Thực trạng quản lý thực tập báo chí tại trường cao đẳng phát thanh truyền hình II - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
---------------------------

Nguyễn Thị Mai Thu

Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số
: 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS BÙI NGỌC OÁNH

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGD&ĐT

: Bộ Giáo dục và đào tạo

BGH

: Ban Giám hiệu

BLV

: Bình luận viên


: Giáo sư

GS. VS

: Giáo sư Viện sĩ

GS. TS

: Giáo sư Tiến sĩ

GS.TSKH

: Giáo sư Tiến sĩ Khoa học

GV

: Giáo viên

KT

: Kỹ thuật

NXB

: Nhà xuất bản

PGS

: Phó Giáo sư


: Ủy ban nhân dân

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Khoa học Công nghệ Sau đại học Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt khóa học và trong việc hoàn thành luận
văn này.
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, hướng
dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập,
nghiên cứu.
Xin cảm ơn Ban giám hiệu trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình II,
các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ, giúp đỡ, động viên tạo điều kiện để chúng tôi
yên tâm học tập.
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS. Bùi Ngọc Oánh, người đã
tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo để chúng tôi hoàn thành luận văn này.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày tháng năm
Tác giả
Nguyễn Thị Mai Thu


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực
quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đại hội Đảng lần thứ X

lượng, sử dụng được trên các phương tiện thông tin đại chúng, được bạn đọc, công chúng chấp
nhận.
Từ ngày thành lập đến nay, việc tổ chức và quản lý thực tập ở trường Cao đẳng PT-TH II
đã được các thế hệ Ban giám hiệu quan tâm chỉ đạo và thực hiện, song nhìn lại vẫn còn một số
tồn tại. Nhất là trong giai đoạn trước mắt, trường vừa được nâng cấp lên hệ Cao đẳng với số
lượng sinh viên tăng cao, đòi hỏi phải có kế hoạch tương ứng.
1.3. Nghiên cứu khoa học về vấn đề thực tập nghề cho học sinh sinh viên nói chung đã có
nhiều tài liệu, luận văn thạc sĩ khác đề cập, song chưa có một công trình nghiên cứu về quản lý
thực tập báo chí của ngành Phát thanh-Truyền hình khu vực phía Nam. Vì vậy, chúng tôi mạnh
dạn chọn đề tài: “Thực trạng việc quản lý thực tập báo chí tại trường Cao đẳng Phát thanhTruyền hình II”, với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả thực tập cho học sinh, sinh viên;
thực hiện phương châm giáo dục đúng đắn của Đảng “Học đi đôi với hành”.
2. Mục đích nghiên cứu
Phân tích thực trạng của việc quản lý thực tập của trường Cao đẳng PT-TH II trong
những năm qua, để tìm ra những giải pháp cụ thể nhằm giúp nhà trường, các bộ phận có liên
quan có thể quản lý việc thực tập của học sinh hệ trung học chuyên nghiệp và sinh viên hệ cao đẳng
một cách chặt chẽ, hiệu quả hơn.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
-Thực trạng công tác quản lý thực tập báo chí tại trường CĐ PT-TH II.
3.2. Khách thể nghiên cứu
- Hoạt động thực tập của sinh viên khoa báo chí trường CĐ PT-TH II.
- Sinh viên trường Cao đẳng PT-TH II.
- Giáo viên trường Cao đẳng PT-TH II.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Công tác quản lý việc thực tập báo chí ở khoa báo chí trường CĐ PT-TH II.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Xây dựng những cơ sở lý luận liên quan đến việc thực tập và quản lý thực tập báo chí.
- Thực trạng việc quản lý thực tập báo chí của trường CĐ PT-TH II.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thực tập.

