THIẾT KẾ CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP HÓA HỌC CHƯƠNG NITO PHOTPHO HÓA HỌC LỚP 11NÂNG CAO CÓ SỬ DỤNG HỆ THỐNG THÍ NGHIỆM NHẰM TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH THPT - Pdf 38

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
------------  ------------

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đề tài:
THIẾT KẾ CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP HÓA HỌC
CHƯƠNG NITO - PHOTPHO HÓA HỌC LỚP 11-NÂNG CAO
CÓ SỬ DỤNG HỆ THỐNG THÍ NGHIỆM
NHẰM TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH THPT

GVHD
: TS. Lê Thái Hưng
Tên nhóm SV : Trương Hương Nhi
Tô Quỳnh Ngân
Đào Thị Ngân
Lớp
: QH2013- S Hóa học

Hà Nội, tháng 5 năm 2016
1


BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, chúng tôi xin bày tỏ sự kính trọng và cảm ơn sâu sắc tới Thầy
giáo hướng dẫn –TS. Lê Thái Hưng đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, động viên, đôn
đốc chúng tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành báo cáo nghiên cứu khoa
học này.
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể Quý thầy cô Trường

3. Đối tượng và khách thể thể nghiên cứu
4. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
6. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
7. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu

5
6
7
7
8
8
8
8
9
9

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan nghiên cứu
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu trên thế giới
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu trong nước
1.2. Quá trình dạy học
1.2.1. Khái niệm
1.2.2. Mối quan hệ biện chứng giữa dạy và học
1.2.3. Dạy học tích cực môn hoá học
1.3. Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT
1.3.1. Đặc điểm sinh lý
1.3.2. Đặc điểm hoạt động học tập
1.3.3. Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ
1.4. Hứng thú học tập

21
22
22
24
25
27
27
27
29
29
31
31

________________________________________________________________
Nhóm SV: Trương Hương Nhi,Tô Quỳnh Ngân, Đào Thị Ngân
3


BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1.6.4. Kết quả và đánh giá
TỔNG KẾT CHƯƠNG 1

32
40

CHƯƠNG 2:THIẾT KẾ, TUYỂN CHỌN HỆ THỐNG THÍ NGHIỆM HÓA HỌC
CHƯƠNG NITO – PHOTPHO HÓA HỌC 11 NÂNG CAO, NHẰM TẠO
HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH THPT
2.1 Giới thiệu về chương nito-photpho Hóa học 11 nâng cao-THPT

84
84
86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

87

PHỤ LỤC: PHIẾU KHẢO SÁT

89

42
42
42
43
43
43
50
51
52
65
66
66
68
70
72
76

_____________________


:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:

cơ bản
dung dịch
giáo dục và đào tạo
giáo viên
học sinh
nâng cao
nhà xuất bản

Biểu đồ 7
Hình 1
Hình 2
Hình 3
Hình 4
Hình 5
Hình 6
Hình 7
Hình 8
Hình 9

: Danh sách các lớp điều tra
: Biều đồ (%) – Hoạt động của học sinh trong giờ học hoá học
: Biểu đồ (%) – Mức độ yêu thích của HS với hoạt động dạy học có
sử dụng TNHH
: Biểu đồ (%) – Mức độ biết đến TNHH của học sinh
: Biểu đồ tần suất các dạng thí nghiệm được giáo viên sử dụng
: Biểu đồ tần suất học sinh được thực hành thí nghiệm hoá học.
: Ý kiến của HS về hiệu quả của việc sử dụng thí nghiệm
: Ý kiến của HS về vai trò của TNHH
: Điều chế nito trong phòng thí nghiệm
: Điều chế amoniac từ NH3 đặc
: Điều chế amoniac từ amoni và kiềm
: Phản ứng tạo phức của amoniac
: Phản ứng amoniac cháy trong oxi
: Amoniac tác dụng với đồng oxit
: Sự phân hủy của NH4Cl
: Điều chế HNO3 trong phòng thí nghiệm
: TN chứng minh khả năng bốc cháy khác nhau : P trắng và P đỏ


