BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_____________
ĐẶNG NGỌC THÁI
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƯỞNG
NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC
SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN LONG ĐIỀN,
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU.
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.05.
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ HẠNH NGA
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2008.
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với:
- Ban Giám hiệu, Phòng Khoa học công nghệ - Sau Đại học trường
Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Tâm lý - Giáo dục trường
Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.
- Các thầy giáo, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập và viết luận văn.
- Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tiến só Đỗ Hạnh
Nga, người đã hết sức tận tình, chu đáo trực tiếp hướng dẫn khoa học và
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn:
- Lãnh đạo và chuyên viên phòng GD&ĐT huyện Long Điền.
Viết tắt
CBQL
CĐSP
CNTT
CNH - HĐH
ĐTB
GV
GVCN
HĐGDNGLL
HS
PPDH
QLGD
QLNT
SGK
NQTW
TS
THCS
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đảng và Nhà nước ta đã xác đònh mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, giàu
mạnh, dân chủ và tiến lên chủ nghóa xã hội. Muốn hoàn thành nhiệm vụ đó, giáo dục phải
đóng vai trò chủ đạo trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao – những con người có
đủ kiến thức, sức khỏe, tay nghề, kỹ năng sống, năng lực tự thích nghi, tự sáng tạo để giải
quyết những vấn đề mà cuộc sống đặt ra.
NQTW 4 khóa VII (tháng 2 năm 1993) đã xác đònh phải “khuyến khích tự học”. NQTW
2 khóa VIII (tháng 7 năm 1996) tiếp tục khẳng đònh: “Từng bước áp dụng các phương pháp
khó khăn trong việc dành thời gian hướng dẫn HS tự học vì lượng kiến thức khá nhiều. Nhiều
GV còn chuyển biến chậm trong việc thay đổi phương pháp giảng dạy phù hợp với yêu cầu
của chương trình cũng như thiếu đầu tư trong việc vận dụng phương pháp và phương tiện mới
nên kết quả dạy và học chưa cao. Do phương pháp giảng dạy của GV có ảnh hưởng lớn đến
phương pháp tự học của HS nên cần thiết phải phân tích được các ảnh hưởng chủ quan và
khách quan về nhận thức, tay nghề của GV nhằm xây dựng các chủ trương, giải pháp thích hợp
cho việc đẩy mạnh phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động, tự học
của HS.
Trong công tác quản lý nhà trường, các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng (HT) nhằm
nâng cao năng lực tự học cho HS vẫn còn mang tính tự phát, đối phó và thiếu đồng bộ bởi chưa
xuất phát từ lý luận khoa học phù hợp. Trọng tâm công tác quản lý nhà trường của HT – quản
lý quá trình dạy và học, trong đó có phát triển năng lực tự học của HS – chưa được đầu tư đúng
mức nên chưa đáp ứng tốt yêu cầu và nhiệm vụ giáo dục.
Vì những nguyên nhân trên, người nghiên cứu xin chọn đề tài “Thực trạng về công tác
quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh trung học cơ sở ở
huyện Long Điền, tỉnh Bà Ròa – Vũng Tàu.” với mong muốn đánh giá đúng thực trạng quản
lý của HT các trường THCS trên đòa bàn và bước đầu đưa ra một số biện pháp quản lý khả thi
trên cơ sở lý luận khoa học và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn về học tập của HS, giảng dạy
của GV, quản lý chỉ đạo của cán bộ quản lý (CBQL) ở các trường THCS nhằm góp phần vào
sự phát triển giáo dục – đào tạo trong thời kỳ mới.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về tự học và thực trạng chất lượng tự học của HS THCS,
người nghiên cứu bước đầu đề xuất một số biện pháp quản lý của HT nhằm nâng cao năng lực
tự học cho HS THCS.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
3.1. Xác đònh cơ sở lý luận của việc xây dựng biện pháp quản lý của HT nhằm nâng cao
năng lực tự học cho học sinh THCS
3.2. Phân tích thực trạng tự học của học sinh THCS và thực trạng công tác quản lý của
7.3. Phương pháp phỏng vấn:
Phương pháp này được sử dụng để phỏng vấn trực tiếp một số CBQL, GV và HS khi tìm
hiểu nhận thức, thái độ, sự quan tâm của họ về những vấn đề mà đề tài nghiên cứu.