Nghị quyết của Đảng, văn bản của Ngành giáo dục.
 Tham khảo các nguồn tư liệu từ sách báo, tạp chí, internet có liên quan đến
vấn đề nghiên cứu.
7.5. Phương pháp quan sát


Thực hiện bằng cách tiếp cận, xem xét để thu thập dữ liệu thực tế về hoạt động thực tập và
hoạt động quản lý thực tập, để đánh giá sự phù hợp giữa phương pháp quan sát và phương pháp
điều tra.
Đối tượng quan sát: Phòng đào tạo, Khoa báo chí, Sinh viên khoa báo chí, các Trưởng phó
khoa, các cơ sở tiếp nhận sinh viên đến thực tập.
Mục đích của việc quan sát là tìm hiểu thực trạng của việc quản lý thực tập của Phòng đào
tạo, Khoa báo chí, sự phối hợp với các bộ phận có liên quan.
7.6. Phương pháp sử dụng toán thống kê
Dùng toán thống kê xử lý số liệu điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu, định lượng chính
xác từng nội dung, nâng cao tính thuyết phục của các số liệu được nêu ra trong luận văn.


Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hoạt động thực tập nói chung từ lâu đã được thực hiện ở các trường Sư phạm, Y khoa…
Vấn đề thực tập không phải là một vấn đề hoàn toàn mới lạ, xuất phát từ yêu cầu rèn luyện
nâng cao tay nghề cho sinh viên, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp xúc với môi trường thực tế,
trên cơ sở vận dụng những kiến thức đã học; vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học, giáo dục
quan tâm nghiên cứu.
Bộ giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) đã ban hành bộ chương trình thực tập sư phạm thống
nhất cho tất cả các trường sư phạm. Qua nhiều lần chỉnh sửa, thay đổi, bổ sung (vào các năm
1974, 1982, 1986), chương trình thực tập sư phạm chính thức được áp dụng tại các trường Cao
đẳng sư phạm hiện nay. Đó chính là bộ chương trình được ban hành kèm theo các Quyết định
số 3086/GD-ĐT ngày 27/7/1996, Quyết định số 3637/GD-ĐT ngày 30/8/1996 của Bộ trưởng

viên báo chí; tiến tới đào tạo theo chế tín chỉ theo qui định của Bộ GD-ĐT.
+ Một số đề tài nghiên cứu khoa học:
- “Thực trạng việc quản lý thực tập ở trường Cao đẳng bán công hoa sen và một số giải
pháp” (2004)–Luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Trân Thúy- Trường Cao đẳng bán công Hoa sen.
Đây là một công trình nghiên cứu phân tích thực trạng của việc quản lý thực tập của trường
Hoa Sen. Từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm giúp cho nhà trường, các bộ phận liên
quan, các khoa, ngành có thể quản ký việc thực tập của sinh viên một cách chặt chẽ, hiệu quả
hơn.
-“Quản lý hoạt động thực tập sư phạm ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang- Thực
trạng và giải pháp” (2003) – Luận văn thạc sĩ của tác giả Phan Phú- Trường Cao đẳng sư phạm
Nha Trang. Đây là một công trình nghiên cứu đi sâu vào việc phân tích thực trạng của việc
quản lý thực tập tại trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang, các nguyên nhân dẫn đến thực trạng,
để từ đó đưa ra những giải pháp căn cứ trên các điều kiện thực tế của trường nhằm quản lý tốt
hơn hoạt động thực tập.
-“Kiến tập và thực tập sư phạm” (1999) – Giáo trình đào tạo giáo viên Trung học cơ sở
hệ Cao Đẳng sư phạm dùng cho các trường Cao Đẳng sư phạm của Tiến sĩ Nguyễn Đình Chỉnh
và Tiến sĩ Phan Trung Thanh. Các tác giả đã nêu lên những vấn dề đang được đặt ra hiện nay
đối với hoạt động thực tập sư phạm và đề xuất những giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo nghề cho giáo sinh.


