ĐỀ TÀI Thực trạng hoạt động và các giải
pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ
quan hành chính nhà nước
Thực hiện : Nhóm sinh viên lớp Luật hành chính _thứ 7 tiết 3,4,5
MỤC LỤC
TRANG
Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
5
2. Mục đích nghiên cứu
5
3. Tình hình nghiên cứu
6 4.
Phạm vi nghiêncứu
6
5. Phương pháp nghiên cứu
6. Kết cấu đề tài
6
6
4.3. UBND các cấp
13
4.3.1. UBND cấp tỉnh
13
4.3.2. UBND câp huyện
13
4.3.3 UBND cấp xã
14
1
Chương2:Thực trạng hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước hiện nay.
14
2.1. Những thành tựu đã đạt được
15
2.2. Hạn chế của nền hành chính hiện nay
23
2.3. Một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của bộ máy hành
BMHCNN
Uỷ ban nhân dân
Cơ quan hành chính nhà nước
Bộ máy hành chính nhà nước
2
ĐỀ TÀI Thực trạng hoạt động và các giải
pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ
máy hành chính nhà nước
Phần mở đầu
1.Lí do chọn đề tài
Bộ máy hành chính nhà nước là một bộ phận quan trọng cấu thành
nên bộ máy nhà nước được thành lập theo Hiến pháp và pháp luật để thực
hiện quyền lực nhà nước có chức năng quản lí hành chính nhà nước trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Kể từ khi đất nước ta bước vào thời
kì đổi mới đến nay bộ máy hành chính nhà nước đã có rất nhiều cải cách
tiên bộ nhằm làm cho bộ máy hoạt động hiệu quả hơn và bước đầu đã có
những sự chuyển biến tích cực trên tất cả các mặt, tuy nhiên bên cạnh
những mặt tích cực thì bộ máy hành chính nhà nước vẫn còn tồn tại những
khó khăn khuyết điểm cần phải được giải quyết trong thời gian tới bài viết
của chúng tôi với mong muốn đem lại cho người đọc một cái nhìn tổng quát
về thực trạng hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước hiện nay qua đó
đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực hiệu quả hoạt động của bộ máy
hành chính nhà nước trong thời gian tới. Trong quá trình hoàn thành bài
3
4.Phạm vi nghiêncứu :
Phạm vi nghiên cứu nằm trong bộ máy hành chính nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm Chính phủ; các bộ, cơ quan ngang
bộ; và Uỷ ban nhân dân các cấp.
5.Phương pháp nghiên cứu :
Để hoàn thành bài viết này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp
như phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử,
phương pháp thống kê kết hợp với các bài giảng của giáo viên.
6 .Kết cấu đề tài :
Đề tài gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận.
Chương 2: Thực trạng hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước hiện
nay.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bộ máy nhà nước
Chương 1. Cơ sở lý luận về bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam
Bộ máy hành chính nhà nước được hình thành từ nhiều cơ quan nhà
nước từ trung ương xuống địa phương, có cơ cấu tổ chức phức tạp, phong
phú và đa dạng, mỗi cơ quan đều có vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ
riêng nhưng chúng hợp thành một thể thống nhất, tổ chức và hoạt động
theo những nguyên tắc chung và nhằm đạt được những mục tiêu thống
nhất đặt ra trước nhà nước.
1.Khái niệm về bộ máy hành chính nhà nước
Bộ máy hành chính nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước có tư
cách pháp nhân công quyền do cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp lập
5
bộ phận,có cơ cấu thứ bậc chặt chẽ, hợp lý, có mục tiêu chung, có cơ chế
thông tin và phối hợp, có quan hệ giao tiếp. Có văn hóa tổ chức, được mô tả
như một tập hợp chung các thông lệ, hệ thống giá trị, quy chuẩn hành vi
ứng xử và cách kinh doanh riêng của từng tổ chức. Những mặt này sẽ quy
định mô hình hoạt động riêng của từng tổ chức và cách ứng xử của các
thành viên trong tổ chức. Có các mô hình văn hóa tổ chức, văn hóa tổ chức
quyền lực mang tính áp đặt, cưỡng chế nhiều hơn văn hóa tổ chức nhiệm
vụ là việc hoàn thành nhiệm vụ được giao, đây là sự phân công, phân
nhiệm, văn hóa tổ chức gương mẫu là mọi người gương mẫu thực hiện, từ
lãnh đạo đến từng thành viên tổ chức, văn hóa tổ chức khuyến khích chấp
nhận rủi ro trong công việc, văn hóa đề cao vai trò cá nhân, văn hóa đề cao
vai trò tập thể.
