Thực trạng quản lý thực tập báo chí tại trường Cao đẳng phát thanh truyền hình II - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_____________
ĐẶNG NGỌC THÁI THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƯỞNG
NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC
SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN LONG ĐIỀN,
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU. LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.05. NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ HẠNH NGA DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết đầy đủ Viết tắt
Cán bộ quản lý CBQL
Cao đẳng sư phạm CĐSP
Công nghệ thông tin CNTT
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa CNH - HĐH
Điểm trung bình ĐTB
Giáo viên GV
Giáo viên chủ nhiệm GVCN
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp HĐGDNGLL
Học sinh HS
Phương pháp dạy học PPDH
Quản lý giáo dục QLGD
Quản lý nhà trường QLNT
Sách giáo khoa SGK
Nghò quyết Trung ương NQTW
Tần số TS
Trung học cơ sở THCS PHẦN MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đảng và Nhà nước ta đã xác đònh mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, giàu
mạnh, dân chủ và tiến lên chủ nghóa xã hội. Muốn hoàn thành nhiệm vụ đó, giáo dục phải
đóng vai trò chủ đạo trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao – những con người có

Đối với giáo viên (GV), chương trình mới mang đến cả thích thú lẫn thách thức. Sự hỗ
trợ của công nghệ thông tin (CNTT) tăng thêm hiệu quả cho giờ dạy. Tuy nhiên, GV còn gặp
khó khăn trong việc dành thời gian hướng dẫn HS tự học vì lượng kiến thức khá nhiều. Nhiều
GV còn chuyển biến chậm trong việc thay đổi phương pháp giảng dạy phù hợp với yêu cầu
của chương trình cũng như thiếu đầu tư trong việc vận dụng phương pháp và phương tiện mới
nên kết quả dạy và học chưa cao. Do phương pháp giảng dạy của GV có ảnh hưởng lớn đến
phương pháp tự học của HS nên cần thiết phải phân tích được các ảnh hưởng chủ quan và
khách quan về nhận thức, tay nghề của GV nhằm xây dựng các chủ trương, giải pháp thích hợp
cho việc đẩy mạnh phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động, tự học
của HS.
Trong công tác quản lý nhà trường, các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng (HT) nhằm
nâng cao năng lực tự học cho HS vẫn còn mang tính tự phát, đối phó và thiếu đồng bộ bởi chưa
xuất phát từ lý luận khoa học phù hợp. Trọng tâm công tác quản lý nhà trường của HT – quản
lý quá trình dạy và học, trong đó có phát triển năng lực tự học của HS – chưa được đầu tư đúng
mức nên chưa đáp ứng tốt yêu cầu và nhiệm vụ giáo dục.
Vì những nguyên nhân trên, người nghiên cứu xin chọn đề tài “Thực trạng về công tác
quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh trung học cơ sở ở
huyện Long Điền, tỉnh Bà Ròa – Vũng Tàu.” với mong muốn đánh giá đúng thực trạng quản
lý của HT các trường THCS trên đòa bàn và bước đầu đưa ra một số biện pháp quản lý khả thi
trên cơ sở lý luận khoa học và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn về học tập của HS, giảng dạy
của GV, quản lý chỉ đạo của cán bộ quản lý (CBQL) ở các trường THCS nhằm góp phần vào
sự phát triển giáo dục – đào tạo trong thời kỳ mới.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về tự học và thực trạng chất lượng tự học của HS THCS,
người nghiên cứu bước đầu đề xuất một số biện pháp quản lý của HT nhằm nâng cao năng lực
tự học cho HS THCS.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
3.1. Xác đònh cơ sở lý luận của việc xây dựng biện pháp quản lý của HT nhằm nâng cao
năng lực tự học cho học sinh THCS
3.2. Phân tích thực trạng tự học của học sinh THCS và thực trạng công tác quản lý của

