Hiệu quả của báo chí với công chúng sinh viên báo chí. Nghiên cứu rường hợp Trường Cao đẳng phát thanh-truyền hình TW1 năm 2007 - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Đỗ Văn Trọng Hiệu quả của báo chí với công chúng sinh viên
báo chí. Nghiên cứu trường hợp trường cao
đẳng phát thanh – truyền hình Trung Ương 1
năm 2007
Luận văn ThS. Truyền thông đại chúng: 60.31.01

Nghd. : PGS.TS. Mai Quỳnh Nam

6. Phƣơng pháp nghiên cứu
11
7. Giả thuyết nghiên cứu
13
8. Kết cấu của luận văn
13
PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

1.1. Cơ sở lý luận
20
1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về truyền thông đại chúng
20
1.1.2. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về truyền thông đại chúng
23
1.1.3. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về truyền thông đại
chúng
26
1.1.4. Lý thuyết của Marx Weber về đối tƣợng nghiên cứu của truyền
thông đại chúng
29
1.1.5. Học thuyết của Haold Lasswell và Claude Shannon về truyền
thông đại chúng
30
1.2. Các khái niệm công cụ
35
1.2.1. Truyền thông
35
1.2.2. Truyền thông đại chúng

50
2.1.2.1. Thời gian và địa điểm và cách thức đọc báo
51
2.2.2.2. Thời gian và địa điểm và cách thức nghe đài phát thanh
54
2.2.2.3. Thời gian và địa điểm và cách thức xem truyền hình
57
2.1.2.4. Thời gian và địa điểm và cách thức truy cập Interner
59
2.2. Nhu cầu và mức độ tiếp nhận thông tin của công chúng sinh viên báo
chí
62
2.3. Những vấn đề được quan tâm của công chúng công sinh viên báo chí
73
2.3.1. Những nội dung thông tin đƣợc quan tâm
72
2.3.1.1. Những thông tin thời sự, chính trị
74
2.3.1.2. Những thông tin văn hoá, văn nghệ
80
2.3.2. Những thể loại tác phẩm báo chí đƣợc quan tâm
82
2.3.2.1. Tin

2.3.2.2. Phóng sự

2.3.2.3. Phỏng vấn, toạ đàm

2.3.3. Nhu cầu và mức độ trao đổi thông tin của công chúng sinh viên
báo chí


4
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết và lí do chọn đề tài
Năm 1946, lần đầu tiên thuật ngữ truyền thông đại chúng đƣợc sử dụng
trong “Lời nói đầu của Hiến chƣơng Liên hiệp quốc về văn hoá, khoa học và
giáo dục”. Hiện nay, thuật ngữ này đã phổ biến rất rộng rãi các phƣơng tiện
truyền thông đại chúng, tác động hàng ngày, hàng giờ đến sự phát triển của từng

đơn điệu và ngày càng thể hiện đƣợc vai trò là cầu nối giữa Đảng và Dân.
Thông tin hai chiều đƣợc thực hiện trên báo chí : một mặt tuyên truyền, giải
thích đƣờng lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc đến với công
chúng mặt khác phản ánh những nguyện vọng, ý kiến phản hồi của công chúng
trong quá trình thực hiện đƣờng lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nƣớc.
Nói đến báo chí là nói đến các loại hình của nó nhƣ : Báo in, báo ảnh,
phát thanh, truyền hình, internet …Đó là các bộ phận, các kênh thông tin cơ bản
nhất, cốt lõi nhất, tiêu biểu cho sức mạnh, bản chất và xu hƣớng vận động của
thông tin đại chúng.
Trong thực tế, mỗi loại hình báo chí có những thế mạnh và những hạn chế
riêng , chẳng hạn nhƣ: báo in có khả năng lƣu trữ lâu, đồng thời đi sâu phân tích
chi tiết các sự kiện hiện tƣợng, công chúng của loại hình báo chí này có thể tiếp
nhận thông tin ở mọi nơi, mọi lúc mọi thời điểm khác nhau. Hạn chế cơ bản của
loại hình báo chí này là khó có khả năng phát hành rộng rãi tới công chúng ở
vùng sâu, vùng xa…Phát thanh, Truyền hình có thế mạnh là nhanh, đồng thời,
rộng khắp, hàng triệu triệu công chúng có thể tiếp nhận thông tin đồng thời với
thời điểm diễn ra sự kiện. Nhƣng hạn chế của nó là tính thoảng qua, khả năng
lƣu trữ kém …đòi hỏi công chúng tiếp nhận thông tin từ loại hình báo chí này
phải hết sức tập trung, quá trình thông tin bị phụ thuộc vào làn sóng, thời tiết …
Ở nƣớc ta các loại hình thông tin đại chúng đồng thời tồn tại và phát triển,
chúng không những không loại trừ nhau, mà ngƣợc lại còn bổ khuyết, hỗ trợ
cho nhau tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất
nƣớc.