7.4. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Người nghiên cứu sử dụng phiếu này để tìm hiểu thực trạng:
- Vấn đề về nhận thức, thái độ, mức độ quan tâm, phương pháp và kỹ năng tự học của
HS.
- Vấn đề về thực trạng giảng dạy và đổi mới phương pháp giảng dạy của GV
- Vấn đề về phương pháp quản lý của HT trong việc nâng cao năng lực tự học cho HS.
Số lượng câu hỏi cho từng loại phiếu như sau:
+ Phiếu thăm dò ý kiến HS có 14 câu hỏi, mẫu thăm dò là 506 phiếu
+ Phiếu thăm dò ý kiến GV có 15 câu hỏi, mẫu thăm dò là 312 phiếu.
+ Phiếu thăm dò ý kiến CBQL có 16 câu hỏi, số lượng 16 phiếu.
7.5. Phương pháp quan sát:
Người nghiên cứu sử dụng phương pháp này để tìm hiểu:
- Công tác quản lý của HT trong hoạt động tự học của HS
- Hoạt động giảng dạy, công tác chủ nhiệm và giáo dục ngoài giờ lên lớp của GV
- Hoạt động tự học của HS.
7.6. Phương pháp toán thống kê:
Dùng trong khi xử lý số liệu từ phiếu điều tra.
8. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI:
8.1. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tự học của HS và công tác quản
lý của HT trong việc nâng cao năng lực tự học cho học sinh THCS tại huyện Long Điền
8.2. Xây dựng hệ thống các biện pháp quản lý của HT nhằm nâng cao năng lực tự học
cho học sinh THCS tại huyện Long Điền. Nếu phù hợp có thể áp dụng cho các trường THCS
nằm trên những đòa bàn tương tự.
9. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương sau:
hiện tượng – nhắc đến từ thế kỷ XVII: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm,
phán đoán, phát triển nhân cách...hãy tìm ra phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học
sinh học nhiều hơn” [35].
J.J. Rousseau (1712-1778) đã viết trong tác phẩm Ê-min nổi tiếng của mình: “...khêu gợi
tinh thần yêu chuộng khoa học và cấp cho các em phương pháp học khoa học khi nào tinh thần
yêu chuộng khoa học phát triển hơn nữa. Đó là nguyên tắc căn bản của một nền giáo dục tốt.”
[50, tr. 475].
Rải rác trong nhiều tác phẩm khác nhau, những nhà triết học của phương Tây đã tiếp tục
bàn về tư tưởng tự học, sự phát huy tính tích cực nhận thức của người học trong các tác phẩm
của mình. Những tư tưởng ấy đã góp phần đặt nền móng cho sự phát triển của giáo dục hiện
đại.
1.1.2. Các quan điểm và tư tưởng trong giai đoạn hiện đại
1.1.2.1. Trên thế giới
Thế kỷ XX chứng kiến những bước nhảy vọt lớn lao của toàn nhân loại. Nhằm đào tạo
những con người có đủ kiến thức, năng lực phục vụ cho sự tiến bộ xã hội, các nhà giáo dục đã
đưa ra nhiều quan điểm tiến bộ dựa trên những cơ sở lý thuyết tâm lý, giáo dục khác nhau.
Trên cái nền chung ấy, tư tưởng tự học đã được đi sâu nghiên cứu dưới nhiều góc độ. Phần lớn
các nghiên cứu đều nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động tự học đối với sự phát triển tư
duy cũng như rèn luyện thói quen học tập và nghiên cứu suốt đời cho người học. Mặt khác, các
nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra được: muốn nâng cao năng lực và hiệu quả tự học, GV phải biết
tổ chức các hoạt động nhận thức cũng như hướng dẫn tự học cho học sinh.
Nhà giáo dục Mỹ J. Dewey (1859-1952) đã khẳng đònh: “Toàn bộ quá trình giáo dục
phải được hiểu là quá trình học suy nghó thông qua giải quyết các vấn đề” để từ đó hình thành
và phát triển trí tuệ. Và từ trí tuệ đi đến năng lực giải quyết vấn đề [35].