hiểu nhận thức, thái độ, sự quan tâm của họ về những vấn đề mà đề tài nghiên cứu.
7.4. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Người nghiên cứu sử dụng phiếu này để tìm hiểu thực trạng:
- Vấn đề về nhận thức, thái độ, mức độ quan tâm, phương pháp và kỹ năng tự học của
HS.
- Vấn đề về thực trạng giảng dạy và đổi mới phương pháp giảng dạy của GV
- Vấn đề về phương pháp quản lý của HT trong việc nâng cao năng lực tự học cho HS.
Số lượng câu hỏi cho từng loại phiếu như sau:
+ Phiếu thăm dò ý kiến HS có 14 câu hỏi, mẫu thăm dò là 506 phiếu
+ Phiếu thăm dò ý kiến GV có 15 câu hỏi, mẫu thăm dò là 312 phiếu.
+ Phiếu thăm dò ý kiến CBQL có 16 câu hỏi, số lượng 16 phiếu.
7.5. Phương pháp quan sát:
Người nghiên cứu sử dụng phương pháp này để tìm hiểu:
- Công tác quản lý của HT trong hoạt động tự học của HS
- Hoạt động giảng dạy, công tác chủ nhiệm và giáo dục ngoài giờ lên lớp của GV
- Hoạt động tự học của HS.
7.6. Phương pháp toán thống kê:
Dùng trong khi xử lý số liệu từ phiếu điều tra.
8. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI:
8.1. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tự học của HS và công tác quản
lý của HT trong việc nâng cao năng lực tự học cho học sinh THCS tại huyện Long Điền
8.2. Xây dựng hệ thống các biện pháp quản lý của HT nhằm nâng cao năng lực tự học
cho học sinh THCS tại huyện Long Điền. Nếu phù hợp có thể áp dụng cho các trường THCS
nằm trên những đòa bàn tương tự.
9. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực tự học cho
học sinh THCS.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực tự học
cho học sinh THCS ở huyện Long Điền, tỉnh Bà Ròa – Vũng Tàu.

tinh thần yêu chuộng khoa học và cấp cho các em phương pháp học khoa học khi nào tinh thần
yêu chuộng khoa học phát triển hơn nữa. Đó là nguyên tắc căn bản của một nền giáo dục tốt.”
[50, tr. 475].
Rải rác trong nhiều tác phẩm khác nhau, những nhà triết học của phương Tây đã tiếp tục
bàn về tư tưởng tự học, sự phát huy tính tích cực nhận thức của người học trong các tác phẩm
của mình. Những tư tưởng ấy đã góp phần đặt nền móng cho sự phát triển của giáo dục hiện
đại.
1.1.2. Các quan điểm và tư tưởng trong giai đoạn hiện đại
1.1.2.1. Trên thế giới
Thế kỷ XX chứng kiến những bước nhảy vọt lớn lao của toàn nhân loại. Nhằm đào tạo
những con người có đủ kiến thức, năng lực phục vụ cho sự tiến bộ xã hội, các nhà giáo dục đã
đưa ra nhiều quan điểm tiến bộ dựa trên những cơ sở lý thuyết tâm lý, giáo dục khác nhau.
Trên cái nền chung ấy, tư tưởng tự học đã được đi sâu nghiên cứu dưới nhiều góc độ. Phần lớn
các nghiên cứu đều nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động tự học đối với sự phát triển tư
duy cũng như rèn luyện thói quen học tập và nghiên cứu suốt đời cho người học. Mặt khác, các
nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra được: muốn nâng cao năng lực và hiệu quả tự học, GV phải biết
tổ chức các hoạt động nhận thức cũng như hướng dẫn tự học cho học sinh.
Nhà giáo dục Mỹ J. Dewey (1859-1952) đã khẳng đònh: “Toàn bộ quá trình giáo dục
phải được hiểu là quá trình học suy nghó thông qua giải quyết các vấn đề” để từ đó hình thành
và phát triển trí tuệ. Và từ trí tuệ đi đến năng lực giải quyết vấn đề [35].
Trong tác phẩm “Tự học như thế nào”, nhà bác học, nhà văn hóa Nga N.A. Rubakin
(1862-1946) đã chỉ ra phương pháp tự học để nâng cao kiến thức, mở rộng tầm nhìn. Rubakin
đặc biệt chú trọng đến việc đến việc đọc sách. Ông khẳng đònh: hãy mạnh dạn tự mình đặt câu
hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời – đó chính là phương pháp tự học.
Vào thập niên 30 của thế kỷ XX, nhà giáo dục nổi tiếng Nhật Bản Tsunesaburo
Makiguchi (1871-1944) đã nhấn mạnh: “Giáo viên không bao giờ học thay cho học viên mà
học viên phải tự mình học lấy. Nói khác đi, dù giáo viên có làm gì đi nữa thì mọi tri thức được
truyền thụ vẫn không có giá trò nếu họ không làm cho học sinh tự mình kiểm nghiệm và thực
nghiệm những tri thức đó” [28, tr. 152].
Vào những thập niên cuối của thế kỷ XX, các nhà giáo dục Âu Mỹ đã tăng cường