Hai là, bộ máy hành chính nhà nước thực hiện chức năng chấp hành và
điều hành (quyền hành pháp); đây là phương diện hoạt động chủ yếu của
bộ máy hành chính nhà nước. Chức năng chấp hành có nghĩa là bộ máy
hành chính nhà nước chỉ tiến hành các hoạt động để chấp hành Hiến pháp,
luật, pháp lệnh, nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước. Chức năng
điều hành được thể hiện trong việc bộ máy hành chính nhà nước có thẩm
quyền tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội. Trong quá trình
đó, bộ máy hành chính không chỉ tự mình thực hiện pháp luật mà quan
trọng hơn cả là đảm nhận chức năng chỉ đạo, vận hành hoạt động của các
cơ quan, đơn vị trực thuộc theo một quy trình thống nhất; tổ chức để mọi
đối tượng có liên quan thực hiện pháp luật nhằm hiện thực hóa các quyền
và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ quản lý. Chức năng chấp hành và
điều hành trong bộ máy hành chính nhà nước luôn đan xen, song song tồn
tại, tạo nên sự đặc thù của hoạt động quản lý hành chính nhà nước, nhờ đó
có thể phân biệt với hoạt động lập pháp và tư pháp.
Thứ ba, bộ máy hành chính nhà nước được tổ chức thống nhất, do cơ
quan quyền lực nhà nước cùng cấp lập ra theo nguyên tắc “song trùng trực
tục, hằng ngày nhằm mục tiêu đưa quan điểm, chính sách của Đảng và
pháp luật của nhà nước vào cuộc sống của công dân và tổ chức đáp ứng sự
8
vận động không ngừng của đời sống xã hội. Chính điểm đặc thù này được
coi là một cơ sở quan trọng trong việc xác lập quy định về tổ chức và hoạt
động, quy chế công chức, công vụ của bộ máy hành chính nhà nước.
3. Cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính nhà nước hiện nay
Cơ cấu tổ chức của BMHCNN hiện nay gồm có:
a. Chính phủ
b. Các bộ, cơ quan ngang bộ
Theo nhiệm kì của Quốc hội khóa XIII nhiệm kì 2013- 2017 nước ta 18 Bộ
bao gồm:
Bộ Công an,
Bộ Công thương,
Bộ Giáo dục và Đào tạo,
Bộ Giao thông vận tải,
Bộ Kế hoạch và đầu tư,
Bộ Khoa học và Công nghệ,
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,
Bộ Ngoại giao,
Bộ Nội vụ,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,
Bộ Quốc phòng,
Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường,
Bộ Thông tin và Truyền thông,
Bộ Tư pháp,
Bộ Văn hóa - Thể thao và du lịch,
đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền
làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo
đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.”
4.2. Các bộ và cơ quan ngang bộ
Bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan của Chính phủ có chức năng chủ yếu là
quản lí nhà nước về ngành hoặc lĩnh vực chuyên môn. Theo quy định tại
điều 22 luật tổ chức Chính phủ 2001 thì “Bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan
của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành hoặc
lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ
công thuộc ngành, lĩnh vực; thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của
nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước theo quy định của pháp luật.”
4.3 Chức năng của UBND các cấp
10
Tại điều 2 luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm
2003 quy định chức năng của UBND như sau ”Uỷ ban nhân dân do Hội
đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân
dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên.
Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các
văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân
dân cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển
kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách
khác trên địa bàn”.
4.3.1 Chức năng của ủy ban nhân dân cấp tỉnh
UBND tỉnh là cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở
địa phương thực hiện chức năng quản lí hành chính nhà nước theo lãnh thổ
địa giới hành chính tỉnh đối với mọi ngành, mọi lĩnh vực thuộc địa hương
mình , bảo đảm việc thi hành văn bản pháp luật của cơ quan hành chính
cương và trật tự, an toàn xã hội.”
Như vậy đại hội đã đề ra yêu cầu khách quan cấp bách là phải đổi mới
tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước , để xác định được nội dung đổi
mới tổ chức của bộ máy nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở cửa hội nhập kinh tế với
nước ngoài thì trước hết chúng ta phải đôi mới nền hành chính quốc gia.
