu tiên thấy
biển qua cửa hầm trú ẩn bên bờ biển Phan Thiết: “Trong căn hầm mùi thuốc súng mồ
hôi/ Tim anh đập không sao ghìm lại được/ Gió nồng nàn hơi nước/ Biển như một
con tàu sắp sửa kéo còi đi”. Và những người lính ấy đã ngã xuống khi “chỉ cách
nước một vài gang”...
Nếu như ở mảng thơ chiến trận, bằng sự trải nghiệm của mình Hữu Thỉnh
đã có được những đúc kết về chiến tranh về những mất mát, hy sinh, về những suy tư
trăn trở của người lính thì sau chiến tanh, cũng từ những trải nghiệm của mình nhà
thơ đã có được những chiêm nghiệm, suy tư thức ngộ sâu xa về nhân tình thế thái:
... Ta đâu có đề phòng từ phía những người yêu
Cây đổ về nơi không có vết rìu
(Tự thú)
Anh cứ tưởng sau chiến tranh thì toàn là hạnh phúc
Chúng ta đã từng vò võ đợi nhau
Nhưng không phải em ơi, cuốc kêu không phải thế
.....................
Tôi cứ tưởng không còn ai xấu nữa
Tôi cứ tưởng tốt với nhau bao nhiêu cũng còn chưa đủ
Nhưng không phải, trời ơi, cuốc kêu không phải thế
(Nghe tiếng cuốc kêu)
Cả bài Hỏi với những câu hỏi chua chát được lặp lại tới ba lần ở kết bài là sự
tinh kết thấm thía sự sống trải đến đáy của nhà thơ trước cái “đa sự đa đoan” của cuộc
đời, ở cái thời “mất mùa nhân ngãi”.
Chỉ từ những trải nghiệm cuộc sống gian khó của những người lính đảo thời
bình “Phải gồng mình cả khi yên tĩnh nhất”, Hữu Thỉnh mới có được những câu thơ
thấm thía đến tận cùng tình cảm thiêng liêng của người lính với đất đai Tổ quốc:
Biển có đảo biển đỡ lặp lại mình
Đảo có lính đất non thành Tổ quốc
... Bàn chân lính đánh vần trên đất đai Tổ quốc
đó, một trong những điều nhà thơ quan tâm sâu sắc trước hết là phải tìm cho mình,
tạo lập cho thơ mình có được một “giọng điệu riêng, “một tiếng nói riêng”, một “cá
tính sáng tạo” theo quan niệm của Khrapchenkô. Theo Từ điển thuật ngữ văn học “Cá
tính sáng tạo là biểu hiện rực rỡ của các phạm trù cái chủ quan, cái cá biệt, cái không
lặp lại trong tài năng của nghệ sĩ... Biểu hiện tập trung ở cái nhìn nghệ thuật độc đáo,
ở cách cảm, cách nghĩ của nhà văn, có khả năng đề xuất những nguyên tắc nghệ thuật
mới mẻ, tạo thành một ngôn ngữ nghệ thuật mới trong việc biểu hiện những nội dung
mới của đời sống tư tưởng”.
15
Hữu Thỉnh không trực tiếp bàn về cá tính sáng tạo, không lập thuyết nhưng qua
cách nhà thơ bàn về thơ, về vẻ đẹp của thơ và đặc biệt qua thực tiễn sáng tạo thơ của
Hữu Thỉnh, có thể thấy ngay từ khi đến với thơ Hữu Thỉnh đã có ý thức phải sáng
tạo và khát khao tạo được tiếng nói mới lạ cho thơ mình. Hữu Thỉnh nhận thức rất
sớm về quy luật Tâm lý sáng tạo nhân nói về vấn đề “Nhập cuộc và hành động vẻ
đẹp của thơ ca kháng chiến”, nhà thơ khẳng định: “Đã làm thơ, hay bất cứ cái gì dính
dáng đến văn chương, ai cũng mong và cố làm cho hay, vội vã khổ sở làm cho
hay”[96]. Muốn có thơ hay, trước hết phải “nhập cuộc” và “dấn thân” sâu sắc vào đời
sống, “dấn thân không phải để đi tìm một thứ siêu nghệ thuật, phi nghệ thuật nào cả,
mà là môt hành trình gian khổ và nghiêm trong tiếp cận sự thật và cái đẹp”. Chính vì
thế, Hữu Thỉnh luôn quan niệm nhà thơ phải “sống” thật để có được những “kinh