XXI đã có những thay đổi lớn nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo những con người có năng lực
tự quyết đònh. Trong tương lai gần, mỗi người học sẽ phải có đủ các phẩm chất: tự học (self
learning), tự tổ chức (self organizing), tự quyết đònh (self defining) và tự phát triển (self
developing). [4, tr.87]
1.1.2.2. Ở Việt Nam
Chủ tòch Hồø Chí Minh – tấm gương sáng về tự học – đã nhiều lần nhắc nhở chúng ta coi
trọng việc tự học. Trong bài “Sửa đổi lối làm việc” (1947), Người viết: “Lấy tự học làm cốt.
Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”. Sau này nói về công tác huấn luyện và học tập (1950),
Người nhấn mạnh: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học...Không phải có thầy thì học, thầy
không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập.”. “Muốn có nhiều cán bộ, Đảng phải giúp đỡ
cán bộ tự học tập.”[1].
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng – nhà lãnh đạo vô cùng tâm huyết với sự nghiệp giáo
dục của dân tộc – cũng đã từng nói: “...bí quyết quan trọng nhất là phương pháp học tập...”[35,
tr. 13]

Nguyên Phó Chủ tòch nước Nguyễn Thò Bình đã nêu vấn đề phát huy nội lực để phát
triển đất nước: “Nếu biết kết hợp quá trình đào tạo ở trường, lớp với quyết tâm tự học – tự đào
tạo thì đó là con đường ngắn nhất để tạo ra nội lực cần thiết cho sự phát triển của một con
người và cho đất nước.”
Đồng chí Vũ Oanh, chủ tòch Hội Khuyến học Việt Nam cũng khẳng đònh: “Cần từ bỏ
lối dạy nhồi một lần cho cả đời, lối truyền thụ áp đặt một chiều, phát huy tư duy sáng tạo và
năng lực tự học, tạo ra năng lực và thói quen học suốt đời của người học...” [35, tr. 17].
Tư tưởng tự học – tự đào tạo cũng đã được Đảng ta xem như một chiến lược để thúc
đẩy giáo dục phát triển. Điều này đã được khẳng đònh một cách nhất quán ở nhiều văn bản
khác nhau:
+ NQTW4 khóa 7 (tháng 1/1993) đã xác đònh phải “khuyến khích tự học”. NQTW2
khóa 8 (tháng 12/1996) lại tiếp tục khẳng đònh phải “đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo,
khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng
bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo
đảm điều kiện và thời gian tự học” [4, tr. 45].

Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ, Thái Duy Tiên...đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động tự học
của người học. Hầu hết các tác giả đều cho rằng năng lực tự học không chỉ cần thiết cho HS
khi ngồi trên ghế nhà trường mà còn trong cả cuộc đời. Hình thành năng lực tự học cho học
sinh trở thành một mục tiêu cơ bản của giáo dục nhà trường.
Trong tác phẩm “Dạy cách học”(2003), tác giả Vũ Văn Tảo đã điểm qua xu thế phát
triển giáo dục trên thế giới hiện nay. Tác giả đã làm rõ quan hệ mới giữa dạy và học. Theo đó,
việc học và người học được xem là lý do của việc dạy và người dạy. Cốt lõi của việc học là tự
học. Do đó, khâu quan trọng nhất trong việc dạy là dạy cách tự học, cách rèn luyện tư duy
phân tích, tổng hợp, tư duy phê phán, sáng tạo.
Tác phẩm “Quá trình dạy – tự học” (2001) do Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên là tác phẩm
có kế thừa và bổ sung những tác phẩm tâm huyết trước đó của ông và những cọâng sự như
“Luận bàn và kinh nghiệm về tự học” của Nguyễn Cảnh Toàn (1995), “Dạy học giải quyết
vấn đề” của Vũ Văn Tảo và Trần Văn Hà (1996), “Phương pháp giáo dục tích cực, lấy người
học làm trung tâm” của Nguyễn Kỳ (1995)...Tác phẩm đã đưa ra quan điểm: thực chất của dạy
– học lấy người học làm trung tâm là dạy – tự học. Tác động từ thầy là ngoại lực, năng lực và
phương pháp tự học của trò là nội lực. Vì vậy người thầy phải hướng đến mục đích dạy học
cộng hưởng với tự học để kết hợp cả ngoại lực và nội lực nhằm nâng cao chất lượng dạy và
học.
Trên các tạp chí nghiên cứu về giáo dục và tâm lý, đặc san Dạy – Tự học của Hội
khuyến học Việt Nam, các nhà nghiên cứu trong nước đã có nhiều bài báo về tư tưởng đổi mới
cách dạy và cách học, tầm quan trọng của việc tự học, những nhân tố ảnh hưởng đến việc tự
học cũng như phương pháp hướng dẫn tự học hiệu quả.
Điểm qua một số công trình tiêu biểu như trên, có thể thấy rằng vấn đề tự học và nâng
cao năng lực tự học có cơ sở lý luận vững chắc. Các nhà nghiên cứu giáo dục ở nước ta cũng
như trên thế giới đã khẳng đònh tính khoa học của vấn đề cũng như ích lợi của nó trong thực
tiễn. Mặc dù vậy, những công trình nghiên cứu chuyên sâu về các biện pháp quản lý của hiệu
trưởng nhằm nâng cao năng lực tự học cho người học thì còn ít được bàn đến. Do số lượng còn
ít - chỉ một số công trình như: “Các biện pháp quản lý của HT nhằm nâng cao năng lực tự học
cho HS THCS” của tác giả Lê Văn Chiến, ĐHSP Huế; “Các biện pháp quản lý của HT nhằm
nâng cao năng lực tự học cho HS THPT” của tác giả Lê Khắc Mỹ Phượng trường CBQL GD-

thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì,
nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi..) để chiếm
lónh một lónh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lónh vực đó thành sở hữu của mình” [44,
tr. 60].
Tác giả cũng chia tự học làm ba kiểu: tự học ở mức cao, tự học có hướng dẫn và tự học
giáp mặt. Tác giả đặc biệt nhấn mạnh dạng tự học có hướng dẫn như là một giải pháp quan
trọng để giải quyết một số khó khăn mà ngành giáo dục đang gặp phải.
Nhìn chung, các đònh nghóa tuy có khác nhau về câu chữ nhưng nội hàm của các khái
niệm đều nhấn mạnh đến tính tự chủ, tính độc lập và tích cực của người học trong quá trình
nhận thức và chiếm lónh tri thức khoa học. Người thầy (hay tài liệu, SGK...) chỉ đóng vai trò là
ngoại lực tác động, hướng dẫn. Muốn thành công, người học phải phát huy nội lực, ý chí, sự
hiểu biết, sự say mê học tập...để tự suy nghó và xử lý thông tin. Hoạt động tự học có thể diễn
ra ở bất cứ ở đâu, lúc nào khi người học có nhu cầu hiểu biết trước các tình huống đặt ra trong
cuộc sống.
Do mục tiêu nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu đồng ý với các khái niệm đã
được trình bày về tự học – tự đào tạo. Luận văn tiếp tục kế thừa các thành tựu trong nghiên
cứu khoa học của người đi trước.
Kiểu tự học được xét đến trong luận văn này là kiểu tự học có sự hướng dẫn trực tiếp
hoặc gián tiếp của giáo viên để phù hợp với đối tượng khảo sát là CBQL, GV và HS THCS.
1.2.1.2. Năng lực tự học
Năng lực:
Theo giáo sư Mai Hữu khuê: “Năng lực là những phẩm chất tâm lý mà nhờ đó con
người tiếp thu tương đối dễ dàng những kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo và tiến hành một hoạt động
nào đó có kết quả”û[21, tr. 97].
Phạm Minh Hạc đònh nghóa: “Năng lực là tổ hợp phức tạp những thuộc tính tâm lý của
mỗi người, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất đònh nhằm đảm bảo cho hoạt
động đó diễn ra có kết quả.” [12, tr. 280].
Như vậy, năng lực không phải có sẵn mà năng lực vừa là tiền đề vừa là kết quả của
hoạt động tương ứng; là kết quả của sự phát triển nhân cách, hoàn toàn phụ thuộc vào quá
trình phát triển nhân cách trong hoạt động.