thực hành các thí nghiệm. Vì vậy, việc thiết kế và sử dụng hệ thống thí nghiệm
trong bài giảng hóa học là yêu cầu cấp bách trong đổi mới căn bản và toàn diện
giáo dục hiện nay.
Tuy nhiên, qua tìm hiểu thực tế ở các trường THPT, đặc biệt là các trường
ở khu vực nông thôn, phần lớn giáo viên chưa có thói quen sử dụng phương tiện
dạy học, tình trạng “dạy chay, học chay” vẫn còn tồn tại, học sinh quen với lối
học thụ động nên hiệu quả dạy học có thể chưa cao. Hơn nữa, cách thức sử dụng
thí nghiệm hoá học cũng chưa có nhiều đổi mới, chủ yếu là thí nghiệm minh hoạ
________________________________________________________________
Nhóm SV: Trương Hương Nhi,Tô Quỳnh Ngân, Đào Thị Ngân
7


BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

cho kiến thức, chưa khai thác theo hướng dạy học tích cực để phát huy tính
khám phá, sáng tạo và sự hứng thú với môn học ở học sinh.
Xuất phát từ những lý do trên, nhóm sinh viên chúng tôi đã thực hiện
nghiên cứu đề tài: “Thiết kế các hoạt động học tập chương Nito – Photpho Hóa
học 11 nâng cao có sử dụng hệ thống thí nghiệm hóa nhằm tạo hứng thú học tập
cho học sinh”.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu về thiết kế các hoạt động học tập có sử dụng thí nghiệm hóa
học trong dạy học hóa học chương Nito – Photpho Hóa học 11 nâng cao.
- Nghiên cứu cách sử dụng các thí nghiệm hóa học nhằm tạo hứng thú học
tập cho học sinh THPT.
3. Đối tượng và khách thể thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Cách thức thiết kế các hoạt động học tập môn hoá học có sử dụng hệ
thống thí nghiệm.

thú học tập cho HS THPT thuộc nội dung kiến thức chương Nito - photpho.
- Thiết kế bảng hỏi để điều tra đánh giá thực trạng của việc sử dụng các thí
nghiệm hóa học trong giảng dạy hóa học tại trường THPT Trần Hưng Đạo-Nam
Định.
6. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
6.1. Phạm vi nghiên cứu
- Học sinh lớp 11 ban nâng cao trường THPT Trần Hưng Đạo -TP Nam
Định, tỉnh Nam Định.
- Chương Nito-Photpho hoá học 11 nâng cao
6.2. Giới hạn nghiên cứu
- Vận dụng hệ thống thí nghiệm vào việc thiết kế các hoạt động học tập.
- Chương Nito Photpho hoá học lớp 11 Nâng cao.
7. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu và phân tích các tài liệu dạy học; tâm lý học; giáo dục học liên
quan đến đề tài nghiên cứu; tìm ra những nội dung, lý luận làm cơ sở thực hiện
mục đích nghiên cứu của đề tài. Đặc biệt nghiên cứu kỹ những cơ sở lý luận về
thí nghiệm hoá học.
7.2 Phương pháp nghiên cứu điều tra
Thiết kế và phát bảng hỏi, thu thập thông tin từ người học về thực trạng sử
dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học nhằm tạo hứng thú học tập cho
học sinh THPT.
7.3 Phương pháp xử lí thông tin
Xử lí số liệu bằng phương pháp thống kê toán học SPSS.
Sử dụng các phần mềm tin học.

________________________________________________________________
Nhóm SV: Trương Hương Nhi,Tô Quỳnh Ngân, Đào Thị Ngân
9


nộidung tài liệu và hoạt động học của học sinh.