Đây là nội dung hết sức quan trọng trong nghị quyết của Dảng từ Đại hội
đảng lần thứ VI đến đại hội đảng lần thứ X được đưa ra và xem đây là kim
chỉ nam cho các cơ quan nha nước trong tiến trình đổi mới nội dung này
cũng được xem là một trong năm chủ trương lớn của đảng trong quá trình
12
lãnh đạo nhà nước và xã hội. Nội dung của cải cách hành chính bao gồm,
cải cách thể chế hành chính , cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà
nước, xây dựng và nâng cao đội ngũ các cán bộ công chức viên chức , cải
cách nền tài chính công
2.1 Những thành tựu đã đạt được
Cải cách bộ máy hành chính là khâu quan trọng trong cải cách nền hành
chính quốc gia , trong thời gian qua chúng ta đã đạt dược một số thành tựu
quan trọng trong cải cách như :
-Bước đầu đã có sự phân biệt giữa quản lí nhà nước và quản lí sản xuất
kinh doanh
-Cơ cấu bộ máy cơ quan hành chính nhà nước bắt đầu tinh giảm trên
cơ sở sát nhập một số cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên
môn ở trung ương và địa hương
+.Về cơ cấu ở trung ương
Cải cách tổ chức bộ máy Chính phủ
Trên cơ sở rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ,
các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ để sắp xếp, kiện toàn
vẫn trôi chảy, có hiệu quả.
* Điểm nhấn mạnh về sắp xếp, kiện toàn các bộ, cơ quan ngang bộ,cơ
quan thuộc Chính phủ mang tính cải cách như sau:
Thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường trên cơ sở tổ chức lại Tổng cục
Địa chính, Tổng cục Khí tượng thuỷ văn và điều chuyển chức năng quản lý
về môi trường từ Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường sang Bộ Tài
nguyên và Môi trường quản lý; điều chuyển chức năng quản lý về tài
nguyên nước từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; điều chuyển chức
năng và tổ chức quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản từ Bộ Công
nghiệp sang Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý.
Thành lập Bộ Bưu chính, Viễn thông trên cơ sở nâng cấp và tổ chức lại
Tổng cục Bưu điện; điều chuyển chức năng quản lý về công nghệ thông tin
14
từ Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường sang Bộ Bưu chính, Viễn thông
quản lý.
Thành lập Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em trên cơ sở hợp nhất và tổ
chức lại Uỷ ban Quốc gia Dân số và Kế hoạch hoá gia đình, Uỷ ban Chăm
sóc và Bảo vệ trẻ em Việt Nam; giao thêm chức năng quản lý nhà nước về
gia đình cho Uỷ ban này quản lý để tạo sự liên thông giữa các lĩnh vực nêu
trên vào một cơ quan của Chính phủ thực hiện và chịu trách nhiệm.
Đổi tên Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ thành Bộ Nội vụ; chuyển Học
viện Hành chính Quốc gia vào Bộ Nội vụ quản lý.
Đổi tên Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thành Bộ Khoa học và
Công nghệ (sau khi chuyển chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi
trường sang Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý).
Đổi tên Uỷ ban Dân tộc và Miền núi thành Uỷ ban Dân tộc (chuyển chức
năng quản lý về miền núi cho các bộ có liên quan thực hiện).
vào các bộ quản lý ngành tương ứng, để hình thành bộ quản lý đa ngành,
đa lĩnh vực với quy mô mở rộng hơn, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước đối với từng ngành, lĩnh vực trong mối quan hệ đa ngành, đa lĩnh
vực.