nghiệm sống” của chính mình. Đó là cái gốc, là cơ sở để có thể viết được thật xác
đáng “sự thật và cái đẹp”:
Đừng viết về chúng tôi như cốc chén đứng trên bàn
Hãy viết về chúng tôi như dòng sông chảy xiết
(Đường tới thành phố)
Nếu như Nguyễn Duy khẳng định nhà thơ phải có cá tính riêng, phải nói bằng
tiếng nói của mình:
những bài thơ của Hữu Thỉnh lần lượt đến với công chúng: Ý nghĩ không vần, Qua
sông, Sau trận đánh, Giấc ngủ trên đường ra trận...Tuy nhiên, phải đến Chuyến đò
đêm giáp ranh và Sức bền của đất – hai bài thơ được tặng giải nhất cuộc thi thơ của
báo Văn nghệ 1975 – 1976 tên tuổi Hữu Thỉnh mới thực sự được khẳng định. Những
bài thơ trận mạc bật lên từ hiện thực đời sống chiến trường với những đói, những rét,
những đổ máu, hy sinh nhưng cũng nhiều thương cảm, thấm đẫm tình đời dó sau này
được tập hợp trong tập Âm vang chiến hào ghi nhận một chặng đầu đáng nhớ - thơ
chiến trận của Hữu Thỉnh. Ngay ở tập thơ đầu trong đó đã có thể thấy được nét riêng
của thơ Hữu Thỉnh: “Không mấy tô hồng, biểu dương mà gần với tình đời thực”.
Năm 1975, chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất, nhưng như Hữu Thỉnh
từng tâm sự: “Hiện thực chiến tranh, cuộc sống của người lính dội vào tôi mạnh đến
mức, vượt ra khỏi một thời đoạn, một đề tài. Nó thành một tâm thế”. Với tâm thế của
người từng ngụp lặn sống chết trong chiến tranh, nhìn lại và tổng kết, hai trường ca
Sức bền của đất (hoàn thành dịp Tết Ất Mão, 1975) và Đường tới thành phố (viết từ
8/1977, hoàn thành 4/1978) ghi nhận những thành công và đóng góp mới, đặc sắc,
đáng trân trọng của nhà thơ.
17
Với quy mô nhỏ gồm 188 câu thơ trường ca Sức bền của đất được chia thành
ba khúc: Mẹ chiến hào, Đất đai truyền thuyết, Những đứa con và những bài hát mới
ghi lại tâm tình của những người lính giữa chiến trường. Ở nơi hàng ngày hàng giờ
phải giáp mặt với kẻ thù, giữa cái sống và cái chết người lính suy tư về cội nguồn sức
mạnh của mình và đồng đội – sức mạnh được truyền dẫn từ lòng mẹ, từ đất đai quê
hương, từ các thế hệ đi trước và từ truyền thống văn hóa của dận tộc. Những suy tư
đằm sâu và thấm thía.
Đường tới thành phố gồm 5 chương, 1539 câu thơ được ghi nhận là tác phẩm
quan trọng nhất của đời thơ Hữu Thỉnh và cũng là tác phẩm giá trị của nền thơ Việt
Nam hiện đại. Đường tới thành phố đánh dấu sự chín muồi của thơ Hữu Thỉnh cả
lửa chiến trường những người lính đốt lên ở giữa” (Đường tới thành phố) mở rộng cả
hai chiều không gian: “Trước mặt là bao nhiêu miền quê” – những miền quê người
lính đang ngày đêm hy sinh, chiến đấu để tiến về giải phóng và “Sau lưng là bao
nhiêu miền quê” – miền hậu phương nơi Mẹ vẫn đỏ miếng trầu/ Ấm một vùng tin cậy
phía sau” – yêu thương, chắt chiu dành dụm cho con, cho tiền tuyến chiến đấu và
chiến thắng. Nhờ đi sâu vào những quặng vỉa tình cam của con người trong cuộc,
những uẩn chìm của hiện thực đời sống, thơ viết về chiến tranh của Hữu Thỉnh có sự
kết hợp nhuần nhị giữa chất triết lý, chính luận với chất trữ tình nồng hậu đằm thắm,
không dễ lẫn, không dễ nhạt nhòa.