Trong tác phẩm “Tự học như thế nào”, nhà bác học, nhà văn hóa Nga N.A. Rubakin
(1862-1946) đã chỉ ra phương pháp tự học để nâng cao kiến thức, mở rộng tầm nhìn. Rubakin
đặc biệt chú trọng đến việc đến việc đọc sách. Ông khẳng đònh: hãy mạnh dạn tự mình đặt câu
hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời – đó chính là phương pháp tự học.
UNESCO bản báo cáo “Học tập – một kho báu tiềm ẩn”. Báo cáo đã phân tích nhiều vấn đề
của giáo dục trong thế kỷ XXI, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của người học, cách
học cần phải được dạy cho thế hệ trẻ.
Trong cuốn sách nổi tiếng Cách mạng học tập (1999), Cordon Dryden và Jeannette Vos
đã đề ra công thức MASTER để hướng dẫn người học phát huy năng lực học tập của bản thân
(M = Mind set for successs, A = Acquire knowledge, S = Search out the meaning, T = Trigger
the memory, E = Exhibit knowledge, R = Reflect how to learn). [27, tr. 93].
Hầu hết các nghiên cứu gần đây của các nhà giáo dục đều cho rằng: giáo dục ở thế kỷ
XXI đã có những thay đổi lớn nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo những con người có năng lực
tự quyết đònh. Trong tương lai gần, mỗi người học sẽ phải có đủ các phẩm chất: tự học (self
learning), tự tổ chức (self organizing), tự quyết đònh (self defining) và tự phát triển (self
developing). [4, tr.87]
1.1.2.2. Ở Việt Nam
Chủ tòch Hồø Chí Minh – tấm gương sáng về tự học – đã nhiều lần nhắc nhở chúng ta coi
trọng việc tự học. Trong bài “Sửa đổi lối làm việc” (1947), Người viết: “Lấy tự học làm cốt.
Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”. Sau này nói về công tác huấn luyện và học tập (1950),
Người nhấn mạnh: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học...Không phải có thầy thì học, thầy
không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập.”. “Muốn có nhiều cán bộ, Đảng phải giúp đỡ
cán bộ tự học tập.”[1].
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng – nhà lãnh đạo vô cùng tâm huyết với sự nghiệp giáo
dục của dân tộc – cũng đã từng nói: “...bí quyết quan trọng nhất là phương pháp học tập...”[35,
tr. 13]
Nguyên Phó Chủ tòch nước Nguyễn Thò Bình đã nêu vấn đề phát huy nội lực để phát
triển đất nước: “Nếu biết kết hợp quá trình đào tạo ở trường, lớp với quyết tâm tự học – tự đào
tạo thì đó là con đường ngắn nhất để tạo ra nội lực cần thiết cho sự phát triển của một con
người và cho đất nước.”
Như vậy, việc phát huy năng lực tự học cho HS đã dựa trên nền tảng quan điểm chỉ
đạo của Đảng và Nhà nước ta nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực phục vụ cho sự nghiệp
phát triển đất nước trong thời kỳ CNH – HĐH. Năng lực tự học được rèn luyện và dần dần
được nâng cao tạo thành một năng lực cơ bản để người học có thể học suốt đời. Trong xã hội
hiện đại, tự học suốt đời là quyền và nghóa vụ của con người, giúp họ có khả năng thích ứng
cao với mọi tình huống của đời sống, bắt nhòp được sự bùng nổ của thông tin, khoa học và công
nghệ.
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, các nhà giáo dục Việt Nam đã nhìn ra được tầm quan
trọng của việc tự học. Cố giáo sư Tạ Quang Bửu (nguyên bộ trưởng Bộ Đại học và THCN) đã
nhấn mạnh với sinh viên ĐHBK Hà Nội nhân buổi nói chuyện tại trường vào năm 1970: “Tự
học là khởi nguồn của phong cách tự đào tạo, đồng thời là cái nôi nuôi dưỡng trí sáng tạo. Ai
giỏi tự học khi đang ở trường, người đó sẽ tiến xa.”