Năm 1976, A.K.Marcôva nghiên cứu về vai trò của dạy học nêu vấn
đềvới hứng thú học tập của học sinh. Dạy học nêu vấn đề là một trong
nhữngbiện pháp quan trọng góp phần nâng cao hứng thú học tập học tập của
họcsinh trong quá trình học tập.
Từ những công trình nghiên cứu trên, có thể khái quát lịch sử nghiên cứu
trên thế giới về mối quan hệ giữa hứng thú và hoạt động học tập đã được quan

________________________________________________________________
Nhóm SV: Trương Hương Nhi,Tô Quỳnh Ngân, Đào Thị Ngân
10


BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

tâm và nghiên cứu sớm. Những nghiên cứu được đưa ra ở trên chủ yếu nói
chung chung và khái quát, chưa đi sâu vào hứng thú học tập với môn hóa học.
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu trong nước
1.1.2.2. Các tài liệu về hứng thú học tập
Ở Việt Nam, vấn đề hứng thú cũng được rất nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu.

Năm 1969, Lê Ngọc Lan với đề tài “Tìm hiểu hứng thú học môn toán của
học sinh cấp II”, mục đích nghiên cứu là nhằm tìm hiểu hứng thú của học sinh
đối với môn toán. Đồng thời, tác giả cũng kiểm nghiệm các tác động sư phạm
nhằm nâng cao hứng thú học môn toán của học sinh thông qua những hoạt động
ngoại khóa của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.

Năm 1970, Phạm Huy Thụ đã nghiên cứu về “Hiện trạng hứng thú học

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

+ Cải tiến nội dung các bài tập thực hành.
+ Cải tiến cách sử dụng các bài tập thực hành.
+ Tăng tỉ lệ các giờ thực hành.
Đến nay, các công trình nghiên cứu về hứng thú cũng đã có rất nhiều
vàvấn đề hứng thú học tập đã được các tác giả quan tâm nhưng chưa quan tâm
nhiều đến việc đưa ra các phương pháp dạy học nhằm tạo hứng thú học tập cho
học sinh trong môn học cụ thể.
1.1.2.2. Các tài liệu hướng dẫn thực hành hóa học

Tài liệu “Thí nghiệm thực hành – Phương pháp dạy học hóa học tập III”
của GS.TSKH Nguyễn Cương, PGS.TS Nguyễn Xuân Trường, PGS.TS Nguyễn
Thị Sửu, NXB Đại học sư phạm 2014.
Tài liệu gồm 5 phần:
Phần 1: Yêu cầu, nội dung phương pháp thí nghiệm thực hành về phương
pháp dạy học hóa học. Các công tác cơ bản trong phòng thí nghiệm hóa học.
Phần 2: Kĩ thuật và phương pháp tiến hành hóa học ở trường Trung học
cơ sở
Phần 3: Kĩ thuật và phương pháp tiến hành hóa học ở trường Trung học
phổ thông
Phần 4: Thí nghiệm hóa học vui
Phần 5: Sử dụng một số phương tiện trực quan và phương tiện, kĩ thuật
dạy học

Tài liệu hướng dẫn thí nghiệm hóa học 11 của PGS.TS. Trần Quốc Đắc,
NXB Giáo Dục 2007.
Tài liệu gồm 3 chương:
Chương 1: Hướng dẫn tiến hành thí nghiệm hóa học biểu diễn của giáo
viên và thí nghiệm nghiên cứu của học sinh. Chương này gồm 76 thí nghiệm

học phổ thông” Ngô Quốc Triệu, (2012).