6
Hiện nay, cả nƣớc ta có khoảng 14.000 nhà báo chuyên nghiệp đang hoạt
động. Ngoài ra còn có hàng ngàn cộng tác viên, thông tin viên và một đội ngũ
đông đảo đang hoạt động trong lĩnh vực thông tin xã hội. Đó là cán bộ ở các
phòng thông tin văn hoá, các đài truyền thanh cấp huyện, xã…

đƣợc đặt dƣới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng và quản lí của Nhà nƣớc. Chính
vì vậy, các hoạt động xuất bản và phát hành ấn phẩm của hệ thống này đều đƣợc
dựa trên những cơ sở thống nhất nhƣ :
- Dấu hiệu về nghề nghiệp ( Giáo dục thời đại, Quân đôi nhân dân, Ngƣời
làm báo )
- Dấu hiệu về lứa tuổi ( Nhi đồng, Thanh niên, Tuổi trẻ, Ngƣời cao tuổi…)
- Dấu hiệu về lãnh thổ ( Hà nội mới, Sài gòn giải phóng, Hà tây, Hà
nam…)
- Dấu hiệu về xã hội (Đại đoàn kết, Lao động …)
1)

- Dấu hiệu về giới ( Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô, Nữ sinh …)
- Dấu hiệu về nhu cầu thị hiếu ( Tạp chí Thời trang, Báo Văn Nghệ, tạp chí
Văn nghệ… )
*

Tất cả các dấu hiệu trên là cơ sở để hoạt động xuất bản và phát hành đối
với tất cả các loại hình báo chí, kể cả báo chí trung ƣơng và địa phƣơng. Tất cả
các đấu hiệu trên đều rất xác thực và gần gũi với đời sống xã hội, do đó các đối
tƣợng công chúng đều có thể tiếp nhận những thông tin phù hợp từ hệ thống
truyền thông đại chúng.
Trong thời điểm hiện nay, việc nghiên cứu khảo sát và đánh giá về những
ảnh hƣởng và tác động của truyền thông đại chúng đối với các tầng lớp công
chúng ở nƣớc ta là có tính cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận
và thực tiễn.

*
Dẫn theo Mai Quỳnh Nam “Công chúng thanh niên đô thị và báo chí - nghiên cứu trường hợp
thành phố Hải Phòng năm 2002.” Mai Văn Hai – Mai Quỳnh Nam: Chương IX :Đời sống văn hoá
tinh thần và hoạt động truyền thông đại chúng.Báo cáo Xã hội năm 2000. Trịnh Duy Luân chủ biên,

đoạn hiện nay.

9
Với ý nghĩa trên, luận văn của chúng tôi chọn sinh viên của Trƣờng Cao
đẳng Phát thanh - Truyền hình TW1 ( Trực thuộc đài Tiếng nói Việt Nam ) tại
Hà nam để khảo sát hiệu quả của báo chí với công chúng là sinh viên báo chí .
2. Vài nét về lịch sử nghiên cứu
Nghiên cứu xã hội học về truyền thông đại chúng nằm trong hệ thống tri
thức của xã hội học, đây là một hoạt động khoa học tạo đƣợc sự quan tâm của
cả Báo chí học và Xã hội học truyền thông đại chúng.
Trong lịch sử nghiên cứu về sự tác động của truyền thông đại chúng với
xã hội, các nhà nghiên cứu đã đƣa ra nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau tuỳ
thuộc vào sự biến động của mỗi giai đoạn lịch sử - xã hội nhất định .
Năm 1905, nhà bác học ngƣời Nga Pôpốp phát minh ra vô tuyến điện kéo
theo nó là sự ra đời của đài phát thanh – đây là một bƣớc ngoặt lớn trong lịch sử
phát triển các phƣơng tiện truyền thông đại chúng. Đài phát thanh ra đời với
những ƣu điểm vƣợt trội về tốc độ thông tin cũng nhƣ sự quảng đại trong việc
truyền bá nên đã đƣợc công chúng hào hứng, say sƣa tiếp nhận.
Các nhà nghiên cứu xã hội học thời kỳ này cho rằng các phƣơng tiện
truyền thông đại chúng thực sự có một sức mạnh vạn năng. Tiêu biểu cho
khuynh hƣớng này là quan điểm của trƣờng phái Frankfurt, họ cho rằng với khả
năng của đài phát thanh sẽ rất dễ thuyết phục công chúng, khiến họ phải tin
tƣởng và phục tùng theo các thông điệp và mục đích của nó đƣợc truyền trên
sóng phát thanh. Nhận xét này đƣợc đƣa ra từ sự quan sát số lƣợng công chúng
bị tác động và sự ảnh hƣởng của nội dung thông điệp truyền tải, chƣa dựa trên
những nghiên cứu thực nghiệm đối với công chúng truyền thông.
Năm 1944, Paul Larsfeld cùng các cộng sự đã thông qua nghiên cứu thực
nghiệm đối với cử tri về quyết định bầu cử chỉ ra rằng, các chiến dịch vận động
tranh cử thông qua các phƣơng tiện truyền thông đại chúng hầu nhƣ chỉ làm
tăng thêm sự tin tƣởng vào những ý định sẵn có của cử tri, thực tế ít làm thay