1.2.2.2. Thơ viết về đời sống hậu chiến
Thơ viết về đời sống hậu chiến của Hữu Thỉnh gồm hai tập Thư mùa đông,
Thương lượng với thời gian và Trường ca Biển. Được viết trong bối cảnh mới: đất
nước hòa bình, ở giai đoạn cuối của thời kỳ bao cấp và thời mở cửa, đổi mới, sáng
tác của Hữu Thỉnh thời kỳ này cũng có những chuyển đổi mới. Tuy nhiên với tầm thế
của con người từng sống trải qua chiến tranh, đã có những độ chín cả về tư tưởng và
cảm xúc, đặc biệt biết đi sáu vào nỗi niềm của con người nên ngòi bút Hữu Thỉnh
không bị hụt hẫng, không có dấu hiệu bị gián đoạn. Từ những trăn trở, suy tư về Tổ
quốc, về chiến tranh, về nhân dân và người lính, thờ Hữu Thỉnh nhanh chóng bắt
mạch vào những suy tư trăn trở về hạnh phúc, khổ đau, về thế thái nhân tình của thời
hậu chiến. Thực ra ngay từ thời chiến tranh, Hữu Thỉnh đã có “Những dự cảm thắc
thỏm về ngày mai, một ngày mai hòa bình nhưng rồi số phận khắc nghiệt không kém
gì trong chiến tranh”. Và khi ra khỏi cuộc chiến tranh, cuộc sống hòa bình nảy sinh
nhiều phức tạp, bộn bề. Những giá trị cũ bị đảo lộn, những giá trị mới vẫn chưa được
19
xác lập; vấn đề đạo đức, nhân sinh thế sự, với tất cả sự nhiễu nhương của nó đã tác
động không nhỏ đến con người và đến mỗi người cầm bút. Trong “mẫu số chung” đó,
thơ Hữu Thỉnh cũng có những chuyển đổi trong cả nội dung cảm hứng và giọng điệu.
20
đam mê, khao khát yêu tin; chính những người mà ta yêu thương, tin cậy lại khiến ta
tan nát tổn thương và đổ vỡ:
Người yêu thơ chết vì những đồn văn
Người say biển bị dập vùi trong sóng
Người khao khát chết vì roi mơ mộng
Ta yệu mình tan nát bởi mình ơi
(Tự thú)
Cũng như Tự thú, Hỏi, Hạnh phúc, Nghe tiếng cuốc kêu... và hầu hết Thư mùa
đông, Thương lượng với thời gian tiếp tục là những trăn trở, suy tư đằm sâu của Hữu
Thỉnh về cói nhân sinh, về nhân tình thế thái. 56 bài thơ, mỗi bài là “một lời tâm sự,
một trăn trở, một thao thức về cuộc đời, về tình yêu và cả đạo lý đối nhân xử thế”.
Tuy nhiên, nếu Thư mùa đông phần lớn là những câu “Hỏi”, những lời “Tự thú” có
phần đau đớn, chua chát thì ở Thương lượng với thời gian, bên cạnh những câu “Hỏi”
day dứt:
Có gì mới? Ngày đi hay cát đến
Có gì vui? Gió thổi lấy lòng cây
Có gì bền? Nhân nghĩa có còn đây
(Nghẹn)
...Tôi như cây biết giấu lá vào đâu
Giữa gió bụi cõi người ?
(Bóng mát)
Hữu Thỉnh đã gắng tìm những câu trả lời:
Hãy yêu lấy con người
Dù trăm cay nghìn đắng
Đến với ai gặp nạn
Xong rồi, chơi với cây
2.1.1.1. Cảm hứng về quê hương
Quê hương, đất nước là nguồn cảm hứng lớn, dạt dào trong thơ Việt. Hữu
Thình đã kế thừa sáng tạo nguồn cảm hứng đó và để lại được những dấu ấn đậm đà
đã góp phần làm phong phú nguồn mạch cảm hứng chủ đạo này. Theo tự bạch của
nhà thơ, quê ông là một làng quê ở Trung du ở chân núi Tam Đảo. Làng tôi ngày xưa
nghèo lắm vì đây là miền đất thiếu nước và bạc màu. Nới đây còn lưu giữ nhiều
phong tục cổ, tiếng cổ và những di tích đền chùa. Rất nhiều truyền thuyết dân gian đã
được sinh ra từ vùng đất cổ này. Xưa kia khi chưa có hệ thống mương tưới nước
người ta đào những cái chuôm để lấy nước mưa. Thế mà, ngay cả những ao chuôm ấy
cũng được thần thánh hóa là bước chân ông Gióng. Các giếng nước giữa làng cũng
chất chứa bao huyền thoại. Làng tôi tựa lưng vào những cánh đồi Trung du lúp xúp
kéo dài mãi tới chân núi Tam Đảo, còn phía trước là cánh đồng rộng mênh mông...
Vậy đó, vùng đất ấy vừa có cái cổ xưa hoang dã... đặc biệt là bảo tồn được vốn văn
hóa dân gian [97].