Luận văn thạc sĩ giáo dục học “Sử dụng thí nghiệm trong dạy học môn
hóa lớp 10, 11 trường trung học phổ thông tỉnh Dăk Lăk” của tác giả Võ Phương
Uyên (2009). Nội dung của các luận văn trên đề cập đến các vấn đề: Hệ thống
các thí nghiệm cần sử dụng trong chương trình THPT, hoàn thiện kĩ thuật và
phương pháp tiến hành thí nghiệm; sử dụng thí nghiệm để khắc sâu kiến thức,
rèn luyện kĩ năng, đề xuất các biện pháp sử dụng thí nghiệm góp phần nâng cao
chất lượng dạy học hóa học ở trường phổ thông.
Qua việc tìm hiểu các luận văn cùng hướng nghiên cứu trên, chúng tôi rút
ra nhiều bài học bổ ích trong quá trình thực hiện bài nghiên cứu khoa học của
mình. Chúng tôi nhận thấy rằng, việc nghiên cứu sử dụng thí nghiệm hóa học
trong dạy học đã và đang thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu,
nhất là trong những năm gần đây. Tuy nhiên, hướng nghiên cứu khai thác thí
nghiệm để vận dụng vào bài học cụ thể cũng chưa có nhiều. Và đặc biệt, việc sử
dụng thí nghiệm trong các bài giảng sao cho phù hợp, kích thích được sự đam
mê, hứng thú của HS ít được các tác giả đề cập đến. Hiện nay vẫn chưa có tác
giả nào nghiên cứu kĩ về vấn đề thiết kế các hoạt động học tập có sử dụng hệ
thống thí nghiệm vào bài giảng nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh. Chính
vì vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài này với mong muốn góp một phần công
________________________________________________________________
Nhóm SV: Trương Hương Nhi,Tô Quỳnh Ngân, Đào Thị Ngân
13


BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

sức nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học ở
trường THPT.
1.2. Quá trình dạy học


BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

học, giữa thầy và trò phản ánh tính chất hai mặt của quá trình dạy học. Để tiếp
cận một cách toàn diện bản chất của QTDH, chúng tôi sử dụng quan điểm tiếp
cận bộ phận, tức tạm thời xem xét QTDH gồm hai phạm trù: dạy và học. Việc
chia tách này chỉ có tính chất nghiên cứu trên thực tế, hai phạm trù này không
thể tồn tại một cách độc lập mà chúng luôn thống nhất (nhưng không đồng nhất)
với nhau. Ví dụ, nếu quá trình học mà không có quá trình dạy thì đó là quá trình
tự học, tự nghiên cứu (nhưng vẫn vận dụng kết quả của quá trình dạy trước đó vì
một cá thể người mới sinh ra không có khả năng tự học được) hoặc nói theo dân
gian “Không thầy đố mày làm nên”.
Mối quan hệ giữa dạy và học được thể hiện trong sơ đồ sau đây:

Từ đây cho thấy mối quan hệ gắn kết (trong QTDH), mối quan hệ giữa dạy
với hoạt động tổ chức tự điều khiển, lãnh đạo và học với hoạt động tổ chức, tự
điều khiển hoạt động nhận thức. QTDH diễn ra “sự tương tác” trên lớp giữa
hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò. Như vậy việc dạy và học mới
đem lại kết quả, bổ ích, đáp ứng yêu cầu xã hội.
Muốn vậy trong quá trình dạy và học người dạy và học đều phải tích cực.
Mục đích cuối cùng của quá trình dạy – học là phát huy cao độ vai trò tích, chủ
động ở người học để giúp họ tự giác tạo ra những thay đổi tích cực và phát triển
hợp quy luật bên trong chính bản thân người học chứ người học không phải là
"một cái thùng rỗng chứa kiến thức" để người dạy "rót" đầy kiến thức vào đó.Do
đó, người dạy phải có phương pháp dạy học tích cực phải làm sao tác động đến
người học, phải giúp cho người học hình thành năng lực tự học, tự hoàn thiện