Theo các tài liệu từ tiểu ban nghiên cứu truyền thông đại chúng của Đại hội Xã
hội học thế giới lần thứ XV, tổ chức năm 2002 cho thấy hƣớng nghiên cứu hiệu

11
quả truyền thông đại chúng của mạng Internet đƣợc đặc biệt chú trọng và phạm
vi nghiên cứu không chỉ trong mỗi quốc gia mà mở rộng ra toàn thế giới.
Đến cuối thế kỷ XX, J.Habermas đƣa ra khái niệm “không gian cộng
đồng” trong đó các phƣơng tiện truyền thông đại chúng đóng vai trò trung gian
liên lạc và tiếp xúc trong nội bộ xã hội dân sự, cũng nhƣ nội bộ xã hội xã hội
dân sự và các thiết chế nhà nƣớc. Đồng thời xác định truyền thông đại chúng
không phải là lãnh địa riêng của các nhà truyền thông hay các chuyên gia truyền
thông, nó là diễn đàn chung để thông tin về xã hội về con ngƣời. Truyền thông
đại chúng cũng là nơi thể hiện các mối quan hệ giữa các tầng lớp, các nhóm xã
hội[351, 352].
Nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chúng là một hƣớng nghiên cứu
cơ bản của xã hội hiện đại. Các nƣớc có truyền thống nghiên cứu xã hội học rất
coi trọng hƣớng nghiên cứu này. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi mà các
quan hệ xã hội diễn ra ngày càng phức tạp trong bối cảnh toàn cầu hóa. Truyền
thông đại chúng đƣợc coi là một tác nhân xã hội, cơ bản tạo nên các liên kết xã
hội không chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả trên phạm vi khu vực và quốc tế.
Trong giai đoạn phát triển của xã hội học, truyền thông đại chúng bắt đầu
từ những năm 20 của thế kỷ trƣớc, bao giờ xã hội học cũng hết sức đƣợc coi
trọng, nó đƣợc coi là hƣớng nghiên cứu chủ yếu để xem xét các tác động xã hội
của hệ thống truyền thông đại chúng đối với đời sống xã hội, và để đánh giá
hiệu quả xã hội của hệ thống này.
Ngay từ năm 1910, M.Weber ngƣời đã đặt luận cứ cho các nghiên cứu xã
hội học truyền thông đại chúng đã xếp nghiên cứu về công chúng ở vị trí hàng
đầu trong các vấn đề cần phải ƣu tiên của xã hội học truyền thông đại chúng.
Qua bốn giai đoạn phát triển, nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chúng chỉ
ra rằng: truyền thông đại chúng tạo nên các tƣơng tác xã hội để hình thành hành

công chúng này với hệ thống truyền thông đại chúng trong môi trƣờng chính trị
- xã hội. Đặc biệt, các nghiên cứu này chú ý tới đặc điểm quá trình tiếp nhận
thông tin, xử lí thông tin, cơ chế lây lan thông tin và các thức sử dụng thông tin