Các nhà sư phạm hàng đầu của Việt Nam như Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Đặng
Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ, Thái Duy Tiên...đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động tự học
của người học. Hầu hết các tác giả đều cho rằng năng lực tự học không chỉ cần thiết cho HS
khi ngồi trên ghế nhà trường mà còn trong cả cuộc đời. Hình thành năng lực tự học cho học
sinh trở thành một mục tiêu cơ bản của giáo dục nhà trường.
Trong tác phẩm “Dạy cách học”(2003), tác giả Vũ Văn Tảo đã điểm qua xu thế phát
triển giáo dục trên thế giới hiện nay. Tác giả đã làm rõ quan hệ mới giữa dạy và học. Theo đó,
việc học và người học được xem là lý do của việc dạy và người dạy. Cốt lõi của việc học là tự
học. Do đó, khâu quan trọng nhất trong việc dạy là dạy cách tự học, cách rèn luyện tư duy
phân tích, tổng hợp, tư duy phê phán, sáng tạo.
Tác phẩm “Quá trình dạy – tự học” (2001) do Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên là tác phẩm
có kế thừa và bổ sung những tác phẩm tâm huyết trước đó của ông và những cọâng sự như
“Luận bàn và kinh nghiệm về tự học” của Nguyễn Cảnh Toàn (1995), “Dạy học giải quyết
vấn đề” của Vũ Văn Tảo và Trần Văn Hà (1996), “Phương pháp giáo dục tích cực, lấy người
học làm trung tâm” của Nguyễn Kỳ (1995)...Tác phẩm đã đưa ra quan điểm: thực chất của dạy
– học lấy người học làm trung tâm là dạy – tự học. Tác động từ thầy là ngoại lực, năng lực và
+ Tự học trong cuộc sống: thường gặp ở các nhà văn, các nhà văn hóa, các nhà kinh tế,
các nhà chính trò – xã hội...
Tác giả cũng nêu ra các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học như: động cơ, tố chất,
năng lực, ý chí...của người học; GV, cha mẹ, bạn bè và xã hội; các điều kiện vật chất và tinh
thần xung quanh người học nhằm giúp người học tìm ra chỗ yếu để bổ sung nhằm tự học có
hiệu quả [48].
Vũ Văn Tảo đònh nghóa: “Học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó
chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trò con người mình bằng cách thu
nhận, xử lý thông tin lấy từ môi trường sống xung quanh mình.” [40, tr.6].
Tác giả Võ Quang Phúc cho rằng: “Tự học là một bộ phận của học...Tự học phản ánh
rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và sự nỗ lực của người
học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt kết quả nhất đònh
trong hoàn cảnh nhất đònh với nội dung học tập nhất đònh.”
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn – tấm gương sáng về tự học - lại quan niệm: “Tự học là tự
mình động não, suy nghó, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp...)
và có khi cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan,
thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì,
nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi..) để chiếm
lónh một lónh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lónh vực đó thành sở hữu của mình” [44,
tr. 60].
Tác giả cũng chia tự học làm ba kiểu: tự học ở mức cao, tự học có hướng dẫn và tự học
giáp mặt. Tác giả đặc biệt nhấn mạnh dạng tự học có hướng dẫn như là một giải pháp quan
trọng để giải quyết một số khó khăn mà ngành giáo dục đang gặp phải.
Nhìn chung, các đònh nghóa tuy có khác nhau về câu chữ nhưng nội hàm của các khái
niệm đều nhấn mạnh đến tính tự chủ, tính độc lập và tích cực của người học trong quá trình
nhận thức và chiếm lónh tri thức khoa học. Người thầy (hay tài liệu, SGK...) chỉ đóng vai trò là
ngoại lực tác động, hướng dẫn. Muốn thành công, người học phải phát huy nội lực, ý chí, sự
hiểu biết, sự say mê học tập...để tự suy nghó và xử lý thông tin. Hoạt động tự học có thể diễn
Thành phần của năng lực gồm: kỹ năng, kỹ xảo, tri thức và thái độ.