trong quá trình học tập, từ đó tăng hiệu quả chất lượng học. Như vậy, chất lượng học tập của
HS là thước đo hiệu quả tự học và hiệu quả tự học xác đònh mức độ giá trò của năng lực tự học.
1.2.2. Vai trò của tự học và năng lực tự học
Trong nền kinh tế tri thức và sự bùng nổ thông tin như hiện nay, tự học là chiếc chìa
khóa thần kỳ giúp con người học tập hiệu quả. Kiến thức của nhân loại tăng lên nhanh chóng,
nhu cầu luân chuyển tri thức ngày càng cao nên con người muốn thích ứng, hòa nhập, tự khẳng
đònh cá nhân mình thì phải không ngừng bổ túc tri thức bằng con đường tự học.
Tự học là cơ sở cho việc hình thành năng lực tự học để người học có thể học tập suốt đời
đồng thời rèn luyện tác phong nghiên cứu khoa học. Phương pháp tự học là cầu nối giữa học
tập và nghiên cứu khoa học. Một yếu tố quan trọng đảm bảo thành công trong học tập và
nghiên cứu là khả năng phát hiện kòp thời và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong
thực tiễn. Nếu rèn luyện cho người học có kỹ năng, phương pháp, thói quen tự học, biết linh
hoạt ứng dụng những điều đã học vào những tình huống mới, biết tự lực phát hiện và giải
quyết những vấn đề đặt ra thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, tiềm năng vốn có trong mỗi con
người. Làm được như vậy thì kết quả học tập sẽ nhân lên gấp bội mà người học còn được
chuẩn bò để tự học khi học lên cao hơn cũng như khi vào đời, dễ dàng thích ứng với cuộc sống.
Tự học giúp con người rèn luyện được những phẩm chất cao quý như : kiên trì, sáng tạo,
nỗ lực vươn lên, hình thành tác phong khoa học, hoàn thiện nhân cách. Sự thành đạt của những
tấm gương sáng về tự học ở trong nước như Hồ Chí Minh, Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Trí Viễn;
trên thế giới như Bill Gates, T. Edison là minh chứng hùng hồn nhất cho luận điểm này.
Tự học là xu thế học tập hiện đại phù hợp với xu thế đổi mới giáo dục hiện nay trên thế
giới nói chung và ở nước ta nói riêng. Disterwerg đã viết: “Người thầy giáo tồi truyền đạt chân
lý; người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lý.” [3, tr. 68]. Triết lý giáo dục thế kỷ XXI do
UNESCO đưa ra với 4 trụ cột muốn nhắc nhở nhân loại rằng con người muốn tồn tại trong nền
kinh tế tri thức thì phải học; học suốt đời, học theo hướng của 4 trụ cột và phải hình thành, phát
triển xã hội học tập. Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 của nước ta là phải thực hiện
“mọi người đi học, học thường xuyên suốt đời; cả nước thành một xã hội học tập”. Trong điều
kiện của nước ta hiện nay, muốn thực hiện tốt điều ấy, người học cần phải biết tự học và hình
thành năng lực tự học.
Người học là đối tượng của hoạt động dạy nhưng cũng đồng thời còn là chủ thể của

+ Các động cơ nghóa vụ và trách nhiệm: thể hiện ở nghóa vụ với Tổ quốc, với quê hương;
trách nhiệm với gia đình, thầy cô, bản thân, bạn bè...
độ tuổi THCS, động cơ học tập của các em HS đa dạng nhưng chưa bền vữõng. Biểu
hiện cụ thể của điều này là thái độ nhiều khi mâu thuẫn, từ rất tích cực đến thờ ơ, lười biếng;
từ nỗ lực học tập đến thụ động học thuộc lòng từng chữ; hứng thú rõ rệt với môn học này
nhưng lại không hào hứng với môn học khác.
Vì vậy, việc giáo dục động cơ học tập, kích thích hứng thú học tập cho HS THCS là việc
rất quan trọng, đòi hỏi sự cố gắng rất lớn của GV. Bởi động cơ đúng tạo ra hứng thú. Hứng thú
là tiền đề của tự giác. Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực. Tính tích cực sản
sinh nếp tư duy độc lập. Suy nghó độc lập là mầm mống của sáng tạo. Ngược lại, phong cách
học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập.
1.2.3.2 Ảnh hưởng của nội dung dạy học
Nội dung dạy học là một bộ phận được chọn lọc trong nền văn hóa của dân tộc và nhân
loại – đó là hệ thống những tri thức, những cách thức hoạt động, những kinh nghiệm hoạt động
sáng tạo và những tiêu chuẩn về thái độ đối với thế giới, con người phù hợp về mặt sư phạm
nhằm hình thành và phát triển nhân cách người học[15, tr. 45].
Các thành phần của nội dung dạy học có mối liên hệ mật thiết lẫn nhau và quy đònh lẫn
nhau. Nội dung dạy học ở trường phổ thông được chứa đựng trong sách giáo khoa, tài liệu tham
khảo và trong các nguồn thông tin khác. Trong giảng dạy, GV phải tính đến tác động của
những kênh thông tin này để phối hợp nhằm phát huy thế mạnh của quá trình đào tạo trong
nhà trường là tính hệ thống, có kế hoạch chặt chẽ và vừa sức, sát đối tượng của các thông tin
đưa vào dạy học.
Nội dung dạy học hiện nay phải đảm bảo cung cấp cả kiến thức lẫn kỹ năng, kỹ xảo
cùng với các phương pháp nhận thức khoa học, phương pháp hoạt động. Mục đích của việc này
là nhằm trang bò cho HS một hành trang để có thể vừa tham gia ngay vào cuộc sống hiện tại
khi hết cấp học, phục vụ cho yêu cầu trước mắt vừa phải chú trọng đến việc tạo ra tiềm lực
cho sự phát triển lâu dài.
Trong quá trình học tập, HS phải tự mình chiếm lónh tri thức để hoàn thiện nhân cách.
Nội dung dạy học phù hợp với điều kiện trường lớp, trang thiết bò, thời gian vật chất dành cho
việc học và phù hợp với tâm sinh lý, khả năng, sự chấp nhận của người học sẽ tác động lớn