13
của họ, coi đó nhƣ những dấu hiệu tin cậy để đánh giá hiệu quả hoạt động của
hệ thống này.
Ngoài ra, tác giả này cũng đƣa ra hàng loạt các nghiên cứu về dƣ luận xã
hội trong các bài viết trên tạp chí Xã hội học nhƣ “Dƣ luận xã hội - mấy vấn đề
lí luận và phƣơng pháp nghiên cứu” ( Tạp chí Xã hội học số 1- 1995), “Dƣ luận
xã hội về con số” ( Tạp chí Xã hội học số 3 – 1996), “ mấy vấn đề về dƣ luận xã
hội trong công cuộc đổi mới” ( Tạp chí Xã hội học số 2 – 1996), “ Vai trò của
dƣ luận xã hội trong cơ chế “ Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” ( Tạp
chí Tâm lí học số 2 – 2000). Trong bài “ Truyền thông đại chúng và dƣ luận xã
hội” ( Tạp chí Xã hội học số 1 – 1996) tác giả đi sâu phân tích mối quan hệ biện
chứng giữa báo chí và công chúng trong quá trình hình thành và thể hiện dƣ
luận xã hội.
Các tác giả khác cũng công bố những công trình nghên cứu về xã hội học
báo chí nhƣ: luận án tiến sĩ xã hội học của tác giả Trần Hữu Quang năm 2000 “
Chân dung công chúng báo chí Thành phố Hồ Chí Minh”. Luận án đi sâu khảo
sát cách thức và mức độ sử dụng các phƣơng tiện truyền thông đại chúng của
công chúng. Trên cơ sở phân tích các hình thức tiếp nhận thông tin từ các
phƣơng tiện truyền thông đại chúng của công chúng, để nhận diện công chúng
trong bối cảnh đổi mới của Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra còn có những công trình nghiên cứu khác nhƣ: luận án tiến sĩ Xã
hội học của tác giả Trƣơng Xuân Trƣờng năm 2002 “ Hiện trạng và vai trò tác
động của truyền thông dân số đối với ngƣời nông dân”, PGS.TS. Nguyễn Văn
Dững “Đối tƣợng tác động của báo chí” trên tạp chí Xã hội học số 4 – 2004,
luận văn thạc sĩ của tác giả Đinh Thị Phƣơng Thảo “ Hiệu quả của truyền thông
đại chúng đối với công chúng thanh niên đô thị” nghiên cứu trƣờng hợp thành

cho những giải pháp nhằm tăng cƣờng hiệu quả của báo chí đối với công chúng
sinh viên báo chí.
15
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề hiệu quả của báo chí với công chúng là sinh viên báo
chí nhằm tìm hiểu :
- Công chúng sinh viên báo chí tiếp cận thông tin nhƣ thế nào?
- Những vấn đề nào truyền tải trên báo chí đƣợc công chúng sinh viên báo
chí quan tâm?
- Dƣ luận xã hội trong tầng lớp công chúng sinh viên báo chí và cách thức
xử lí những thông tin tiếp nhận đƣợc từ báo chí.
- Hiệu quả của việc sử dụng những thông điệp tiếp nhận đƣợc đối với việc
học tập và rèn luyện.
- Góp phần đề xuất những khuyến nghị về giải pháp tăng cƣờng hiệu quả
thông tin tới nhóm công chúng này.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu cách thức tiếp nhận thông tin và hiệu quả việc sử dụng nội dung
các thông điệp đƣợc thông tin trên báo chí.
- Phân tích các hình thức trao đổi thông tin trong nhóm công chúng sinh
viên báo chí.
- Phân tích hiệu quả của báo chí qua hoạt động tiếp nhận và sử dụng thông
tin từ cac phƣơng tiện truyền thông đại chúng của sinh viên báo chí.
5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hiệu quả của báo chí với công chúng là sinh viên báo chí
5.2 Khách thể nghiên cứu

động to lớn của hoạt động truyền thông . Mặt khác, tính phức tạp của h-ớng
nghiên cứu này lại phụ thuộc bởi tính chất đa chức năng của thông tin đại chúng
và các mối quan hệ nhiều chiều ở sự t-ơng tác với hệ thống thông tin đại chúng
trong thực tế
Trên cơ sở áp dụng lí luận báo chí, quan điểm lý thuyết xã hội học chuyên
ngành xem xét hiệu quả tác động của báo chớ với nhóm công chúng là sinh
viên báo chí đ-ợc đặt trong các t-ơng tác xã hội cụ thể.