________________________________________________________________
Nhóm SV: Trương Hương Nhi,Tô Quỳnh Ngân, Đào Thị Ngân
15

minh họa hình ảnh, kết quả thí nghiệm mà không có tác dụng khắc sâu kiến
thức.
- Sử dụng câu hỏi và bài tập hóa học như là nguồn để học sinh tích cực,
chủ động nhận thức kiến thức, hình thành kĩ năng và vận dụng tích cực các kiến
thức và kĩ năng đã học.
- Nêu và giải quyết vấn đề trong dạy học Hóa học theo hướng giúp học
sinh không tiếp thu kiến thức một chiều. Thông qua các tình huống có vấn đề
trong học tập hoặc vấn đề thực tiễn giúp học sinh phát triển tư duy sáng tạo và
năng lực giải quyết vấn đề.
- Sử dụng SGK Hóa học như là nguồn tư liệu để học sinh tự đọc, tự nghiên
cứu, tích cực nhận thức, thu thập thông tin và xử lí thông tin có hiệu quả.
________________________________________________________________
Nhóm SV: Trương Hương Nhi,Tô Quỳnh Ngân, Đào Thị Ngân
16


BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

- Tự học kết hợp với hợp tác theo nhóm nhỏ trong học tập hóa học theo
hướng giúp học sinh có khả năng tự học, khả năng hợp tác cùng học, cùng
nghiên cứu để giải quyết vấn đề trong học tập hóa học và một số vấn đề thực
tiễn đơn giản có liên quan đến hóa học.
1.3. Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT
Lứa tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc
khi bước vào tuổi người lớn. Lứa tuổi thanh niên là thời kỳ từ 15 – 25 tuổi, được
chia làm 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn từ 15 – 18 tuổi: Gọi là tuổi đầu thanh niên.
+ Giai đoạn từ 18 – 25 tuổi: Giai đoạn 2 của tuổi thanh niên (thanh niên sinh
viên).
Lứa tuổi học sinh THPT thuộc giai đoạn đầu thanh niên.


- Về hệ tuần hoàn: Ở lứa tuổi thanh niên học sinh, sự phát triển hệ tuần hoàn
trở nên ôn hòa và phát triển một cách cân bằng.
- Về giới tính: Đa số các em đã kết thúc tuổi dậy thì, những dấu hiệu của giới
tính được phát triển làm cho bề ngoài của nam và nữ thay đổi một cách rõ rệt. Có
trường hợp dậy thì đến muộn nhưng diễn ra nhanh, còn những trường hợp khác
lại kéo dài làm cho các em trông giống với thiếu niên.
Tóm lại: Các em học sinh THPT đã đạt đến mức trưởng thành về mặt cơ thể.
Vào lứa tuổi này, giai đoạn khủng hoảng sẽ chấm dứt để chuyển sang thời kỳ ổn
định hơn, cân bằng hơn xét trên bình diện hoạt động hưng phấn và ức chế của cơ
quan thần kinh cũng như các mặt khác về phát triển sinh lí. Các em có sức lực dồi
dào, thân hình cân dối, rất khỏe mạnh và đẹp. Chính vì vậy, sự phát triển thể chất
ở lứa tuổinàysẽcóảnhhưởng nhất địnhđến sựphát triển tâmlývànhân cách. Đồng
thời, nó cònảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của các em.
1.3.2. Đặc điểm hoạt động học tập
Hoạt động học tập vẫn là một hoạt động chủ đạo đối với học sinh trung học
phổ thông, nhưng tính chất và nội dung của nó đã khác nhiều so với hoạt động
học tập của thiếu niên. Nội dung học trở nên sâu sắc và nhiều hơn, điều này đòi
hỏi học sinh phải năng động hơn, tính độc lập cao hơn và đồng thời cần phát
triển tư duy lý luận sâu sắc.
Bên cạnh hoạt động học tập, ở học sinh lứa tuổi này xuất hiện nhu cầu
nguyện vọng chọn nghề nghiệp cho tương lai.Đời sống tâm lý của học sinh ở
giai đoạn này chịu sự chi phối không nhỏ bởi hoạt động này.Chính vì vậy hoạt
động học tập ở lứa tuổi này bắt đầu mang tính hướng nghiệp.
Về thái độ học tập, các em ngày càng tỏ ra tích cực hơn.Việc các em có
khuynh hướng lựa chọn các môn học gắn liền với nghề nghiệp cũng thể hiện sự
phát triển tính chủ định của các quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản
thân trong hoạt động học tập của các em.Các em ý thức được trách nhiệm của
mình trước ngưỡng cửa của cuộc đời vì vậy các em có những hành động học tập
tích cực như tìm hiểu, phê phán đánh giá…Hầu như tất cả các em đã hình thành