Cơ cấu tổ chức Chính phủ khóa XII có bước cải cách căn bản hơn trong
việc sắp xếp kiện toàn các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
đặc biệt là chuyển đổi không còn các cơ quan thuộc Chính phủ có chức
năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực. Khái quát chung, về cơ cấu tổ
chức Chính phủ khóa XII như sau:
Sắp xếp, kiện toàn các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
theo mô hình quản lý đa ngành, đa lĩnh vực với quy mô ngày càng được
hoàn thiện hợp lý hơn. Vấn đề cần nhấn mạnh ở đây là theo mục tiêu, quan
điểm cải cách nếu tổ chức nào cần thiết phải có thì vẫn thành lập, nhưng tổ
chức nào xét thấy không cần thiết thì kiên quyết điều chỉnh chức năng và
sáp nhập hoặc giải thể tổ chức. Trên cơ sở đó đã tiến hành sắp xếp, kiện
toàn tổ chức bộ máy thông qua các hình thức sau:
16
Hợp nhất, sáp nhập, tổ chức lại và giải thể một số bộ, cơ quan ngang bộ
có chức năng, nhiệm vụ và phạm vi, đối tượng quản lý giống nhau, gần
nhau, liên thông với nhau và phương thức quản lý tương tự nhau vào một
bộ để tinh gọn hợp lý bộ máy và khắc phục đáng kể sự chồng chéo, giao
thoa hoặc chưa rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, phạm vi và đối tượng
quản lý giữa các bộ, ngành với nhau; đặc biệt là sắp xếp, điều chỉnh mạnh
một số cơ quan ngang bộ theo yêu cầu giảm bớt loại hình cơ quan là ủy
ban; trong đó: giải thể ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em; hợp nhất ủy ban
Thể dục Thể thao vào Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; theo đó tổ chức lại
ủy ban Thể dục thể thao thành Tổng cục Thể dục thể thao.
Đã chuyển các cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng quản lý nhà
quan thuộc Chính phủ là đơn vị sự nghiệp chuyển sang hoạt động theo cơ
chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Về cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Cơ cấu bộ máy hành chính đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng thu gọn
các cơ quan cụ thể như sau
Tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp
huyện tương ứng với cơ cấu Chính phủ khóa XI
+. ở cấp tỉnh:
Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh được tổ chức thống nhất: 19 cơ quan
Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh được tổ chức theo đặc thù riêng của một số
địa phương: 07 cơ quan
+.ở cấp huyện:
Cơ quan chuyên môn cấp huyện được tổ chức thống nhất: 12 cơ quan
Cơ quan chuyên môn cấp huyện được tổ chức theo đặc thù riêng của
một số địa phương: 03 phòng (Phòng Dân tộc; Phòng Tôn giáo; ủy ban Dân
số, Gia đình và Trẻ em).
Tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp
huyện tương ứng với cơ cấu Chính phủ khóa XII
+.ở cấp tỉnh:
18
Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh được tổ chức thống nhất: 17 cơ quan
Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh được tổ chức theo đặc thù riêng của một số
địa phương để có thêm 03 cơ quan sau: Sở Ngoại vụ; Ban Dân tộc; Sở Quy
hoạch - Kiến trúc (đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh).
+.ở cấp huyện:
Cơ quan chuyên môn cấp huyện được tổ chức thống nhất: 10 cơ quan
Cơ quan chuyên môn được tổ chức để phù hợp với từng loại đơn vị hành
chính cấp huyện: 02 cơ quan
được nhu cầu của xã hội như Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg với Chương
trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010; Quyết
định số 181/2003/QĐ-TTg về việc ban hành quy chế thực hiện cơ chế “một
cửa” tại cơ quan nhà nước ở địa phương và gần đây nhất là Quyết định số
93/2007/QĐ-TTg về Ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa”, cơ chế
“một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương thì
thủ tục hành chính bước đầu chuyển mình theo hướng phục vụ nhân dân
giảm bớt sự phiền hà, sách nhiễu, chi phí đi lại đối với nhân dân, các công
việc của nhân dân đã được thực hiện nhanh chóng thuận tiện hơn rất nhiều
2.2. Hạn chế của nền hành chính hiện nay
Công cuộc CCHC nhà nước mặc dù đã đạt được những kết quả tiến bộ,
quan trọng, đáng ghi nhận nhưng vẫn đang còn nhiều mặt hạn chế, yếu
kém, chưa đáp ứng đòi hỏi của nhịp điệu phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước trong thời kỳ mới, những hạn chế lớn tập trung chủ yếu ở những
điểm sau:
Cho đến nay vẫn chưa tạo lập được một hệ thống thể chế đầy đủ, đồng
bộ, phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN và dân chủ hóa đời sống xã hội trong điều kiện mở cửa hội nhập
quốc tế và tiến bộ khoa học công nghệ của thế giới hiện đại. Hiện vẫn chưa
xác định được một cách đầy đủ, rõ ràng về khung khổ thể chế cần phải có
cho quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước trong điều kiện
mới. Những bổ sung, sửa đổi về mặt thể chế mặc dù rất tích cực nhưng chất
20
lượng còn nhiều hạn chế; mang tính chắp vá, thiếu đồng bộ và vẫn còn bị
ảnh hưởng bởi thể chế cũ - thể chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp.