*
C.Mác và Ph.Ăngghen, Tuyển tập T.1, tr.206. Dẫn theo Mai Quỳnh Nam, "Truyền thông đại chúng và d- luận
xã hội", Tạp chí Xã hội, số 1 (53), 1996, tr.3

17
Quan điểm lý thuyết xã hội học đ-ợc dùng làm cơ sở nghiên cứu ở đây
gồm: Cách phân loại hiệu quả truyền thông đại chúng đối với công chúng do
Weiss (1988) đ-a ra về tác động định l-ợng của truyền thông đại chúng; Những
l-u ý của Moll (1993) khi phân tích chỉ báo độ ghi nhớ của công chúng về nội
dung thông điệp; Nhng vấn đề tạo nên mối quan tâm của giới chuyên môn
trong phân tích hiệu quả của truyền thông đại chúng (liên quan tới:
1. Việc tách giải quyết hoạt động của từng kênh truyền thông cụ thể.
2. Nhận xét của Sechcô (1986) về sự sai lầm khi tách tác động truyền thông đại
chúng ra khỏi ảnh h-ởng từ các cơ sở xã hội khác cùng tác động hàng ngày đối
với công chúng truyền thông.
3. Sự đan xen và t-ơng hỗ giữa giao tiếp đại chúng và giao tiếp cá nhân d-ới tác
động của các ph-ơng tiện truyền thông đại chúng).
4. Lý luận về cơ chế lây lan thông tin; về dòng phản hồi thông tin.
5. Lập luận của M.Weber về tác động của truyền thông đại chúng đối với việc
hình thành ý thức quần chúng và d- luận xã hội [7]
nƣớc. Tuy nhiên, trong hoạt động thông tin cũng đã xuất hiện những xu hƣớng
bất cập, hạn chế nhƣ tính thƣơng mại hóa và có cả những sai lệch trong thông
điệp truyền thông. Điều này sẽ tác động mạnh mẽ đến công chúng sinh viên
báo chí.
8. Kết cấu của luận văn
8.1 Phần mở đầu
Luận văn giới thiệu: Giả thuyết nghiên cứu; Phƣơng pháp nghiên cứu;
Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu; Mục đích và nhiệm vụ nghiên
cứu; Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài; Tính cấp thiết của đề tài nghiên
cứu.
8.2 Phần nội dung luận văn gồm 2 chƣơng
Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Phần 1: Đƣa ra các lí luận về truyền thông đại chúng, trên cơ sở của báo
chí học và xã hội học báo chí. Đặc biệt là các quan điểm lí thuyết về công
chúng của truyền thông và hiệu quả của truyền thông đại chúng. Vài nét về vấn
đề nghiên cứu và hệ thống các khái niệm công cụ phục vụ nghiên cứu.

19
Phần 2: Giới thiệu địa điểm khảo sát, và một số đặc điểm cơ bản của khách
thể nghiên cứu.
Chương 2: Hiệu quả của báo chí với công chúng là sinh viên báo chí
Phần 1: Trình bày kết quả nghiên cứu về hiệu quả tác động của thông tin tiếp
nhận từ báo chí với công chúng là sinh viên báo chí. Thông qua mức độ và các
hình thức tiếp nhận thông tin.
Phần 2: Trình bày kết quả những phân tích về những vấn đề đăng tải trên báo
chí đƣợc sịnh viên báo chí quan tâm.
Phần 3: Trình bày kết quả những phân tích về những dấu hiệu để nhận diện nội
dung của một số phƣơng tiện truyền thông đại chúng.
Phần 4: Trình bày kết quả phân tích về sự tác động của những thông tin tiếp
nhận đƣợc từ báo chí với việc học tập và rèn luyện của sinh viên báo chí.

báo lỗi lạc, luôn rất quan tâm đến hoạt động báo chí, xuất bản. Tƣ tƣởng về
công tác báo chí và hoạt động báo chí xuất bản của những nhà kinh điển này vô
cùng đồ sộ và phong phú – là một bộ phận quan trọng trong hình thái ý thức xâ
hội mác xít.
Từ nhãn quan duy vật lịch sử và chủ nghĩa xã hội khoa học các nhà kinh
điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã giải thích sự ra đời cũng nhƣ bản chất của
báo chí.
Bằng những bài báo, những tác phẩm của mình các nhà cách mạng vô sản
đã thể hiện rất rõ quan điểm của mình: báo chí là vũ khí sắc bén đề chiến đấu
bảo vệ lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động, bác bỏ và vạch trần
luận điệu của những thế lực thù địch. Báo chí cách mạng vô sản phải thực sự là
vũ khí chiến đấu hữu hiệu của giai cấp công nhân, là cơ quan tuyên truyền, tham
gia vào việc tổ chức phát triển xã hội bằng hoạt động ngôn luận. Trọng trách
của báo chí cách mạng là phục vụ lợi ích của nhân dân, vì sự tiến bộ và giải
phóng con ngƣời [36, 18].
Trong thực tế, C.Mác – Ph. Ăng ghen là những ngƣời sáng lập ra nền báo
chí cách mạng mà đấu mốc quan trọng là sự ra đời của tờ báo “Sông Ranh mới”