song ghi nhớ từ ngữ và logic chiếm ưu thế và tăng rõ rệt.Học sinh trung học phổ
thông đã tạo nên được tâm thế phân hóa trong ghi nhớ.
Học sinh trung học phổ thông có khả năng thiết lập các liên tưởng rất tốt
trong ghi nhớ cũng như gợi lại thông tin trong trí nhớ.
Những gì có thể dễ ghi nhớ nhất là những tư liệu liên quan đến các trải
nghiệm. Học sinh trung học phổ thông đã có những trải nghiệm và việc học dựa
trên sự hiểu là căn bản nên sự liên tưởng ngữ nghĩa giữ vai trò quan trọng trong
trí nhớ của các em.
Học sinh lứa tuổi này đã học được những kỹ thuật hỗ trợ cho trí nhớ như
sử dụng các sơ đồ tổ chức (làm nổi bật các quan hệ) như kiểu biểu đồ, tóm
tắt…;tìm điểm tựa trong ghi nhớ, từ khóa,là sự sắp xếp logic…chú ý quá trình
mã hóa khi ghi nhớ hơn là sự tâm niệm phải ghi nhớ điều gì đó.
Chú ý: Ở học sinh trung học phổ thông, chú ý có chủ định chiếm ưu
thế,các em biết đề ra mục đích của chú ý.Chính thái độ lựa chọn môn học của
các em trong quá trình học tập đã quyết định tính chủ định trong chú ý của các
em tới lĩnh vực mà các em quan tâm.
Với tính mục đích cao hơn trong các hoạt động và ý chí phát triển, năng
lực di chuyển và phân phối chú ý của học sinh trung học phổ thông được phát
triển và hoàn thiện.Điều này giúp các em ở lứa tuổi này có thể thực hiện và hoàn
thành hai hay nhiều hoạt động cùng một lúc, làm gia tăng hiệu quả và chất
________________________________________________________________
Nhóm SV: Trương Hương Nhi,Tô Quỳnh Ngân, Đào Thị Ngân
19


BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

lượng hoạt động, thí dụ khả năng vừa nghe giảng,vừa ghi,

chép bài.

“Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, có ý nghĩa
đối với cuộc sống, và có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá
trình hoạt động”.
Có nhiều công trình nghiên cứu đã đồng nhất hứng thú học tập với hứng
thú nhận thức. Hứng thú học tập chỉ là một bộ phận của hứng thú nhận thức.
Hứng thú nhận thức là một hiện tượng tâm lý diễn ra trong quá trình con người
tiến hành hoạt động nhận thức. Hứng thú nhận thức là khuynh hướng lựa chọn
________________________________________________________________
Nhóm SV: Trương Hương Nhi,Tô Quỳnh Ngân, Đào Thị Ngân
20


BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

của cá nhân nhằm vào việc nhận thức được một hoặc một số lĩnh vực khoa học
nhằm vào mặt nội dung và quá trình hoạt động của nó. Trong quá trình này, cá
nhân không chỉ dừng lại ở những đặc điểm bên ngoài của sự vật, hiện tượng mà
còn xu thế đi sâu vào cái bản chất bên trong của sự vật hiện tượng muốn nhận
thức. Hứng thú nhận thức của người học thực ra đã hoàn thành sẵn ở họ ngay từ
khi còn nhỏ biểu hiện ở sự tò mò, ham hiểu biết và về sau được phát triển thành
tính ham học, ham tìm hiểu và cuối cùng trở thành hứng thú khoa học, hứng thú
nghệ thuật, hứng thú văn chương.
Hứng thú học tập có đối tượng hẹp hơn so với hứng thú nhận thức. Hứng
thú học tập là thái độ đặc biệt của học sinh đối với các môn học mà các em thấy
có ý nghĩa và có khả năng đem lại khoái cảm cho các em trong quá trình học tập
môn học đó. Đối tượng của hứng thú học tập không chỉ bao gồm nội dung các
môn học mà còn bao gồm hoạt động học để lĩnh hội nội dung đó. Hứng thú học
tập thể hiện ở sự thích thú đối với môn học và tính tích cực trong hoạt động học
tập bộ môn, xúc cảm tích cực là dấu hiệu rõ ràng nhất, đặc trưng nhất của hứng
thú học tập, nhưng không thể đồng nhất những xúc cảm tích cực với hứng thú.

1.4.3. Tác dụng của hứng thú học tập
Hứng thú học tập mang lại một số tác dụng đặc biệt như:
- Là yếu tố cần thiết cho sự phát triển nhân cách, tri thức và nhận thức của
học sinh.
- Làm chỗ dựa cho sự ghi nhớ, cho phép HS duy trì sự chú ý thường xuyên
và cao độ vào kiến thức bài học.
- Làm cho hoạt động học trở nên hấp dẫn hơn vì các em được duy trì trạng
thái tỉnh táo của cơ thể, giúp HS phấn chấn, vui tươi, học tập lâu mệt mỏi.
- Ảnh hưởng đến tính chất, cường độ, diễn biến kết quả của dạy và học,
giúp cho hiệu quả của hoạt động này được nâng cao.
- Tạo và duy trì tính tích cực nhận thức, tích cực hoạt động tiếp thu, tìm
hiểu kiến thưc.
- Giúp điều khiển hoạt động định hướng vì chính cảm xúc hứng thú tham
gia điều khiển tri giác và tư duy.
- Đóng vai trò trung tâm, tạo cơ sở động cơ cho các hoạt động nghiên cứu
và sáng tạo.
- Góp phần quan trọng trong việc phát triển kĩ năng, kĩ xảo và trí tuệ của
HS làm cho hiệu quả của hoạt động học tập được nâng cao.
1.4.4. Biểu hiện hứng thú học tập
Hứng thú học tập được biểu hiện thông qua các dấu hiệu các chỉ số cụ thể
trong hoạt động học tập, trong cuộc sống của các em. Nhà giáo dục có thể quan
sát và nhận biết được chúng, những biểu hiện này khá phong phú và đa dạng,
chúng có thể đan xen vào nhau.
Đi học đầy đủ, đúng giờ, chú ý nghe giảng và tích cực phát biểu trong giờ
học… là dấu hiệu đầu tiên của hứng thú học tập. Hoạt động học tập là hoạt động
căng thẳng, kéo dài nên nếu chỉ có ý thức nghĩa vụ và ý thức tổ chức kỉ luật thì
không đủ để biết người học chú ý thường xuyên và lâu dài được. Chỉ có hứng
thú thì người học mới có thể tập trung chú ý kéo dài vào đối tượng được. Cũng
chỉ có hứng thú thì người học mới có nhu cầu hiểu biết sâu về bài học nên tích
cực phát biểu để thỏa mãn nhu cầu của mình.