-“Thực tập sư phạm” (1997) của Tiến sĩ Nguyễn Đình Chỉnh đã nêu lên và giải quyết
những vấn đề cơ bản như: xác định nội hàm khái niệm cơ bản là năng lực sư phạm; mối quan
hệ giữa lý thuyết và thực hành; thực tập sư phạm đối với những môn học công cụ như: tâm lý
học, giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn; các hình thức tổ chức thực tập sư phạm ở các
trường sư phạm.
Như vậy, các đề tài quản lý hoạt động thực tập tuy chưa nhiều nhưng thực sự là vấn đề
được nhiều người quan tâm nghiên cứu và cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về từng
chuyên ngành. Với nguồn tài liệu thu thập được, chúng tôi nhận thấy chưa có tác giả nào đề cập
và nghiên cứu vấn đề này ở phạm vi một trường Cao đẳng giảng dạy báo chí, nên đã chọn đề tài

hội học tập”. Thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản
xuất, nhà trường gắn với xã hội”.
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta ngày càng coi trọng vai trò của giáo dục, quan tâm nhiều
hơn, đòi hỏi giáo dục phải đổi mới và phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của tầng lớp
nhân dân về học tập và tiếp thu những kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp, rèn luyện những phẩm
chất, năng lực cần thiết trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập nền
kinh tế quốc tế.
Phương hướng phát triển giáo dục trong những năm sắp tới là phải: Tiếp tục nâng cao
chất lượng toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, phát huy tinh thần độc lập,
sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề.
Để thực hiện được nhiệm vụ trên, cần phải đặc biệt coi trọng công tác hướng nghiệp và
phân luồng cho học sinh, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp; mở
rộng quy mô và phát triển đa dạng các loại hình trường Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.
Hiện đại hóa một số trường dạy nghề, tăng nhanh tỷ lệ lao động được đào tạo trong toàn bộ lao
động xã hội. Đào tạo để thế hệ trẻ có nghề nghiệp theo yêu cầu của xã hội là nhiệm vụ trước
mắt mà ngành giáo dục phải đặc biệt quan tâm.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống giáo dục đại học- cao đẳng chiếm một vị trí
vô cùng quan trọng. Vì thế, nâng cao chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học để đáp ứng yêu cầu
của thực tiễn giáo dục, thiết thực phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước là yêu
cầu bức thiết trong giai đoạn hiện nay.
Điều 36 của Luật giáo dục đã ghi: “Đào tạo trình độ cao đẳng phải đảm bảo cho sinh viên
có những kiến thức khoa học cơ bản và chuyên ngành cần thiết; chú trọng rèn luyện kỹ năng cơ
bản và năng lực thực hiện công tác chuyên môn”.
Nét đặc thù cơ bản trong nội dung và phương pháp đào tạo ở các trường cao đẳng, đại
học chính là đào tạo nghề. Trong đào tạo nghề thì việc rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho sinh
viên để đáp ứng nhu cầu của thực tế xã hội là một yêu cầu phải đựơc đặt lên hàng đầu. Do vậy,
nội dung thực hành, thực tập phải chiếm một tỷ trọng khá lớn trong nội dung chương trình đào


tạo. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề, cũng chính là thực hiện theo tinh thần của Nghị quyết



Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Đảng mạnh vì Đảng ta tư tưởng nhất trí, hành động
nhất trí, suốt từ trên xuống dưới. Tờ báo của Đảng có nhiệm vụ làm cho tư tưởng hành động
thông suốt và thống nhất”.
Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu cũng đã từng nhắc nhở: Báo chí Việt Nam rất cần
phát huy nội lực trong thời kỳ mới, nâng cao chất lượng chính trị, văn hóa, khoa học của tác
phẩm báo chí Việt nam….Muốn hiểu, muốn chia xẻ với nhân dân phải có mặt ở những nơi tiêu
biểu nhất, sôi động nhất của cuộc sống.
Phát biểu tại buổi làm việc với Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam, nhân kỷ niệm 82
năm ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, ngày 20/06/2007, đồng chí Trương Tấn Sang -Ủy
viên Bộ chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã có bài phát biểu quan trọng. Đồng chí nhấn mạnh:
“Báo chí góp phần tích cực vào việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thông tin, cổ vũ các
phong trào hành động cách mạng, phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp
nhân dân; phát hiện, cổ vũ những nhân tố mới, điển hình tiên tiến, chống tham nhũng, lãng phí,
quan liêu, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các
thế lực thù địch; góp phần thắt chặt tình hữu nghị, sự hợp tác nhiều mặt của đất nước ta với bạn
bè quốc tế.”
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X chỉ rõ: “Hướng báo chí xuất bản làm tốt chức năng
tuyên truyền, thực hiện đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước; Tạo điều kiện
cho các lĩnh vực xuất bản, thông tin đại chúng phát triển, nâng cao chất lượng tư tưởng văn hóa,
vươn lên hiện đại về mô hình, cơ cấu tổ chức, cơ sở vật chất- kỹ thuật; đồng thời xây dựng cơ
chế quản lý phù hợp, chủ động và khoa học”
Đặt báo chí trong tiến trình đổi mới, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá: “Sau Đại
hội Đảng lần thứ X, qua một số hoạt động của Đảng và Nhà nước, bước đầu đã tạo được sự
đồng thuận và hưởng ứng tích cực của nhân dân, nhất là về phát triển kinh tế, cải cách hành
chính và về thái độ kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Kết quả này có
sự đóng góp tích cực của báo chí”.
Chỉ thị số 37/2006/CT-TTg, ngày 29/11/2006, của Thủ tướng Chính phủ về việc thực