21
trong những năm 1848 – 1849. Tờ báo này do do C.Mác làm tổng biên tập và
Ph. Ăng ghen là cộng tác viên đắc lực[31, 39]. Tờ báo này gắn liền với phong
trào cộng sản ở châu Âu khoảng giữa thế kỷ thứ XIX.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong xã hội có phân chia
giai cấp thì mỗi con ngƣời phải thuộc về một giai cầp, tầng lớp nhất định và
quyền lợi của các giai cấp trong xã hội là khác nhau thậm chí đối lập nhau. Các
giai cấp tầng lớp trong xã hội đều sử dụng báo chí làm vũ khí chiến đấu để bảo
vệ địa vị chính trị và quyền lợi kinh tế của mình. Chính vì vậy, báo chí của giai
cấp nào thì phản ánh tôn chỉ mục đíc đƣờng lối tƣ tƣởng, tình cảm, nguyện vọng
của giai cấp đó [31, 99].
Báo chí của các Đảng Cộng Sản đƣợc xác định là cơ quan ngôn luận của

hợp lí để tác động đến những biến cố ấy” [37, 12]
Báo chí một mặt cung cấp thông tin cho công chúng, mặt khác nó phản
ánh những tâm tƣ nguyện vọng, ý kiến… của công chúng về những vấn đề thời
sự nóng bỏng của xã hội. Chính vì vậy, nó đƣợc xác định là một trong những
nguồn cung cấp thông tin quan trọng cho những nhà quản lí xã hội. Những
quyết định quản lí chỉ thực sự phù hợp và hiệu quả khi nó dựa trên những thông
tin chính xác từ thực tế cuộc sống. V.I. Lênin đã yêu cầu thành lập một uỷ ban
đặc biệt để thu thập và xử lí thông tin ngay từ những ngày đầu cách mạng: “ Có
thể và nhất thiết phải tổ chức một văn phòng nhƣ vậy, nó có thể đem lại lợi lớn;
Không có nó, chúng ta sẽ không có mắt, không có tai, không có tay để tham gia
các phong trào quốc tế” [39, 156]
V.I. Lênin đề cao sự phù hợp giữa các yếu tố nội dung và hình thức thể
hiện của tác phẩm báo chí. Nó sẽ không đem lại hiệu quả cao với công chúng
khi nội dung thông tin tốt nhƣng cách thể hiện không gần gũi, xa rời với đời
sống nhân dân: “Sự đơn giản, dễ hiểu và phổ cập, nội dung sinh động của tƣ liệu
đƣa ra sẽ đảm bảo cho những tƣ tƣởng của báo chí đi sâu vào lòng ngƣời đọc
thuộc mọi tầng lớp nhân dân” [38, 92].
Từ những quan điểm trên cho thấy: chủ nghĩa Mác – Lênin đánh giá rất
cao vai trò, cũng nhƣ hiệu quả của báo chí trong việc tác động vào xã hội, nó

23
làm thay đổi nhận thức, cũng nhƣ hành vi ứng xử của con ngƣời trong thực tiễn
cuộc sống. Hiệu quả của báo chí sẽ là một sức mạnh to lớn, góp phần hình thành
dƣ luận xã hội, định hƣớng dƣ luận xã hội tích cực trong công chúng.
1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về truyền thông đại chúng
Ở Việt Nam, nền báo chí cách mạng đƣợc đánh dấu bằng sự ra đời của tờ
báo “Thanh niên” ngày 21 – 6 – 1925 do Hồ Chí Minh sáng lập.
Hồ Chí Minh - ngƣời chiến sĩ cộng sản ƣu tú, nhà báo cộng sản đầu tiên ở
đã sáng lập ra nền báo chí cách mạng của giai cấp vô sản ở nƣớc ta. Là ngƣời kế
thừa những tinh hoa của chủ nghĩa Mác – Ăng ghen, Lênin về báo chí vô sản,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status