nhận thức vấn đề mới.
- Học sinh mong muốn đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới lấy
từ những nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vi bài học môn học.
Tùy vào việc huy động chủ yếu những chức năng tâm lý nào mà tính tích
cực hoạt động nhận thức của học sinh thể hiện 3 mức độ từ thấp đến cao như
sau:
- Bắt chước: học sinh bắt chước hành động, thao tác của giáo viên, của bạn
cùng học. Trong hành động bắt chước thì học sinh cũng phải chú ý quan sát,
nhận xét, phân tích, tổng hợp thông tin để sau đó tái hiện lại.
- Tìm tòi: học sinh tìm kiếm trong vốn kiến thức và phương pháp của mình
để tự lực giải quyết một hoặc một số vấn đề cụ thể được giáo viên nêu ra.
- Sáng tạo: học sinh phát hiện vấn đề cần giải quyết hoặc tìm được cách
giải mới khác hơn, hay hơn, độc đáo hơn. Đây là mức độ tích cực cao nhất. Dĩ
nhiên, mức độ sáng tạo của mỗi học sinh là có giới hạn nhưng đó chính là nền
tảng để phát hiện óc sáng tạo về sau này.
Tính tích cực nhận thức biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với
đối tượng trong quá trình học tập, nghiên cứu, thể hiện sự nỗ lực của hoạt động
________________________________________________________________
Nhóm SV: Trương Hương Nhi,Tô Quỳnh Ngân, Đào Thị Ngân
23


BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

trí tuệ, sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý (như: hứng thú, chú ý, ý
chí,… ) nhằm đạt được mục đích đạt ra với mức độ cao.
1.4.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập
1.4.5.1. Nhóm yếu tố chủ quan
- Trình độ nhận thức của HS là yếu tố ảnh hưởng mạnh đến hứng thú học
tập. Trình độ nhận thức là cơ sở cần thiết để phát triển hứng thú học tập, đồng


BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

- Sự hấp dẫn của môn học. Môn Hóa học giúp học sinh hiểu và giải thích
về các vật chất, các hiện tượng Hóa học trong đời sống hàng ngày thông qua lí
thuyết và thực nghiệm, từ đó tạo ra lòng say mê, hứng thú và dẫn đến những
hành vi tích cực trong học tập.
- Phương pháp và năng lực giảng dạy của giáo viên là yếu tố tác động đến
sự hình thành và hứng thú học tập của học sinh. Nó có khả năng chi phối đến
các yếu tố khác của hứng thú học tập môn học. Giáo viên cần vận dụng linh
hoạt, sáng tạo và phù hợp các phương pháp dạy học khác nhau để giờ học đỡ
nhàm chán. Muốn nâng cao hứng thú học tập môn Hóa học thì giáo viên phải
làm sao cho bài học trở nên hấp dẫn, sinh động. Biết cách khơi dậy và phát triển
nhu cầu nhận thức của học sinh. Tầm hiểu biết, cách thức tổ chức và hướng dẫn
hoạt động của giáo viên làm sao cho không khí lớp học luôn vui vẻ, sinh động,
tích cực và nghiêm túc.
- Điều kiện vật chất, trang thiết bị như đồ dùng dạy học, phương tiện dạy
học… đều là các yếu tố giúp học sinh học tập có hiệu quả hơn. Bằng những
minh chứng trực quan, sinh động cho lí thuyết là cách giúp học sinh hiểu và ghi
nhớ một cách đầy đủ nhất kiến thức của bài học.
- Bầu không khí của lớp học cũng là yếu tố khách quan tác động đến hứng
thú học tập. Việc tạo ra không khí lớp học thoải mái, cởi mở sẽ ảnh hưởng thuận
lợi đến hứng thú học tập của học sinh.
1.4.6. Biện pháp tạo hứng thú học tập của học sinh
1.4.6.1. Tạo hứng thú bằng cách tạo không khí lớp học tích cực, thân thiện.
“Không khí lớp học” có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất
lượng dạy học. “Không khí lớp học” là trạng thái tâm lý- một dạng của bầu
không khí tâm lý của học sinh tại lớp học. Trạng thái tâm lý này nếu được chuẩn
bị tốt sẽ giúp học sinh có thể chiếm lĩnh kiến thức một cách thuận lợi nhất. Có
nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý lớp học: Lớp học, GV, HS…Trong đó yếu tố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status