- “Hoạt động có sự tác động qua lại giữa hệ thống và môi trường, do đó: quản lý được
hiểu là việc đảm bảo hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ
thống và môi trường, là chuyển động của hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh
mới” [33]
- Quản lý là tác động có định hướng, có kế họach của chủ thể quản lý đến tập thể những
người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến. [31,
tr.35]


- Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân
biến thành những thành tựu của xã hội. (Trần Kiểm- Giáo trình “Quản lý giáo dục và trường
học”- Viện khoa học giáo dục, Hà Nội. [44, tr.15]
- Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể
quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung. (Khoa học tổ chức và quản lý-một số vấn đề lý luận và
thực tiễn, Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức quản lý - NXB Thống kê- Hà Nội - 1999).
[36]
- Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp
hoạt động của họ trong quá trình lao động. (TS. Nguyễn Bá Sơn: Một số vấn đề cơ bản về khoa
học quản lý, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000). [32]
- Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp,
sử dung, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức
(chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất. [45]
- Quản lý là: phải biết đào tạo, bồi dưỡng, chia sẻ trách nhiệm, quyền hạn và phải biết ủy
quyền. [37]
- Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người
quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận
hành và đạt được mục đích của tổ chức. [31]
Như vậy, quản lý bao gồm các thành phần:
+ Chủ thể quản lý và tác động trong quản lý.
+ Mục tiêu quản lý.

nhân và tổ chức, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và có hiệu quả.
Bản chất của hoạt động quản lý là tổ chức, chí huy và điều khiển phù hợp quy luật của
chủ thể quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả những mục tiêu của tổ chức (đơn vị) đã đề ra.
1.2.2.2. Quản lý giáo dục
- Theo M.M. Mêchti- Zade, quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức,
phương pháp cán bộ, kế hoạch hóa, tài chính, cung tiêu…) nhằm bảo đảm sự vận hành bình
thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ
thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng.
- Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục (và nói riêng, quản lý trường
học) là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp với qui luật của chủ thể quản lý
(hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đuờng lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực
hiện được các tính chất của nhà trường XHCN của Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình
dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới
về chất.” [31]


- Theo TS Trần Kiểm thì khái niệm “quản lý giáo dục” có nhiều cấp độ. Hai cấp độ chủ
yếu là cấp vĩ mô và cấp vi mô. [44]
Đối với cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích,
có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống
(từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục của nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu
quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành Giáo dục.
Đối với cấp vi mô: Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý
thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo
viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài
trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.
- Theo TS. Nguyễn Gia Quý “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản
lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định, trên cơ sở nhận
thức vận dụng đúng những qui luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân.” [35]
- Quản lý giáo dục là việc đảm bảo sự hoạt động của tổ chức trong điều kiện có sự biến