đều góp phần quan trọng vào việc hình thành phương pháp học tập tích cực cũng như hoàn
thiện nhân cách cho HS. Trong giáo dục hiện đại, khi việc rèn luyện và nâng cao năng lực tự
học cho học sinh trở thành một mục tiêu giáo dục thì bên cạnh việc đánh giá, GV phải hướng
dẫn học sinh phát triển kó năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. Liên quan với điều này,
giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau. Tự đánh
giá đúng và điều chỉnh hoạt động kòp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống
mà nhà trường phải trang bò cho học sinh.
Muốn đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội thì việc
kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kó năng đã
học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống
thực tế. Việc thay đổi khâu đánh giá sẽ có tác dụng kích thích người được giáo dục trở thành
người tự giáo dục.
Với sự trợ giúp của các thiết bò kó thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công
việc nặng nhọc đối với GV, mà lại cho nhiều thông tin kòp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh
hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học. Đồng thời, HS cũng có thể thường xuyên tự kiểm tra để
tìm ra phương pháp tự học tốt hơn.
1.2.3.4 Ảnh hưởng của điều kiện và môi trường học tập
Con người là tổng hòa các quan hệ xã hội. Tính cách HS được hình thành từ sự giáo dục
và tự giáo dục ở nhà trường phổ thông và còn chòu ảnh hưởng của môi trường xã hội. Giáo dục
gia đình là hạt nhân cơ bản hình thành tính cách người học từ thưở ấu thơ. Do đó, chính sự tác
động mạnh mẽ của xã hội, nhất là gia đình đã hình thành ở trẻ động cơ, thái độ học tập, đến
chất lượng học tập và sự phát triển năng lực tự học của các em.
Môi trường và điều kiện học tập của xã hội và gia đình dành cho trẻ có ảnh hưởng rất
lớn đến quá trình hình thành và nâng cao năng lực tự học. Môi trường xã hội lành mạnh, những
điều kiện chăm sóc thiết yếu từ gia đình như tài liệu học tập, góc học tập, sự quan tâm và tạo
điều kiện của cha mẹ...là những điều kiện cần thiết để trẻ ham học và có khả năng học tập tốt.
Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bò và phương tiện phục vụ học tập của nhà trường
có vai trò quan trọng trong việc hình thành và nâng cao năng lực tự học cho học sinh. Nhất là
với mục tiêu của chương trình THCS hiện nay, khi phương tiện không chỉ dừng lại ở mức độ
minh họa mà đã trở thành công cụ nhận thức quan trọng cho học sinh. Thư viện, phòng thí

sự phát triển của xã hội loài người, trình độ tổ chức, điều hành cũng được nâng lên và phát
triển theo. Mác viết : "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành
trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà
những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động
của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người
độc tấu vó cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc
trưởng"
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động của xã hội loài người nhằm đạt
mục đích, hiệu quả cao hơn, năng suất cao hơn; đó chính là hoạt động giúp cho người đứng đầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status