Năng lực tự học:
Từ khái niệm về tự học và năng lực nêu trên, ta có thể khái quát về năng lực tự học:
Năng lực tự học là những thuộc tính tâm lý hoặc kỹ năng mà nhờ chúng người học tự
mình xử lý các thông tin, các vấn đề được đặt ra trong học tập cũng như trong cuộc sống nhằm
biến kiến thức của nhân loại thành sở hữu của riêng mình một cách hiệu quả nhất [32].
Năng lực tự học được hình thành và phát triển do nhận thức, thái độ và phương pháp tự
học tốt của bản thân người học, đồng thời phải được tác động của phương pháp dạy học
(PPDH), phương tiện học tập và các điều kiện giáo dục trong và ngoài nhà trường.
Năng lực tự học tốt sẽ giúp người học có điều kiện tự nghiền ngẫm vấn đề học tập theo
một yêu cầu và phương pháp riêng để nắm nội dung vấn đề một cách chắc chắn và bền vững,
bồi dưỡng phương pháp học tập và kỹ năng vận dụng tri thức, rèn luyện ý chí và năng lực hoạt
động sáng tạo. Năng lực tự học của mỗi người là do bản thân người ấy tự xây dựng và phát
triển thông qua quá trình hoạt động bản thân và là phẩm chất cần thiết cho sự phát triển và
thành đạt lâu dài cho mỗi con người.
Nâng cao năng lực tự học cho HS có nghóa là nâng cao những phẩm chất, kỹ năng, kỹ
xảo...cần thiết để HS tiến hành tự học một cách hiệu quả. Từ đó, say mê và tự giác học tập để
chiếm lónh tri thức. Năng lực tự học được nâng cao sẽ thúc đẩy, kích thích hoạt động tự học
trong quá trình học tập, từ đó tăng hiệu quả chất lượng học. Như vậy, chất lượng học tập của
HS là thước đo hiệu quả tự học và hiệu quả tự học xác đònh mức độ giá trò của năng lực tự học.
1.2.2. Vai trò của tự học và năng lực tự học
Trong nền kinh tế tri thức và sự bùng nổ thông tin như hiện nay, tự học là chiếc chìa
khóa thần kỳ giúp con người học tập hiệu quả. Kiến thức của nhân loại tăng lên nhanh chóng,
nhu cầu luân chuyển tri thức ngày càng cao nên con người muốn thích ứng, hòa nhập, tự khẳng
đònh cá nhân mình thì phải không ngừng bổ túc tri thức bằng con đường tự học.
Tự học là cơ sở cho việc hình thành năng lực tự học để người học có thể học tập suốt đời
đồng thời rèn luyện tác phong nghiên cứu khoa học. Phương pháp tự học là cầu nối giữa học
tập và nghiên cứu khoa học. Một yếu tố quan trọng đảm bảo thành công trong học tập và
và trình độ phát triển tư duy của HS mà hướng dẫn cho HS phương pháp tự học, để ngoại lực
của thầy kết hợp với nội lực của trò nhằm hoàn thành mục tiêu dạy học. Dạy để trò biết tự học
và hình thành năng lực tự học tốt trở thành mục tiêu giáo dục.
Tóm lại, tự học là hoạt động tất yếu, là bộ phận không thể thiếu của hoạt động học.
Quản lý hoạt động dạy và học trong nhà trường phải quản lý hoạt động tự học.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và nâng cao năng lực tự học cho học
sinh THCS
1.2.3.1 Ảnh hưởng của động cơ học tập
Khi HS ý thức được nhiệm vụ học tập như một mục đích tự giác của bản thân thì lúc đó ở
học sinh xuất hiện động cơ học tập. Động cơ học tập là sự giác ngộ nhiệm vụ học tập, là động
lực của quá trình dạy học. Nói khác đi, động lực của quá trình dạy học là mâu thuẫn giữa trình
độ hiểu biết phải đạt tới theo yêu cầu của chương trình với trình độ hiểu biết hiện có của học
sinh trước khi nghiên cứu vấn đề đó.
Nhiệm vụ của GV ở khâu khởi động quá trình dạy học là phải biến mâu thuẫn khách
quan này thành mâu thuẫn chủ quan của HS để học sinh có nhu cầu hiểu biết và hình thành