Sinh ra ở quê, sống gắn bó với quê, “hồn thơ Hữu Thỉnh đá thấm đẫm chất dân
gian vừa bay bổng lãng mạn vừa mặn mòi gian khó của quê hương”. Và vì thế, quê
hương hiển hiện trong thơ Hữu Thỉnh cũng thấm đượm sắc vẻ riêng với những Sang
thu, Chiều sông Thương, Thảo nguyên, Bình yên... đầy sức ám ảnh. Có thể nói, thơ
Hữu Thỉnh là cả một thế giới đa màu sắc của vùng Trung du quê hương ông: “Ôi con
sông màu nâu/ Ôi con sông màu biếc/ Dâng cho mùa sắp gặt/ Bồi cho mùa phôi pha/
Nắng thu đang trải đầy/ Bên cầu con nghé đợi/ Cả chiều thu sang sông” (Chiều sông
Thương). Nặng lòng với quê hương, Hữu Thỉnh luôn dành cho quê hương những tình
cảm tha thiết nhất. Ông đã đưa vào thơ những hình ảnh mang đậm hồn quê với những
cỏ hội hè, những đám mây mùa hạ, những cỏ đội bờ, cau ấp bẹ, những trởi bỏ ngỏ,
những chiều bỏ không, những cây rơm gầy, rơm rạ nằm mơ... Ông nhớ đến từng
tháng ở quê hương “Tháng chạp gầy hoa mua nhen nhúm nở/ Tím như là an ủi cả
chiều đông”; “Nhớ tháng bảy tầm tầm bong bóng vỡ/ Ếch mong mưa kêu váng ở sau
nhà”; tháng ba “Đom đóm bay ra hoa gạo đỏ/ Mẹ ở nhà đã cất áo bông”...
23
Tàu vẫn chậm và đông người chạy bữa
Bóng bố khuất qua nhà ga Chí Chủ
Sắn độ này lên giá quẩy tong teo
(Đường tới thành phố)
Được lắng lọc qua tình cảm tâm trạng của người lính xa quê, xa gia đình, Quê
hương trong thơ Hữu Thỉnh chính là phần hồn, phần kí ức - nơi nhà thơ gửi gắm
những hồi ức, những kỉ niệm, những dấu ấn không thể phai nhòa. Quê hương là nơi
lưu giữ những ngọt ngào, những lời ru dịu êm của tình yêu đôi lứa: “Hai nhà dựa
lưng vào nhau/ Cành xoan bên ấy ngả đầu sang đây/ Lá sả đấy gội đây say/ Ru em
bên ấy, bên này thiu thiu”, thân thương và bình dị, thiêng liêng và thường trực. Quê
hương với Hữu Thỉnh là vùng “hoa cỏ miền đồi” trung du, ở đó luôn thấp thoáng
bóng dáng của những hồi ức đẹp đẽ, ngọt ngào. Đó là những kỷ niệm lớn dần cùng
thời gian đi theo suốt cuộc đời. Chính những tình yêu nhỏ bé, mộc mạc bình dị, nhẹ
nhàng với từng ngọn cỏ, lá cây, điệu hát lời ru, từng góc nhỏ, mùa sang... đó lại kết
nên tình yêu quê hương nồng nàn, cháy bỏng. Quê hương còn gắn liền với những
hình ảnh từ mẹ, từ cha, từ hiện thực cuộc sống, từ cảnh quê, tình quê gắn với những
kỷ niệm tuổi thơ đùa nghịch vui chơi quanh gốc đa làng, quanh giếng nước, sân đình
– nơi ghi dấu cả một trường kỳ lịch sử và văn hóa của cộng đồng.
Quê hương với Hữu Thỉnh luôn là cái nôi đưa, là “nhà ga”, là điểm dừng chân
cho mỗi người con. Chiến tranh kiên cường và anh dũng là vậy, trải qua trường kỳ
kháng chiến cho độc lập dân tộc, hòa bình lập lại, quê hương trở lại sự thanh bình vốn
có, với những “Bình yên” của những “buổi sáng thức dậy”, của những “hạnh phúc”,
của sự êm ả, tĩnh lặng, nơi nảy sinh những suy tư, tâm cảm con người như được trỗi
dậy. Là nơi ngồi ôn lại những kỷ niệm của trận chiến, những khoảnh khắc còn đọng
lại sau chiến tranh, để thấm nhuần thêm “sức bền của đất”:
Có cái khát của nhiều trận đánh
Có niềm vui trước mỗi cơn mưa