Đối tượng và
khách thể quản lý
giáo dục

Mục tiêu

Phương pháp

Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý giáo dục
1.2.2.3. Quản lý nhà trường
Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thành lập
theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục.
Trường học là bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống giáo dục quốc
dân. Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của nhà trường, mọi hoạt động đa dạng, phức
tạp khác đều hướng vào hoạt động trung tâm này. Do vậy, quản lý trường học thực chất là:
Quản lý hoạt động dạy- học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái
khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục.
GS.VS Phạm Minh Hạc đã đưa ra khái niệm về quản lý nhà trường như sau: “Quản lý
nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức
là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào
tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh. Việc quản lý nhà trường là quản lý
hoạt động dạy học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để
dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục.” [41]


PGS.TS Trần Tuấn Lộ xác định “Quản lý trường học là sự quản lý của Hiệu trưởng đó
với toàn bộ những con người, những hoạt động, những tổ chức và những phương tiện vật chất,
kỹ thuật, tài chính của trường để đạt cho được mục tiêu của sự giáo dục (và đào tạo) học sinh
loại trường đó” [45]
Tóm lại, Quản lý nhà trường là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích

thực tập sư phạm), cũng là giai đoạn mà một người phải tạm thời đến làm việc tại doanh nghiệp
để hoàn tất chương trình đào tạo.
* Thực tập báo chí là gì?
Theo TS. Nguyễn Thị Minh Thái- Khoa Báo chí trường ĐH KHXH&NV (ĐHQG HN),
thực tập báo chí là giai đoạn sinh viên báo chí thực hiện các khả năng làm phóng viên, bình
luận viên, biên tập viên, cộng tác viên, thông tín viên cho các cơ quan truyền thông đại chúng
như báo in, đài phát thanh, đài truyền hình, báo trực tuyến, hãng thông tấn, các cơ quan xuất
bản, quảng cáo, quan hệ công chúng… [56]
Theo TS. Đinh Văn Hường- chủ nhiệm khoa báo chí Trường Đại học KH XN & NV
(ĐHQG HN), thực tập báo chí là một phần rất quan trọng trong chương trình đào tạo cử nhân
báo chí, là cơ hội quí giá để sinh viên tiếp xúc với thực tế tác nghiệp tại các cơ quan báo đài,
rèn luyện năng lực cho bản thân, tích lũy kinh nghiệm trước khi chính thức bước vào nghề báo.
Kỳ thực tập chủ yếu là để sinh viên hội nhập với môi trường báo chí, vận dụng những gì đã học
vào công việc, rèn luyện phong cách làm việc, biết ứng xử trong các mối quan hệ… [13]
Theo ThS. Phạm Đình Lân- Phó chủ nhiệm khoa Báo chí trường ĐH KHXH&NV ĐQG
HN: “Thực tập báo chí là để sinh viên biết thêm về hoạt động của các cơ quan báo chí, có cơ
hội để thực hành kiến thức trong nhà trường, thu thập kinh nghiệm thực tiễn, chuẩn bị hành
trang khi ra trường. Đây có thể là thời gian chuyển giao để các em tiếp cận với nghề nghiệp, với
công việc sắp tới”.
Theo bà Melinda McAdams- GS ngành báo chí trực tuyến của Trường Báo chí và truyền
thông, ĐH Florida, Mỹ, thực tập báo chí có nghĩa là sinh viên phải làm những công việc y như
họ sẽ làm thật tại tòa soạn sau khi tốt nghiệp. Họ phải lao vào cuộc sống, tìm tòi đề tài và viết
bài. [60]
Từ những ý kiến trên có thể nói, thực tập báo chí là một hình thức thực hành nghề
nghiệp, rèn luyện các kỹ năng chuyên môn, tác nghiệp báo chí, giúp sinh viên từng bước nâng
cao tay nghề, hoàn thiện ý thức và tình cảm nghề nghiệp. Đây là khoảng thời gian sinh viên tìm
một cơ sở truyền thông và đến đó làm việc như một nhân viên thực thụ, chấp hành mọi qui định
của nơi thực tập, được nơi tiếp nhận quản lý và đánh giá. Thời gian này sẽ giúp sinh viên làm
việc một cách vững vàng hơn sau khi tốt nghiệp, hoặc sẽ chọn đựơc những công việc phù hợp
hơn với khả năng của chính mình trong tương lai.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status