Thủ tục hành chính tuy đã có những tiến bộ nhất định nhưng nhìn
Chiêm Hóa và Na Hang ...
Số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều mặt chưa đáp
ứng được yêu cầu đổi mới, phát triển đất nước. Công tác kiểm tra, thanh
tra công vụ và xử lý cán bộ, công chức có vi phạm pháp luật tiến hành chưa
nghiêm minh, chưa thường xuyên, thiếu khách quan, công bằng dẫn đến
kém hiệu quả, ít tính giáo dục, răn đe, làm gương…Do vậy đạo đức công
vụ, trách nhiệm của công chức chậm được nâng cao. Một bộ phận cán bộ,
công chức sa xút về phẩm chất đạo đức, tham nhũng, vô cảm, thiếu trách
nhiệm trước yêu cầu của dân, của xã hội.
Một ví dụ minh chứng cho việc này là hiện nay nước ta với dân số gần
90 triệu người nhưng số cán bộ công chức lên đến 2,8 triệu người tính ra cứ
khoảng hơn 30 người dân lại có một người , con số này cao hơn rất nhiều so
với Hoa Kỳ một quốc gia có tới 316 triệu người gấp khoảng 3,3 lần dân số
Việt Nam nhưng con số lãnh đạo chỉ bằng 1/3 so với nước ta.
Hiện nay, số lượng các thứ trưởng thuộc các bộ quá nhiều so với quy
định của Chính phủ: theo Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12
năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ
cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ, mỗi bộ, cơ quan ngang bộ không
quá 04 thứ trưởng và tương đương nhưng trong thực tế có những bộ như:
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: trước đây có 10 thứ trưởng,
nay còn 09 thứ trưởng.
- Bộ Công Thương: trước đây có 10 thứ trưởng, nay còn 09 thứ
trưởng.
Ở cấp địa phương
22
Tại nghị định Số: 107/2004/NĐ-CP quy định về số lượng cấp phó chủ
và phong cách thực thi công vụ của cán bộ, công chức mà vẫn mang nặng
dấu ấn của cơ chế cũ. Khả năng sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý
hành chính còn nhiều hạn chế làm cho năng suất lao động, hiệu quả công
tác của công chức thấp, trình độ ngoại ngữ và tin học của đội ngũ cán bộ,
công chức còn yếu kém, nhất là trước yêu cầu hội nhập quốc tế hiện nay.”(3)
2.3 Một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của bộ máy hành
chính nhà nước
Chức năng của cơ quan hành chính nhà nước là quản lí hành chính nhà
nước, là hoạt động chịu sự chi phối, tác động của rất nhiều yếu tố.Chúng có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau nên khi một nhân tố thay đổi sẽ kéo theo các
nhân tố khác thay đổi theo.Đó là các yếu tố như cơ cáu,tổ chức ,chức năng
của bộ máy hành chính nhà nước, đội ngũ cán bộ,công chức,công vụ…Chỉ
cần làm rõ sự tác động,ảnh hưởng của các nhân tố ta sẽ tìm ra nguyên
nhân và phương hướng,giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ
máy hành chính nhà nước. Các yếu tố đó được biểu hiện như sau:
Trước hết là thể chế pháp luật, đó là hành lang pháp lí để cơ quan, cán
bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ được giao,việc cụ thể hoá , xác định rõ
ràng nhiệm vụ, quyền hạn giúp họ thực hiện hiệu quả chức năng của mình.
Đối với cơ cấu, khi nói đến cơ cấu cơ bản của một cơ quan , người ta phải
xét đến những vấn đề chủ yếu như sự phân công trong nội bộ tổ chức, việc
sắp xếp các nhiệm vụ công tác cho các chức danh khác nhau,làm thế nào để
thực hiện sự điều hoà, phối hợp cần thiết nhằm đảm bảo thực hiện được
mục tiêu tổng thể của cơ quan hành chính đó nói riêng và bộmáy nói
chung. Các cấp đọ của cơ cấu tổ chức của cơ quan hành chính cũng giống
như các cơ quan khác đó là phải có 3 cấp đọ như sau:
Cấp độ cơ cấu vĩ mô: là cách sắp xếp, tổ chức vị trí, vai trò của từng cán
bộ,công,nhân,viên chức trong cơ quan.
24